1. Định nghĩa sự phân biệt đối xử chống lại phụ nữ

Theo Điều 1 của CEDAW, “phân biệt đối xử chống lại phụ nữ” được hiểu là: “...bất kỳ sự phân biệt, loại trừ hay hạn chế nào được đề ra dựa trên cơ sở giới tính, mà có tác dụng hoặc nhằm mục đích làm tổn hại hoặc vô hiệu hóa việc phụ nữ, bất kể tình trạng hôn nhân của họ như thế nào, được công nhận, thụ hưởng hay thực hiện các quyền con người và tự do cơ bản trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, dân sự hay bất kể lĩnh vực nào khác, trên cơ sở bình đẳng giữa nam giới và phụ nữ”. Như vậy, phân biệt đối xử chống lại phụ nữ là một khái niệm rất rộng. Xét về động cơ, nó bao gồm tất cả những hành động có và không có chủ đích. Xét về biểu hiện của hành vi, nó bao gồm không chỉ sự phân biệt mà còn sự loại trừ hay hạn chế phụ nữ. Xét về hậu quả, nó làm tổn hại hoặc vô hiệu hoá không chỉ sự thực hiện mà còn cả sự công nhận và sự thụ hưởng các quyền và tự do của phụ nữ. Xét về phạm vi tác động, nó có thể diễn ra trên mọi lĩnh vực, cả trong đời sống gia đình và ngoài xã hội, trong khu vực công cộng hoặc tư nhân. Xét về chủ thể của hành vi, nó có thể do mọi đối tượng gây ra, kể cả bởi bản thân phụ nữ. Liên quan đến khái niệm kể trên, cần chú ý các khía cạnh sau: Tự thân sự đối xử khác nhau không phải là sự phân biệt đối xử theo nghĩa tiêu cực, mà chỉ khi sự đối xử khác biệt đó gây tổn hại hay vô hiệu hoá các quyền con người của phụ nữ thì mới mang nghĩa tiêu cực (khía cạnh này được đề cập thêm ở phần liên quan đến Điều 4 dưới đây). Khía cạnh “hạn chế” nêu trong định nghĩa có nghĩa là sự giới hạn hoặc giảm bớt một cách tuỳ tiện, bằng pháp luật hoặc trên thực tế, các quyền và tự do của phụ nữ mà đã được luật pháp quốc tế thừa nhận (ví dụ, phụ nữ một số nước Hồi giáo chỉ được đi ra ngoài phố khi có cha, chồng, hoặc con trai đi cùng, trong khi nam giới thì không cần có ai đi kèm); trong khi đó, khía cạnh ‘loại trừ’ có nghĩa là sự phủ nhận hoàn toàn các quyền và tự do của phụ nữ (ví dụ, pháp luật một số nước không cho phép phụ nữ có quyền bầu cử và ứng cử). Thứ ba, khía cạnh “tổn hại” hàm ý những hậu quả dẫn đến sự hạn chế trong việc thực hiện, công nhận và thụ hưởng các quyền; trong khi sự “vô hiệu hoá” có nghĩa là loại bỏ hoàn toàn các quyền và tự do của phụ nữ.

2. Sự vận hành và tính hiệu quả của các cơ chế bảo vệ các quyền của phụ nữ

Khía cạnh “thực hiện” hàm ý năng lực lựa chọn và hành động của bản thân phụ nữ, cũng như sự vận hành và tính hiệu quả của các cơ chế bảo vệ các quyền của phụ nữ; trong khi đó, khía cạnh “công nhận” nói đến mức độ nhận thức và tôn trọng các quyền của phụ nữ trong xã hội, còn khía cạnh “thụ hưởng” đề cập mức độ bảo đảm các quyền và tự do cơ bản của phụ nữ trên thực tế. Tính chủ đích của hành vi dẫn tới sự phân biệt đối xử với phụ nữ một cách trực tiếp, thể hiện ở những hành động được dự liệu với những mục tiêu hướng tới rõ ràng (ví dụ, luật pháp một số nước chỉ thừa nhận quyền thừa kế tài sản của cha mẹ của con trai). Trong khi tính không chủ đích của hành vi dẫn tới sự phân biệt đối xử với phụ nữ một cách gián tiếp, thể hiện ở những hành động xuất phát từ nhận thức sai lầm về bình đẳng giới, khiến phụ nữ không thể tiếp cận với cơ hội một cách bình đẳng với đàn ông (ví dụ, quy định điều kiện để một người được vay vốn ngân hàng là phải đứng tên chủ gia đình, trong khi trên thực tế ở nhiều xã hội, chỉ có người chồng mới được giữ vị trí này). Cũng liên quan đến khái niệm phân biệt đối xử với phụ nữ, trong Bình luận chung số 16 (đã nêu trên) của Ủy ban về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa phân biệt giữa sự phân biệt đối xử trực tiếp và sự phân biệt đối xử gián tiếp với phụ nữ, theo đó, sự phân biệt đối xử trực tiếp thể hiện ở sự đối xử khác biệt trực tiếp và công khai với phụ nữ vì lý do giới tính mà không dựa trên những cơ sở hợp lý khách quan (đoạn 12), còn sự phân biệt đối xử gián tiếp thể hiện ở hệ quả mang tính phân biệt đối xử với phụ nữ xảy ra trong quá trình thực thi pháp luật, chính sách, mặc dù về mặt hình thức các quy định pháp luật, chính sách đó không thể hiện sự phân biệt đối xử, ví dụ như việc phụ nữ rơi vào hoàn cảnh bất lợi về cơ hội so với đàn ông khi thực hiện một quy định pháp luật hoặc chính sách nhất định (đoạn 13).

3. Nghĩa vụ quốc gia

Theo Điều 2 và 3 CEDAW, để loại trừ mọi sự phân biệt đối xử chống lại phụ nữ, các quốc gia có những nghĩa vụ cơ bản sau: - Quy định nguyên tắc bình đẳng nam nữ trong Hiến pháp, pháp luật quốc gia và bảo đảm thực hiện các nguyên tắc này trên thực tế; - Ngăn chặn các hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ bằng mọi biện pháp, kể cả bằng chế tài hình sự; - Thiết lập các cơ chế pháp lý để giúp phụ nữ bảo vệ các quyền bình đẳng của họ; - Bảo đảm rằng hoạt động của các cơ quan nhà nước ở các cấp không có tính chất phân biệt đối xử chống lại phụ nữ; - Thực thi tất cả các biện pháp thích hợp để xóa bỏ những hành động phân biệt đối xử với phụ nữ của bất kỳ chủ thể phi nhà nước nào, bất kể đó là cá nhân, tổ chức hay doanh nghiệp. - Điều chỉnh, xoá bỏ những quy định pháp luật, các phong tục, tập quán có tính chất phân biệt đối xử chống lại phụ nữ. Như vậy, nghĩa vụ quốc gia trong việc loại trừ mọi sự phân biệt đối xử chống lại phụ nữ bao gồm những biện pháp toàn diện, cả về pháp lý, chính trị, kinh tế, văn hoá và xã hội, tác động đến cả đời sống công cộng lẫn gia đình. Nhà nước có nghĩa vụ xóa bỏ những hành động phân biệt đối xử với phụ nữ do bất kỳ chủ thể nhà nước hay phi nhà nước nào thực hiện, chẳng hạn như các cơ quan nhà nước, những người sử dụng lao động hay các thành viên trong gia đình. Những biện pháp này không chỉ nhằm mục đích ngăn cấm, trừng phạt các hành vi phân biệt đối xử với phụ nữ, mà còn nhằm tạo điều kiện cho phụ nữ có thể tham gia chống lại các hình thức phân biệt đối xử với họ. Liên quan đến nghĩa vụ quốc gia trong việc xóa bỏ sự phân biệt đối xử với phụ nữ trong việc hưởng thụ các quyền con người, Ủy ban quyền con người (UNHRC - cơ quan giám sát thực hiện ICCPR), trong Bình luận chung số 4 thông qua tại phiên họp lần thứ 13 năm 1981 của Ủy ban (về quyền bình đẳng của nam và nữ trong việc hưởng thụ tất cả các quyền dân sự, chính trị nêu ở Điều 3 ICPCR)154 đã nêu rõ, trong vấn đề này, nghĩa vụ của các quốc gia thành viên cũng bao gồm ba khía cạnh: Nghĩa vụ tôn trọng, nghĩa vụ bảo vệ và nghĩa vụ thực hiện các quyền con người của phụ nữ. Trong Bình luận chung số 16 ( đã nêu trên) Ủy ban về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa cũng khẳng định tương tự (đoạn 17), đồng thời, nêu ra những hướng dẫn chi tiết với các quốc gia thành viên trong việc thực hiện các nghĩa vụ đó.

4. Các biện pháp đặc biệt tạm thời

Điều 4 CEDAW cho phép các quốc gia thành viên có thể áp dụng những ưu đãi với phụ nữ (hay còn được gọi là các biện pháp đặc biệt tạm thời (temporary special measures) để thúc đẩy nhanh sự bình đẳng trên thực tế giữa nam và nữ mà không bị coi là phân biệt đối xử với nam giới. Những biện pháp đặc biệt tạm thời có thể bao gồm việc dành một số lượng ghế hay vị trí nhất định cho phụ nữ trong những cơ quan, tổ chức hoạt động trong những lĩnh vực mà thường do nam giới đảm nhiệm, hay dành ưu tiên cho phụ nữ khi tuyển dụng trong những trường hợp có hai ứng cử viên nam và nữ với trình độ chuyên môn ngang nhau. Về vấn đề này, trong Khuyến nghị chung số 52 thông qua tại kỳ họp lần thứ 7 năm 1988 và Khuyến nghị chung số 25 thông qua tại kỳ họp lần thứ 13 năm 2004, Uỷ ban giám sát thực hiện CEDAW ( Ủy ban CEDAW) đã khuyến nghị các quốc gia thành viên cần tăng cường áp dụng các biện pháp đặc biệt tạm thời để thúc đẩy sự bình đẳng của phụ nữ trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, giáo dục và việc làm. Theo Ủy ban, những biện pháp đặc biệt tạm thời cần được áp dụng kể cả khi quốc gia thành viên đã đạt được những thành tựu trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về bình đẳng nam nữ. Tuy nhiên, theo quy định tại Khoản 1 Điều 4 CEDAW, có một điều kiện với việc áp dụng các biện pháp đặc biệt tạm thời, đó là những biện pháp đó phải được chấm dứt ngay khi mục tiêu bình đẳng nam nữ đã đạt được. Điều này đơn giản là để tránh sự phân biệt đối xử ngược lại với nam giới. Phù hợp với quy định này, Ủy ban CEDAW, trong Khuyến nghị chung số 25 đã nêu rõ rằng, việc áp dụng các biện pháp đặc biệt tạm thời không bị coi là phân biệt đối xử như quy định trong Công ước, tuy nhiên, cũng không được dẫn đến việc duy trì những tiêu chuẩn hay đối xử khác nhau một cách bất hợp lý giữa phụ n ữ và nam giới ( đoạn 14).

5. Các biện pháp đặc biệt tạm thời phải chấm dứt ngay khi mục tiêu bình đẳng nam nữ

Mặc dù theo Khoản 1 Điều 4, các biện pháp đặc biệt tạm thời phải chấm dứt ngay khi mục tiêu bình đẳng nam nữ đã đạt được, nhưng có một ngoại lệ đó là theo Khoản 2 Điều 4, các biện pháp ưu tiên nhằm bảo vệ thiên chức làm mẹ của phụ nữ thì có thể áp dụng liên tục mà không bị coi là phân biệt đối xử với nam giới. Trong Khuyến nghị chung số 25, Ủy ban CEDAW đã giải thích sự khác nhau giữa quy định của Khoản 1 và Khoản 2 Điều 4, theo đó, quy định ở Khoản 1 xuất phát từ thực tế bất bình đẳng với phụ nữ trong xã hội và nhằm mục đích thúc đẩy việc xóa bỏ thực tế xã hội đó, vì vậy, nên các biện pháp áp dụng có tính chất tạm thời. Trong khi quy định tại Khoản 2 xuất phát từ sự khác biệt mang tính đặc trưng, cố định về sinh học giữa hai giới, do đó, việc áp dụng các biện pháp ưu tiên với phụ nữ liên quan đến chức năng làm mẹ cần mang tính chất lâu dài (các đoạn 15 và 16). Xét chung, cơ sở lý luận của Điều 4, như đã phần nào đề cập ở phần trên, là bình đẳng và không phân biệt đối xử không có nghĩa là phải đối xử như nhau với mọi người trong mọi trường hợp. Nói cách khác, sự đối xử phân biệt không phải lúc nào cũng mang tính tiêu cực và cần phải loại bỏ, mà trong một số hoàn cảnh, nó mang tính tích cực (positive discrimination) và cần phải vận dụng, để bảo đảm sự bình đẳng thực chất, chứ không phải bình đẳng một cách hình thức. Thông thường, sự phân biệt đối xử tích cực (cụ thể như các biện pháp đặc biệt tạm thời), được áp dụng khi các đối tượng tác động khác nhau về mức độ năng lực hành vi về quyền con người, nhằm mục đích đặt các đối tượng tác động vào một điểm xuất phát ngang bằng, bởi lẽ, trong trường hợp có sự khác nhau về năng lực hành vi, việc đối xử như nhau với tất cả mọi người trên thực tế là sự phân biệt đối xử với những đối tượng yếu thế hơn.