1. Trường hợp nào thì xử lý tài sản đảm bảo?
Theo Điều 299 Bộ luật dân sự 2013 thì các trường hợp xử lí tài sản đảm bảo bao gồm:
Điều 299. Các trường hợp xử lý tài sản bảo đảm
1. Đến hạn thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ.
2. Bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm trước thời hạn do vi phạm nghĩa vụ theo thỏa thuận hoặc theo quy định của luật.
3. Trường hợp khác do các bên thỏa thuận hoặc luật có quy định.
- Khi nghĩa vụ đến thời hạn thực hiện mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ của mình mà việc không thực hiện, thực hiện không đúng này không thuộc trường hợp bất khả kháng hay nói cách khác, bên vi phạm không được miễn trách nhiệm dân sự. Thì bên nhận bảo đảm có quyền xử lý tài sản bảo đảm.
Thông thường xử lý tài sản bảo đảm sẽ thực hiện khi hết hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ, thì bên có quyền sẽ xử lý tài sản bảo đảm. Tuy nhiên các bên có thể thỏa thuận nếu bên có nghĩa vụ vi phạm hợp đồng thì bên có quyền sẽ xử lý tài sản bảo đảm. Ngoài ra, tài sản bảo đảm có thể được xử lý khi có các căn cứ khác theo quy định của luật, ví dụ như: trường hợp xử lý tài sản bảo đảm theo quy định của khoản 3 Điều 296 Bộ luật dân sự năm 2015:
Trường hợp phải xử lý tài sản để thực hiện một nghĩa vụ đến hạn thì các nghĩa vụ khác tuy chưa đến hạn đều được coi là đến hạn và tất cả các bên cùng nhận bảo đảm đều được tham gia xử lý tài sản. Bên nhận bảo đảm đã thông báo về việc xử lý tài sản có trách nhiệm xử lý tài sản, nếu các bên cùng nhận bảo đảm không có thỏa thuận khác.
Trường hợp các bên muốn tiếp tục thực hiện các nghĩa vụ chưa đến hạn thì có thể thỏa thuận về việc bên bảo đảm dùng tài sản khác để bảo đảm việc thực hiện các nghĩa vụ chưa đến hạn.
Hay xử lý tài sản bảo đảm theo Điều 90 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014:
Điều 90. Kê biên, xử lý tài sản đang cầm cố, thế chấp
1. Trường hợp người phải thi hành án không còn tài sản nào khác hoặc có tài sản nhưng không đủ để thi hành án, Chấp hành viên có quyền kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án đang cầm cố, thế chấp nếu giá trị của tài sản đó lớn hơn nghĩa vụ được bảo đảm và chi phí cưỡng chế thi hành án.
2. Khi kê biên tài sản đang cầm cố, thế chấp, Chấp hành viên phải thông báo ngay cho người nhận cầm cố, nhận thế chấp; khi xử lý tài sản kê biên, người nhận cầm cố, nhận thế chấp được ưu tiên thanh toán theo quy định tại khoản 3 Điều 47 của Luật này.
- Khi tham gia quan hệ hợp đồng hoặc trong thời hạn thực hiện hợp đồng, các bên có thể thỏa thuận về thực hiện nghĩa vụ trước thời hạn, như hợp đồng vay có thời hạn và các bên có thỏa thuận thực hiện nghĩa vụ trả nợ trước kỳ hạn mà không phải trả toàn bộ lãi cho cả thời hạn vay. Tuy nhiên, khi bên cho vay yêu cầu trả nợ, nhưng bên vay không trả nợ hoặc trả một phần, thì bên cho vay có quyền xử lý tài sản bảo đảm.
- Trường hợp luật có quy định phải thực hiện trước nghĩa vụ mà bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ như thu hồi tài sản của bên nhận bảo đảm để thi hành án hoặc xử lý tài sản trong trường hợp doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản. Trường hợp tài sản cầm cố, thế chấp bị bán đấu giá thi hành án dân sự thì bên nhận thế chấp cầm cố có quyền ưu tiên, sau đó thanh toán cho các khoản phải thi hành án theo Luật thi hành án dân sự.
2. Các phương thức xử lý tài sản cầm cố, thế chấp
Theo quy đinh tại Điều 303 Bộ luật dân sự 2015:
1. Bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm có quyền thỏa thuận một trong các phương thức xử lý tài sản cầm cố, thế chấp sau đây:
a) Bán đấu giá tài sản;
b) Bên nhận bảo đảm tự bán tài sản;
c) Bên nhận bảo đảm nhận chính tài sản để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm;
d) Phương thức khác.
2. Trường hợp không có thỏa thuận về phương thức xử lý tài sản bảo đảm theo quy định tại khoản 1 Điều này thì tài sản được bán đấu giá, trừ trường hợp luật có quy định khác.
Như vậy, các phương thức xử lí tài sản đảm bảo có thể là bán đấu giá tài sản, bên nhân đảm bảo tự bán tài sản, bên nhận đảm bảo nhận chính tài sản để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ. Bên đảm bảo và bên nhân đảm bảo có quyền thỏa thuận phương thức xử lí tài sản. Nếu hai bên không có thỏa thuận thì biện pháp bán đấu giá tài sản sẽ được áp dụng.
3. Phương thức bán đấu giá tài sản cầm cố, thế chấp
Bán đấu giá là phương thức mua bán khách quan do pháp luật quy định tạo điều kiện cho bán tài sản với giá cao nhất. Khi xác lập biện pháp bảo đảm các bên có thể thỏa thuận về bán đấu giá tài sản bảo đảm tại tổ chức bán đấu giá để thanh toán nghĩa vụ.
Theo Điều 4 Luật đấu giá tài sản 2016 thì tài sản đấu giá gồm:
Điều 4. Tài sản đấu giá
1. Tài sản mà pháp luật quy định phải bán thông qua đấu giá, bao gồm:....
c) Tài sản là quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai;
d) Tài sản bảo đảm theo quy định của pháp luật về giao dịch bảo đảm;....
Theo Điều 304 Bộ luật dân sự 2015:
Điều 304. Bán tài sản cầm cố, thế chấp
1. Việc bán đấu giá tài sản cầm cố, thế chấp được thực hiện theo quy định của pháp luật về bán đấu giá tài sản.
2. Việc tự bán tài sản cầm cố, thế chấp của bên nhận bảo đảm được thực hiện theo quy định về bán tài sản trong Bộ luật này và quy định sau đây:
a) Việc thanh toán số tiền có được từ việc xử lý tài sản được thực hiện theo quy định tại Điều 307 của Bộ luật này;
b) Sau khi có kết quả bán tài sản thì chủ sở hữu tài sản và bên có quyền xử lý tài sản phải thực hiện các thủ tục theo quy định của pháp luật để chuyển quyền sở hữu tài sản cho bên mua tài sản.
Khi lựa chọn biện pháp bảo đảm các bên có thỏa thuận về bên nhận bảo đảm có quyền bán đấu giá tài sản bảo đảm, nếu bên bảo đảm vi phạm nghĩa vụ, thì bên nhận bảo đảm có quyền ký hợp đồng bán đẩu giá với tổ chức bán đấu giá để thu hồi nợ hoặc bảo đảm các lợi ích khác. Hoặc việc bán đấu giá được thực hiện theo qui định của pháp luật về bán đấu giá.
Việc tự bán tài sản bảo đảm được thực hiện trong trường hợp các bên có thỏa thuận và thực hiện theo qui định về hợp đồng mua bán tài sản được quy đinh tại Điều 430 đến Điều 449 Bộ luật dân sự. Số tiền thu được từ việc bán tài sản bảo đảm được xử lý theo quy định tại Điều 307 Bộ luật dân sự. Trường hợp, tài sản phải đăng ký quyền sở hữu, thì bên nhận bảo đảm phải làm các thủ tục chuyển quyền sở hữu cho bên mua như hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế thu nhập, hoặc các loại thuế khác....
4. Phương thực nhận tài sản đảm bảo để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ
Điều 305 Bộ luật dân sự 2015 quy định về các nguyên tắc chung khi thực hiện phương thức nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm như sau:
Điều 305. Nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm
1. Bên nhận bảo đảm được quyền nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm nếu có thỏa thuận khi xác lập giao dịch bảo đảm.
2. Trường hợp không có thỏa thuận theo quy định tại khoản 1 Điều này thì bên nhận bảo đảm chỉ được nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ khi bên bảo đảm đồng ý bằng văn bản.
3. Trường hợp giá trị của tài sản bảo đảm lớn hơn giá trị của nghĩa vụ được bảo đảm thì bên nhận bảo đảm phải thanh toán số tiền chênh lệch đó cho bên bảo đảm; trường hợp giá trị tài sản bảo đảm nhỏ hơn giá trị của nghĩa vụ được bảo đảm thì phần nghĩa vụ chưa được thanh toán trở thành nghĩa vụ không có bảo đảm.
4. Bên bảo đảm có nghĩa vụ thực hiện các thủ tục chuyển quyền sở hữu tài sản cho bên nhận bảo đảm theo quy định của pháp luật.
Như vậy, việc nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ chỉ được thực hiện khi có sự thỏa thuận của các bên (bên bảo đảm, bên nhận bảo đảm) tại thời điểm xác lập hợp đồng bảo đảm. Trường hợp không có thỏa thuận tại thời điểm xác lập hợp đồng bảo đảm, thì bên nhận bảo đảm chỉ được nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ khi có sự đồng ý bằng văn bản của bên bảo đảm.
Trường hợp có sự chênh lệch về giá trị nghĩa vụ được bảo đảm và giá trị tài sản bảo đảm thì giải quyết như sau: Nếu giá trị của tài sản bảo đảm lớn hơn giá trị của nghĩa vụ được bảo đảm thì bên nhận bảo đảm phải thanh toán số tiền chênh lệch đó cho bên bảo đảm; trường hợp giá trị tài sản bảo đảm nhỏ hơn giá trị của nghĩa vụ được bảo đảm thì phần nghĩa vụ chưa được thanh toán trở thành nghĩa vụ không có bảo đảm.
Bên bảo đảm có nghĩa vụ thực hiện các thủ tục chuyển quyền sở hữu tài sản cho bên nhận bảo đảm theo quy định của pháp luật.
5. Thanh toán số tiền có được từ việc xử lí tài sản đảm bảo
Theo quy định của Điều 307 Bộ luật dân sự 2015 các khoản chi phí sau đây được ưu tiên thanh toán: chi phí bảo quản, thu giữ và xử lý tài sản cầm cố, thế chấp. Việc Bộ luật dân sự năm 2015 ưu tiên thanh toán các khoản chi phí nói trên là hợp lý vì đây là khoản chi phí giúp bên nhận bảo đảm có được tài sản để xử lý.
Điều 307 Bộ luật dân sự 2015 còn quy định về nguyên tắc thanh toán số tiền có được từ việc xử lý tài sản cầm cố, thế chấp trong trường hợp có sự chênh lệch giữa giá trị tài sản cầm cố, thế chấp với giá trị nghĩa vụ được bảo đảm (giá trị tài sản cầm cố, thế chấp lớn hơn hoặc nhỏ hơn giá trị nghĩa vụ được bảo đảm), làm căn cứ để thực hiện việc thanh toán giá trị nghĩa vụ khi xử lý tài sản cầm cố, thế chấp.
Theo đó, trường hợp số tiền có được từ việc xử lý tài sản cầm cố, thế chấp lớn hơn giá trị nghĩa vụ được bảo đảm thì số tiền chênh lệch phải được trả cho bên bảo đảm. Ngược lại, trường hợp số tiền có được từ việc xử lý tài sản cầm cố, thế chấp nhỏ hơn giá trị nghĩa vụ được bảo đảm thì phần nghĩa vụ chưa được thanh toán được xác định là nghĩa vụ không có bảo đảm, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận bổ sung tài sản bảo đảm. Bên nhận bảo đảm có quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ được bảo đảm phải thực hiện phần nghĩa vụ chưa được thanh toán. Quy định này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc xác định chủ thể bị yêu cầu (bị khởi kiện) thực hiện tiếp phần nghĩa vụ chưa được thanh toán do giá trị tài sản cầm cố, thế chấp không đủ để thanh toán giá trị nghĩa vụ, đó là bên có nghĩa vụ được bảo đảm chứ không phải bên cầm cố, bên thế chấp. Theo đó, bên cầm cố, bên thế chấp chỉ chịu trách nhiệm trong phạm vi giá trị tài sản cầm cố, tài sản thế chấp. Nếu giá trị tài sản cầm cố, tài sản thế chấp không đủ thanh toán giá trị nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ được bảo đảm thì bên cầm cố, bên thế chấp không có nghĩa vụ thanh toán phần còn lại, mà nghĩa vụ này thuộc về bên có nghĩa vụ được bảo đảm.
Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Trân trọng./.