1. Hiểu thế nào về bao thanh toán?
Bao thanh toán là một khái niệm quan trọng trong lĩnh vực tài chính và ngân hàng, được định nghĩa chi tiết trong Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 với sự điều chỉnh và bổ sung từ sửa đổi năm 2017. Theo khoản 17, Điều 4 của luật này, bao thanh toán đề cập đến một hình thức cấp tín dụng chuyên dành cho bên bán hàng hoặc bên mua hàng thông qua một giao dịch mua lại, với việc giữ lại quyền truy đòi các khoản phải thu hoặc các khoản phải trả phát sinh từ quá trình mua bán hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ theo các hợp đồng mua, bán hàng hoá, hoặc cung ứng dịch vụ.
Trong bối cảnh này, nguyên tắc cơ bản của bao thanh toán là sự chấp nhận một khoản nợ được tạo ra thông qua giao dịch mua lại. Bên mua hàng hoặc bán hàng có thể nhận được một khoản vay, được gọi là bao thanh toán, từ tổ chức tín dụng. Trong khi đó, bảo lưu quyền truy đòi cho phép tổ chức tín dụng giữ lại quyền đòi nợ từ bên bán hàng hoặc bên mua hàng, nhằm đảm bảo an toàn tín dụng và quản lý rủi ro tài chính.
Bao thanh toán thường xuất hiện trong ngữ cảnh giao dịch thương mại quốc tế, nơi các doanh nghiệp có thể sử dụng nó để tối ưu hóa nguồn vốn và giảm thiểu rủi ro tín dụng. Việc áp dụng bao thanh toán có thể hỗ trợ việc mở rộng kinh doanh, nâng cao hiệu suất tài chính và tạo điều kiện thuận lợi cho các bên tham gia trong chuỗi cung ứng.
Tổng cộng, bao thanh toán là một công cụ quan trọng trong quản lý tài chính doanh nghiệp và đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy giao thương quốc tế và phát triển kinh tế toàn cầu
2. Mức phạt hành vi bao thanh toán khi không được bao thanh toán
Theo quy định tại Điều 11 của Thông tư 02/2017/TT-NHNN và Điều 14 Nghị định 88/2019/NĐ-CP, tổ chức tín dụng đối diện với việc bao thanh toán không đúng theo quy định có thể bị xử phạt một khoản tiền cụ thể, đồng thời chịu các biện pháp khắc phục hậu quả. Mức xử phạt được quy định chi tiết như sau:
Mức xử phạt: Vi phạm quy định về cấp tín dụng: Trong trường hợp bao thanh toán đối với một hoặc một số trường hợp không được bao thanh toán theo quy định của pháp luật, tổ chức tín dụng có thể bị phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.
Mức phạt tiền áp dụng đối với tổ chức: Mức phạt tiền áp dụng đối với tổ chức là mức phạt tiền đối với cá nhân nhân lên đến 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân. Từ đây, mức phạt tiền có thể là từ 80.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng.
Biện pháp khắc phục hậu quả:
- Đối với cá nhân vi phạm: Đề nghị hoặc yêu cầu cấp có thẩm quyền xem xét, áp dụng biện pháp đình chỉ từ 01 tháng đến 03 tháng hoặc miễn nhiệm chức danh quản trị, điều hành, kiểm soát; Không cho đảm nhiệm chức vụ quản trị, điều hành, kiểm soát tại các tổ chức tín dụng.
- Đối với tổ chức tín dụng: Yêu cầu tổ chức tín dụng cách chức và thực hiện các biện pháp xử lý khác theo quy định của pháp luật đối với cá nhân vi phạm thuộc thẩm quyền của tổ chức tín dụng.
Dựa trên quy định của Nghị định 88/2019/NĐ-CP và Thông tư 02/2017/TT-NHNN, việc không tuân thủ quy định về bao thanh toán có thể gây ra những hậu quả nặng nề cho tổ chức tín dụng, bao gồm mức phạt tiền và các biện pháp khắc phục hậu quả. Điều này nhấn mạnh sự quan trọng của việc duy trì và tuân thủ các quy trình và quy định liên quan đến bao thanh toán, giúp đảm bảo tính minh bạch, đáng tin cậy và ổn định trong hoạt động của tổ chức tín dụng
3. Thẩm quyền xử phạt của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã
Theo quy định tại khoản 1 Điều 55 của Nghị định 88/2019/NĐ-CP, được sửa đổi bởi khoản 43 Điều 1 của Nghị định 143/2021/NĐ-CP về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp, có rõ phân định thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng. Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp được ủy quyền thẩm quyền xử phạt đối với hành vi vi phạm hành chính theo quy định tại Chương II của Nghị định này, phụ thuộc vào thẩm quyền, chức năng, nhiệm vụ, và quyền hạn được giao.
Đối với cấp xã, theo khoản 1 Điều 54 của Nghị định 88/2019/NĐ-CP, được sửa đổi bởi khoản 35 Điều 1 của Nghị định 143/2021/NĐ-CP, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có quyền xử phạt vi phạm hành chính với các hình thức như cảnh cáo, phạt tiền có giá trị không vượt quá 5.000.000 đồng và tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính có giá trị không vượt quá 10.000.000 đồng.
Tuy nhiên, điều cần lưu ý là theo điểm d khoản 3 Điều 3 của Nghị định 88/2019/NĐ-CP, về thẩm quyền phạt tiền, mức phạt tiền và thẩm quyền phạt tiền được quy định chi tiết như sau. Mức phạt tiền cao nhất áp dụng đối với cá nhân là 5.000.000 đồng, trong khi đối với tổ chức, mức phạt tiền cao nhất là 10.000.000 đồng. Thêm vào đó, thẩm quyền phạt tiền đối với tổ chức được xác định bằng 02 lần thẩm quyền phạt tiền áp dụng đối với cá nhân.
Do đó, trong trường hợp vi phạm hành chính liên quan đến tổ chức tín dụng bao thanh toán, nếu Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định xử phạt, mức phạt tiền cao nhất sẽ là 10.000.000 đồng, không vượt quá mức quy định cho tổ chức. Tuy nhiên, điều này chỉ áp dụng khi vi phạm không được bao thanh toán không vượt quá giới hạn nêu trên
4. Thời hiệu xử phạt trường hợp không được bao thanh toán
Thời gian xử lý vi phạm hành chính đối với tổ chức tín dụng, đặc biệt là trong trường hợp không được bao thanh toán, được quy định theo điều a khoản 1 Điều 6 của Luật Xử lý Vi phạm Hành chính năm 2012, đã được sửa đổi bởi điều a khoản 4 của Điều 1 trong Luật Xử lý Vi phạm Hành chính được sửa đổi năm 2020.
Theo quy định này, thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính có quy tắc chung là 01 năm. Tuy nhiên, có một số trường hợp đặc biệt được miễn khỏi quy tắc này. Cụ thể, những vi phạm liên quan đến kế toán, hóa đơn, phí, lệ phí, kinh doanh bảo hiểm, quản lý giá, chứng khoán, sở hữu trí tuệ, xây dựng, thủy sản, lâm nghiệp, điều tra, quy hoạch, thăm dò, khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên nước, hoạt động dầu khí và hoạt động khoáng sản khác, bảo vệ môi trường, năng lượng nguyên tử, quản lý và phát triển nhà và công sở, đất đai, đê điều, báo chí, xuất bản, sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu, kinh doanh hàng hóa, sản xuất, buôn bán hàng cấm, hàng giả, quản lý lao động ngoài nước, thì thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính là 02 năm.
Đối với vi phạm hành chính liên quan đến thuế, thời hiệu xử phạt sẽ tuân theo các quy định của pháp luật về quản lý thuế. Như vậy, trong trường hợp tổ chức tín dụng liên quan đến bao thanh toán và vi phạm hành chính, thời hiệu xử phạt là 01 năm, trừ khi nằm trong các trường hợp đặc biệt được quy định khác nhau như mô tả ở trên
Đối với các hành vi vi phạm hành chính về tiền tệ và ngân hàng xảy ra trước thời điểm Nghị định này có hiệu lực, nhưng sau đó mới bị phát hiện, hoặc đang trong quá trình xem xét, giải quyết thì áp dụng các quy định có lợi cho tổ chức và cá nhân vi phạm. Điều này có nghĩa là, nếu có bất kỳ thay đổi tích cực nào trong quy định mới mà mang lại lợi ích cho bên vi phạm, thì quy định mới đó sẽ được áp dụng.
Ngoài ra, đối với các quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng đã được ban hành hoặc đã được thi hành xong trước thời điểm Nghị định này có hiệu lực, mà cá nhân hoặc tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính còn khiếu nại, thì quy định của Nghị định số 96/2014/NĐ-CP trước đây đã hết hiệu lực về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng sẽ được áp dụng để giải quyết. Điều này đảm bảo tính liên tục và tính ổn định trong quá trình xử lý các vấn đề pháp lý liên quan đến vi phạm hành chính trong lĩnh vực nói trên, giúp bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan và duy trì tính công bằng và minh bạch trong quá trình giải quyết tranh chấp.
Bài viết liên quan: Bao thanh toán là gì? Phương thức, điều kiện bao thanh toán? Hình thức và nội dung của hợp đồng bao thanh toán?
Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc email: lienhe@luatminhkhue.vn để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác.
Bộ phận tư vấn pháp luật Ngân hàng - Luật Minh Khuê