- 1. Quy định về lưu trữ, cung cấp thông tin cá nhân trên môi trường mạng
- 2. Người che giấu tên của mình khi gửi thông tin trên môi trường mạng sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính thế nào?
- 2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện có quyền xử phạt người che giấu tên của mình khi gửi thông tin trên môi trường mạng không?
- 3. Quy định về thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính đối với người che giấu tên của mình khi gửi thông tin trên môi trường mạng?
- 4. Người xâm nhập thông tin của cá nhân khác trên môi trường mạng sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính thế nào?
1. Quy định về lưu trữ, cung cấp thông tin cá nhân trên môi trường mạng
Theo quy định tại Điều 22 của Luật Công nghệ thông tin số 67/2006/QH11 ngày 29 tháng 6 năm 2006, còn được gọi là Luật Công nghệ thông tin năm 2006, việc lưu trữ và cung cấp thông tin cá nhân trên môi trường mạng trong việc ứng dụng công nghệ thông tin được quy định như sau:
+ Cá nhân có quyền yêu cầu tổ chức hoặc cá nhân lưu trữ thông tin cá nhân của mình trên môi trường mạng thực hiện việc kiểm tra, điều chỉnh hoặc hủy bỏ thông tin đó. Điều này đảm bảo rằng cá nhân có quyền kiểm soát thông tin cá nhân của mình và có thể thực hiện các biện pháp cần thiết để bảo vệ quyền và lợi ích của mình trong quá trình lưu trữ và sử dụng thông tin cá nhân trên mạng.
+ Tổ chức hoặc cá nhân không được cung cấp thông tin cá nhân của người khác cho bên thứ ba trừ khi có quy định khác trong pháp luật hoặc có sự đồng ý của người đó. Điều này nhằm bảo vệ quyền riêng tư và bí mật thông tin cá nhân của mỗi cá nhân, đồng thời đề cao trách nhiệm và tính trung thực của các tổ chức, cá nhân trong việc quản lý và chia sẻ thông tin cá nhân.
+ Cá nhân có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm trong việc cung cấp thông tin cá nhân. Điều này khẳng định rõ quyền của cá nhân trong việc bảo vệ thông tin cá nhân của mình. Trong trường hợp thông tin cá nhân bị lộ, sử dụng trái phép hoặc gây thiệt hại cho cá nhân, người đó có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại từ bên vi phạm.
Qua đó, quy định về lưu trữ và cung cấp thông tin cá nhân trên môi trường mạng trong ứng dụng công nghệ thông tin đã đảm bảo quyền riêng tư và quyền kiểm soát thông tin cá nhân của cá nhân, đồng thời tạo ra cơ chế bồi thường thiệt hại trong trường hợp vi phạm quyền riêng tư và bảo mật thông tin cá nhân.
2. Người che giấu tên của mình khi gửi thông tin trên môi trường mạng sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính thế nào?
Theo quy định tại khoản 1 Điều 77 của Nghị định 15/2020/NĐ-CP, những người che giấu tên của mình khi gửi thông tin trên môi trường mạng sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính. Đối với hành vi này, mức phạt tiền sẽ được áp dụng từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng. Điều này cũng áp dụng cho những trường hợp giả mạo tên của tổ chức hoặc cá nhân khác.
Tuy nhiên, cần lưu ý rằng theo khoản 3 Điều 4 của cùng Nghị định, mức phạt tiền đối với cá nhân và tổ chức được quy định như sau: mức phạt tiền quy định từ Chương II đến Chương VII của Nghị định này áp dụng cho hành vi vi phạm hành chính của tổ chức, ngoại trừ quy định tại Điều 106 của Nghị định này. Trường hợp cá nhân có hành vi vi phạm tương tự như của tổ chức, mức phạt tiền áp dụng sẽ chỉ bằng 1/2 mức phạt tiền đối với tổ chức.
Do đó, người che giấu tên của mình khi gửi thông tin trên môi trường mạng sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính. Mức phạt tiền cụ thể trong trường hợp này sẽ dao động từ 2.500.000 đồng đến 5.000.000 đồng.
2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện có quyền xử phạt người che giấu tên của mình khi gửi thông tin trên môi trường mạng không?
Theo quy định tại khoản 2 Điều 115 của Nghị định 15/2020/NĐ-CP, được sửa đổi bởi khoản 41 Điều 1 Nghị định 14/2022/NĐ-CP, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện được ủy quyền các quyền hạn sau đây liên quan đến xử phạt:
+ Có quyền phạt cảnh cáo;
+ Có quyền phạt tiền với mức cao nhất là 100.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực viễn thông, tần số vô tuyến điện, công nghệ thông tin, an toàn thông tin mạng; và mức cao nhất là 40.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, giao dịch điện tử;
+ Có quyền tước quyền sử dụng Giấy phép có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn;
+ Có quyền tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính;
+ Có quyền áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại các điểm a, đ, h, i và k khoản 1 Điều 28 của Luật Xử lý vi phạm hành chính.
Dựa trên quy định trên, người che giấu tên của mình khi gửi thông tin trên môi trường mạng sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính. Mức phạt tiền cao nhất áp dụng trong trường hợp này là 5.000.000 đồng. Do đó, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện có quyền xử phạt người vi phạm này theo thẩm quyền của mình.
3. Quy định về thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính đối với người che giấu tên của mình khi gửi thông tin trên môi trường mạng?
Theo quy định tại khoản 5 Điều 4 của Nghị định 15/2020/NĐ-CP, được bổ sung bởi điểm b khoản 5 Điều 1 Nghị định 14/2022/NĐ-CP, về thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính, có các quy định chi tiết như sau:
+ Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính đối với các hành vi vi phạm quy định trong Nghị định này là 01 năm, trừ những hành vi vi phạm quy định tại các điểm a và c khoản 1 Điều 9; điểm b khoản 1 Điều 46; các điểm a và b khoản 2, khoản 3 Điều 51; các khoản 2 và 3 Điều 64; khoản 1 Điều 67; các khoản 2 và 3 Điều 68; các khoản 2 và 3 Điều 69; các khoản 2 và 3 Điều 70; điểm b khoản 1 Điều 76 của Nghị định này có thời hiệu xử phạt là 02 năm.
+ Việc xác định hành vi vi phạm hành chính đã kết thúc, cũng như hành vi vi phạm hành chính đang được thực hiện để tính thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính được áp dụng theo quy định tại khoản 1 Điều 8 của Nghị định số 118/2021/NĐ-CP ngày 23 tháng 12 năm 2021, quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính.
Vì vậy, thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính đối với người che giấu tên của mình khi gửi thông tin trên môi trường mạng là 01 năm.
4. Người xâm nhập thông tin của cá nhân khác trên môi trường mạng sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính thế nào?
Theo quy định tại điểm b khoản 2, khoản 3 của Điều 80 trong Nghị định 15/2020/NĐ-CP về vi phạm quy định về cung cấp, sử dụng trái phép thông tin trên mạng, các hành vi xâm nhập thông tin cá nhân khác trên môi trường mạng sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính như sau:
- Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi bẻ khóa, trộm cắp, sử dụng mật khẩu, khóa mật mã và thông tin của tổ chức, cá nhân khác trên môi trường mạng.
- Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
+ Truy cập trái phép vào mạng hoặc thiết bị số của người khác để chiếm quyền điều khiển thiết bị số, thay đổi, xóa bỏ thông tin lưu trữ trên thiết bị số, thay đổi tham số cài đặt thiết bị số hoặc thu thập thông tin của người khác.
+ Xâm nhập, sửa đổi, xóa bỏ nội dung thông tin của tổ chức, cá nhân khác trên môi trường mạng.
+ Cản trở hoạt động cung cấp dịch vụ của hệ thống thông tin.
+ Ngăn chặn việc truy cập vào thông tin của tổ chức, cá nhân khác trên môi trường mạng, trừ trường hợp pháp luật cho phép.
+ Gây mất an toàn, bí mật thông tin của tổ chức, cá nhân khác được trao đổi, truyền đưa, lưu trữ trên môi trường mạng.
- Ngoài các khoản phạt tiền đã nêu, theo quy định tại khoản 3 Điều 4 của Nghị định 15/2020/NĐ-CP về mức phạt tiền đối với cá nhân, tổ chức, nếu cá nhân có hành vi vi phạm tương tự như tổ chức, mức phạt tiền sẽ bằng một nửa mức phạt tiền đối với tổ chức.
Như vậy, người xâm nhập thông tin cá nhân khác trên môi trường mạng có thể sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính với mức phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng.
Lưu ý: Đối với người vi phạm là người nước ngoài, ngoài mức phạt tiền đã nêu, hình thức phạt bổ sung là trục xuất khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Xem thêm >>> Lưu ý khi cung cấp dịch vụ công trực tuyến trên môi trường mạng
Nếu quý khách hàng có bất kỳ thắc mắc nào liên quan đến bài viết hoặc vấn đề pháp luật, chúng tôi luôn sẵn lòng hỗ trợ và giải quyết các vấn đề này. Để được tư vấn và giải đáp, quý khách hàng có thể liên hệ trực tiếp với tổng đài tư vấn pháp luật của chúng tôi qua số điện thoại 1900.6162 hoặc gửi email đến địa chỉ lienhe@luatminhkhue.vn.