1. Ý nghĩa của Việc gia nhập WTO đối với Chính Phủ và Doanh nghiệp ?

Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) được thành lập vào ngày 1 tháng 1 năm 1995 và là một bước phát triển toàn diện của Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT). WTO quản lý các Hiệp định thương mại do các Thành viên ký kết, đặc biệt là Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT), Hiệp định chung về Thương mại dịch vụ (GATS) và Hiệp định về quyền sở hữu trí tuệ (TRIPs).

Các quy định và thủ tục của WTO tạo ra một khuôn khổ cho việc trao đổi hàng hóa, dịch vụ và sở hữu trí tuệ. Các nguyên tắc và quy định được các Thành viên đàm phán thông qua các cuộc thảo luận chính thức và không chính thức khác trong các diễn đàn khác nhau của WTO và các vòng đàm phán thương mại đa phương định kỳ như Vòng đàm phán Đôha vì sự phát triển hiện nay (DDA).

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

1. Bản chất của WTO

Các Thành viên WTO có trình độ kinh tế khác nhau, từ những nền kinh tế kém phát triển nhất cho tới những nền kinh tế phát triển nhất. Sự thành công của tổ chức này được thể hiện ở sự phát triển liên tục số lượng các nước tham gia. Kể từ khi tổ chức này được thành lập, đã có hai mươi hai nước – kể cả Việt Nam – gia nhập WTO, đưa tổng số Thành viên lên tới 150 (tới thời điểm tháng 10 năm 2007), chiếm trên 90% tổng thương mại toàn cầu. Các Thành viên mới của châu Á gia nhập WTO trước Việt Nam là Trung Quốc và Đài Loan, hai nền kinh tế gia nhập năm 2001 và 2002, Ácmênia (2003), Campuchia (2004) và Nêpan (2004).

WTO coi việc không phân biệt đối xử, mở cửa thị trường và cạnh tranh toàn cầu trong thương mại quốc tế sẽ thúc đẩy phúc lợi quốc gia tại tất cả các nước là triết lý nền tảng của mình. Một lý do khiến WTO tồn tại là các hạn chế về chính trị đã ngăn cản các Chính phủ áp dụng các chính sách thương mại hiệu quả hơn, và thông qua sự trao đổi có đi có lại các cam kết tự do hóa, các nước có thể vượt qua các hạn chế chính trị này. Các quy định và thủ tục của WTO (www.wto.org) được xây dựng dựa trên một số nguyên tắc chung, các nguyên tắc này có thể được tóm tắt dưới đây:

Đối xử tối huệ quốc (MFN): Nguyên tắc không phân biệt đối xử này quy định rằng việc nhập khẩu khẩu hàng hóa và dịch vụ từ một Thành viên WTO sẽ được đối xử không kém thuận lợi hơn việc nhập khảu hàng hóa và dịch vụ từ bất kỳ Thành viên nào khác. Đối xử MFN là vô điều kiện. Trên thực tiễn, trong hầu hết các trường hợp điều này có nghĩa một nước không thể áp dụng mức thuế nhập khẩu đối với sản phẩm nhập khẩu từ một Thành viên cao hơn so với mức thuế áp dụng đối với sản phẩm tương tự từ bất kỳ Thành viên nào khác. Các Khu vực Mậu dịch tự do như Khu vực Mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) và liên minh thuế quan nếu thỏa mãn một số điều kiện nhất định sẽ được coi là ngoại lệ của nguyên tắc MFN.

Đối xử quốc gia: Nguyên tắc không phân biệt đối xử này quy định rằng sản phẩm và dịch vụ nhập khẩu sẽ được hưởng đối xử không kém thuận lợi hơn đối xử dành cho sản phẩm tương tự trong nước. Trên thực tiễn, nguyên tắc này quy định các Chính phủ không được phân biệt đối xử đối với hàng nhập khẩu khi áp dụng các luật lệ và quy định trong nước, như các quy định về thuế hay bảo vệ người tiêu dùng và môi trường. Tuy nhiên, sự phân biệt đối xử đối với hàng nhập khẩu vẫn có thể được thực hiện thông qua các biện pháp tại biên giới, đặc biệt là thuế quan. Đối với thương mại dịch vụ, việc dành đối xử quốc gia không phải là tự động do nguyên tắc này phải được đàm phán trong từng phân ngành hay thậm chí từng dịch vụ cụ thể.

Chỉ áp dụng thuế quan để kiểm soát thương mại: để tạo điều kiện mở cửa thị trường và đảm bảo khả năng có thể dự đoán được của thương mại hàng hóa, WTO yêu cầu các Thành viên chỉ thực hiện hạn chế thương mại thông qua thuế quan thay cho hạn ngạch, các kế hoạch định hướng hay các biện pháp phi thuế quan khác.

Giảm dần các rào cản thương mại thông qua đàm phán: kể từ khi hệ thống GATT/WTO ra đời vào năm 1946, các Thành viên đã tiến hành 8 vòng đàm phán đa phương để loại bỏ dần các rào cản thương mại. Trong giai đoạn đầu, các cuộc đàm phán thương mại đa phương tập trung vào việc giảm thuế quan. Dần dần, các Thành viên này đã mở rộng phạm vi của GATT/WTO sang các biện pháp phi thuế quan như tiêu chuẩn, trợ cấp gây bóp méo thương mại hoặc các biện pháp tự vệ tạm thời (chống bán phá giá và thuế đối kháng) cũng như mua sắm chính phủ. Vòng đàm phán gần đây nhất là vòng Uruguay (1986-1994), đã mở rộng đáng kể các quy tắc của WTO sang các lĩnh vực mới như thương mại dịch vụ, các chính sách tác động tới sở hữu trí tuệ và các quy định về đầu tư nước ngoài ảnh hưởng tới thương mại. Hiện nay, các cuộc đàm phán trong Vòng đàm phán đa phương lần thứ 9, Vòng đàm phán Đôha vì sự phát triển (DDR) được bắt đầu vào năm 2001 đang được tiến hành. Bảo hộ nông nghiệp tại các nước phát triển là nội dung cản trở chính của vòng đàm phán này.

Minh bạch hóa: Luật và quy định của các nước ảnh hưởng tới ngoại thương và đầu tư nước ngoài phải được công bố và cung cấp cho tất cả các bên, các thủ tục để thực thi luật lệ và quy định phải công khai. Hơn nữa, quy chế thương mại của mỗi Thành viên phải được WTO rà soát định kỳ để đảm bảo sự tuân thủ với các quy định của WTO.

Giải quyết tranh chấp: Để thực hiện chức năng giám sát các quy tắc đã được thỏa thuận trong các Hiệp định của mình, WTO có cơ chế giải quyết tranh chấp giữa các Thành viên.

Bất kỳ quốc gia hoặc lãnh thổ hải quan có đầy đủ thẩm quyền quản lý các mối quan hệ thương mại quốc tế của mình cũng có thể gia nhập WTO. Hiện nay, hơn 75% các quốc gia và lãnh thổ hải quan trên thế giới là Thành viên của tổ chức này và hơn 10% quốc gia, tổ chức nữa đang trong quá trình gia nhập.

2. Bối cảnh và phương thức gia nhập WTO

Để trở thành Thành viên WTO, một nước hoặc vùng lãnh thổ phải tuân theo các thủ tục công khai, rõ ràng và quá trình gia nhập của Việt Nam cũng đã được thực hiện theo các thủ tục này. Các điều kiện gia nhập WTO phải được thỏa thuận giữa nước gia nhập và các Thành viên WTO (Điều XII). Tiến trình gia nhập thường phải thông qua một số bước, trong đó đàm phán gia nhập là giai đoạn thực chất cuối cùng. Tóm lại, các thủ tục liên quan là Chính phủ thông báo mong muốn trở thành Thành viên WTO của mình thông qua việc gửi một bức thư thông báo cho Tổng giám đốc (trên thực tế, nước xin gia nhập sẽ phải yêu cầu trở thành quan sát viên trước khi gửi thư). Sau khi nhận được thư, Tổng giám đốc WTO sẽ thành lập một Ban công tác bao gồm các Thành viên WTO có quan tâm để xem xét đơn xin gia nhập. Chính phủ nước xin gia nhập sẽ phải đệ trình một bản Bị vong lục mô tả cơ chế ngoại thương của mình. Trên cơ sở tài liệu này, Ban công tác sẽ thảo luận và làm rõ cơ chế thương mại của nước xin gia nhập, thường là thông qua các câu hỏi cụ thể dựa trên bản Bị vong lục cũng như kinh nghiệm thực tế của các doanh nghiệp, tổ chức kinh doanh (trong quá trình gia nhập, Việt Nam đã nhận được khoảng 3500 câu hỏi của các Thành viên Ban công tác về việc Việt Nam gia nhập WTO). Những câu hỏi đó tập trung cụ thể xem cơ chế thương mại của nước xin gia nhập có phù hợp với các quy tắc của WTO hay không. Các quy định và thực tiễn không phù hợp với WTO phải được điều chỉnh hoặc tuân theo các điều khoản được đàm phán cụ thể.

Các nước đang gia nhập WTO phải chấp nhận (i) một gói cam kết chung, được gọi là “cam kết cả gói” và (ii) thỏa thuận được với tất cả các Thành viên WTO có yêu cầu nhượng bộ bổ sung để họ ủng hộ nước gia nhập. Yêu cầu (ii) thường được thỏa thuận thông qua các cuộc đàm phán song phương diễn ra trước khi gia nhập. Các cuộc đàm phán gia nhập WTO được tiến hành giữa nước xin gia nhập và tất cả các Thành viên WTO muốn tăng cường tiếp cận thị trường nước xin gia nhập. Trong tiến trình gia nhập, nước xin gia nhập đàm phán các biểu nhượng bộ về thuế quan và các cam kết cụ thể về thương mại dịch vụ với các nước có quan tâm.

Mỗi Thành viên WTO có quyền đặt ra yêu cầu cụ thể về thuế quan, các biện pháp phi thuế và quy định ảnh hưởng tới thương mại dịch vụ với nước xin gia nhập. Tuy nhiên, chỉ một nhóm nhỏ các Thành viên WTO sử dụng công cụ này, hầu hết các Thành viên khác không đóng vai trò gì hoặc tự xác định sẽ tham gia hạn chế vào các cuộc họp của Ban công tác. Không phải tất cả các khía cạnh của tiến trình gia nhập WTO đều hoàn toàn minh bạch. Đặc biệt, thường có rất ít thông tin về các cuộc đàm phán song phương được đề cập ở trên, trong các cuộc đàm phán này, các vấn đề phi kinh tế cũng có thể được xem xét, ví dụ như trong trường hợp các cuộc đàm phán song phương Việt Nam – Hoa Kỳ được thảo luận dưới đây.

Khi các cuộc đàm phán song phương mở cửa thị trường và đàm phán đa phương kết thúc, Báo cáo của Ban công tác được chuyển cho Đại Hội đồng. Dự thảo Quyết định và Nghị định thư gia nhập cũng như biểu thuế quan và biểu cam kết cụ thể về dịch vụ đã được thỏa thuận sẽ được bổ sung vào Báo cáo. Lời văn của Hiệp định WTO quy định rằng, muốn trở thành Thành viên phải có sự chấp thuận của ít nhất 2/3 số Thành viên WTO. Tuy nhiên, quy tắc bỏ phiếu này chỉ mang tính lý thuyết, do vào năm 1995 các Thành viên WTO đã quyết định không áp dụng các điều khoản cho phép bỏ phiếu về việc gia nhập hoặc yêu cầu miễn trừ mà thay vào đó phải tiếp tục áp dụng nguyên tắc đồng thuận (WT/L/93). Nguyên tắc đồng thuận được áp dụng trong việc quyết định trường hợp gia nhập của Việt Nam cũng như hầu hết các vấn đề khác của WTO. Nguyên tắc này cho phép một nước dù có khối lượng thương mại rất nhỏ cũng có thể cản trở các thỏa thuận của WTO. Đồng thuận không có nghĩa là tất cả các nước phải đồng ý mà là không có ai phản đối.

Sự ra đời của WTO đã khiến cho các điều kiện gia nhập ngày càng chặt chẽ hơn giai đoạn GATT trước đây và các cuộc đàm phán của Việt Nam đã bị ảnh hưởng rất rõ bởi xu hướng này. Các nước xin gia nhập WTO bị yêu cầu phải ràng buộc biểu thuế của họ ở mức bằng hoặc xấp xỉ mức thuế áp dụng. Hơn nữa, các nước mới gia nhập phải tự do hóa việc tiếp cận thị trường nội địa của họ nhiều hơn đáng kể so với giai đoạn trước năm 1995. Có một số lý do giải thích cho việc tại sao tiến trình gia nhập WTO lại “phức tạp” hơn trước đây.

Trước hết, phạm vi của Hiệp định WTO đã mở rộng hơn nhiều so với GATT. Bên cạnh lĩnh vực truyền thống của GATT là thương mại hàng hóa, WTO điều chỉnh cả thương mại dịch vụ, các vấn đề về sở hữu trí tuệ và các biện pháp đầu tư liên quan tới thương mại.

Thứ hai, có thể thấy sự thay đổi quan điểm đáng kể của các cường quốc thương mại, đặc biệt là Hoa Kỳ. Trước khi Liên bang Xô Viết sụp đổ vào cuối những năm 80 của thế kỷ trước, Washington sẵn sàng chấp nhận các chính sách thương mại có thể tổn hại tới các lợi ích thương mại của mình để đổi lấy các ưu tiên trong chính sách đối ngoại (Kostecki, 1979). Từ thập kỷ 90 của thế kỷ trước, việc theo đuổi các quyền lợi kinh tế quốc gia trở nên quan trọng hơn, cho thấy đã có nhiều quan tâm hơn tới các thỏa thuận thương mại cụ thể (VanGrasstek, 1995, Naray, 2000).

Thứ ba, các cường quốc thương mại chính ngày càng coi việc gia nhập WTO là một bước đi lớn của nước xin gia nhập nhằm hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu. Việc trở thành Thành viên WTO là một cách để khuyến khích nước gia nhập xóa bỏ các chính sách kinh tế mang tính can thiệp, thay vào đó là việc áp dụng các cách tiếp cận ít mang tính bảo hộ và theo định hướng thị trường nhiều hơn. Việc này giải thích tại sao tiến trình gia nhập sẽ hiệu quả nhất khi tiến hành song song với một chương trình cải cách trong nước. Khía cạnh này trở nên đặc biệt quan trọng trong các cuộc đàm phán gia nhập của những nước như Trung Quốc, Nga hoặc Việt Nam, những nước mà khối lượng thương mại hiện tại hoặc trong tương lai rất có thể sẽ ảnh hưởng lớn tới hệ thống thương mại trong các thập kỷ tới.

Cuối cùng, và cũng liên quan tới lý do trên, rõ ràng là các Thành viên WTO có xu hướng muốn nước gia nhập đưa ra các cam kết cao hơn các quy định ghi trong lời văn của các Hiệp định WTO, hay còn gọi là hiện tượng “WTO cộng”. Ví dụ, một số nền kinh tế đang chuyển đổi đã bị yêu cầu phải đưa ra các cam kết và báo cáo về tiến trình tư nhân hóa các doanh nghiệp nhà nước trong khi đó GATT/WTO hoàn toàn không quy định gì về vấn đề này (Kostecki,1979, Bernier, 1982). Một ví dụ của yêu cầu này là hiện nay vấn đề sở hữu ngành năng lượng vẫn là nội dung cản trở tiến trình gia nhập WTO của Nga, ngay cả khi Việt Nam đã gia nhập tổ chức này. Việc Nam cũng bị yêu cầu phải đưa ra các cam kết liên quan tới cổ phần hóa trong tiến trình gia nhập của mình.

Vấn đề cốt lõi trong các cuộc đàm phán gia nhập nằm ở chỗ nước muốn gia nhập là bên “bị động”. Điều này có nghĩa nước này có nghĩa vụ phải đàm phán với các Thành viên hiện tại của WTO và thông thường có rất ít quyền trong quá trình đàm phán này. Nói cách khác, tiến trình gia nhập mang tính bất cân bằng, theo nghĩa nước gia nhập không thể đưa ra các yêu cầu về quyền lợi bổ sung, vượt quá những gì đang được quy định trong các Hiệp định hiện tại của WTO trong khi các Thành viên WTO có thể – và thường thực hiện – đưa ra các yêu cầu cao hơn mức độ hiện tại (Hoekman, Kostecki, 2001). Trong một số trường hợp, các nước xin gia nhập bị yêu cầu phải thực hiện các nghĩa vụ thậm chí cao hơn mức độ cam kết của các Thành viên hiện tại. Một ví dụ tiêu biểu là mức độ cam kết về thuế, trong khi quy tắc phổ biến hiện nay là mức độ cam kết phải toàn diện và thuế ràng buộc không cao hơn hai lần mức thuế áp dụng bình quân gia quyền theo khối lượng nhập khẩu áp dụng tại các nước OECD (khoảng 10%). Trong khi mức độ cam kết bình quân của các Thành viên đang phát triển là khoảng 20% đối với các dòng thuế cam kết (rất nhiều dòng thuế chưa cam kết). Các ví dụ khác là yêu cầu xóa bỏ trợ cấp hàng nông sản trong khi rất nhiều Thành viên phát triển của WTO, kể cả EU và Hoa Kỳ, vẫn duy trì các khoản trợ cấp này, ngoài ra còn có cả các cam kết về dịch vụ toàn diện hơn so với các cam kết trong Vòng đàm phán Uruguay cũng như việc yêu cầu thực hiện đầy đủ các cải cách cần thiết (thay vì thực hiện quá trình chuyển đổi một cách từ từ) trở thành một điều kiện của tiến trình gia nhập.

3. Lịch sử mối quan hệ giữa Việt Nam và WTO

Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam có một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung trong đó Nhà nước đóng vai trò chủ đạo cho tới tận giữa những năm 80 của thế kỷ trước. Kể từ năm 1986, dưới chính sách “Đổi mới”, tăng cường định hướng thị trường và hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu đã trở thành mục tiêu chính của Việt Nam. Tiến trình cải cách tập trung vào việc tái cơ cấu các ngành công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ trong nước, tổ chức lại hệ thống hành chính và thiếp lập các mối quan hệ kinh tế với thế giới. Nhằm tăng cường các mối quan hệ kinh tế với khu vực, Việt Nam đã gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Diễn đàn hợp tác Á – Âu và Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á -Thái Bình Dương (APEC). Việt Nam cũng duy trì các mối quan hệ thương mại chặt chẽ với Trung Quốc, được điều chỉnh theo Hiệp định Thương mại năm 1991 và các hiệp ước hợp tác kinh tế khác. Tham gia vào các thể chế khu vực nói trên tạo ra bước hội nhập đầu tiên của Việt Nam vào hệ thống thương mại để chuẩn bị cho việc trở thành Thành viên WTO.

Các mối quan hệ của Việt Nam với WTO được bắt đầu vào năm 1995 với việc nộp yêu cầu gia nhập chính thức. Vào tháng 1 năm 1995, Đại hội đồng của WTO đã thành lập Ban công tác để xem xét đơn xin gia nhập của Việt Nam. Ban công tác đã tiến hành 14 cuộc họp trong giai đoạn gần 12 năm – một quá trình đàm phán gia nhập khá dài. Các thành viên của Ban công tác gồm Áchentina, Úc, Braxin, Brunây, Bungari, Campuchia, Canađa, Chilê, Trung Quốc, Côlômbia, Croatia, Cuba, Cộng hòa Đôminíc, Ai Cập, En Sanvađo, Liên minh châu Âu và các Thành viên của mình, Honđuras, Hồng Kông, Ixơlen, Ấn Độ, Inđônêxia, Nhật Bản, Hàn Quốc, Cộng hòa Kyrgyzxtanxtan, Malaysia, Mêhicô, Marốc, Myanma, Niu Dilân, Na Uy, Pakistan, Panama, Paraguay, Philíppin, Rumani, Singapo, Sri Lanka, Thụy Sỹ, Đài Loan, Thái Lan, Thổ Nhĩ Kỳ, Hoa Kỳ và Uruguay (www.wto.org). Việt Nam đã chuẩn bị bản Bị vong lục về chế độ ngoại thương của mình vào năm 1996 nhưng phải tới tận năm 1998 thì kế hoạch cho các cuộc họp định kỳ của Ban công tác mới được đưa ra. Các cuộc đàm phán diễn ra chậm chạp do các lo ngại về chính trị, nhu cầu cần có những thay đổi hệ thống quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam và các Thành viên WTO đặt ra yêu cầu Việt Nam phải đưa ra các nhượng bộ lớn.

Bảng 1

Các mốc lớn trong quan hệ của Việt Nam với WTO

1994 Hoa Kỳ dỡ bỏ lệnh cấm vận thương mại đối với Việt Nam và thiết lập quan hệ ngoại giao bình thường vào năm 1995. Điều này đã thúc đẩy việc mở cửa nền kinh tế Việt Nam.

1995 Việt Nam nộp đơn gia nhập WTO vào tháng 1 năm 2005.

1996 Bắt đầu cuộc gặp thường kỳ của Ban công tác về việc Việt

Nam gia nhập WTO.

1998 Các cơ quan quản lý Việt Nam quyết định đẩy nhanh tiến trình gia nhập WTO.

2001 Phiên đàm phán đa phương lần thứ 9 của WTO/GATT – vòng đàm phán Đôha vì sự phát triển – được khởi động vào tháng 11 năm 2001.

2002 Việt Nam đưa ra Bản chào đầu tiên đối với hàng hóa và dịch vụ.

2004 Việt Nam đưa ra Bản chào sửa đổi tham vọng hơn về tiếp cận thị trường vào tháng 6 năm 2004 tại phiên họp lần thứ 8 của Ban công tác, Bản chào này thể hiện một bước đột phá trong đàm phán gia nhập WTO.

2004 Bắt đầu các cuộc đàm phán song phương với các Thành viên WTO. Một Thỏa thuận đột phá được ký kết với Liên minh châu Âu.

2005 Ký thỏa thuận với Trung Quốc về việc Việt Nam gia nhập WTO.

2006 Hoa Kỳ và Việt Nam ký Hiệp định song phương về các cam kết gia nhập WTO của Việt Nam, đây là Hiệp định song phương cuối cùng và dường như là khó khăn nhất trong số 28 Hiệp định song phương với các Thành viên WTO.

2002 – 2006 Các cơ quan quản lý Việt Nam đã rà soát sâu rộng hầu hết luật và quy định của Việt Nam trong các lĩnh vực liên quan tới WTO cũng như các lĩnh vực khác và đã đưa kế hoạch hành động liên quan tới WTO vào Kế hoạch phát triển năm năm 2006 – 2010 (SRV, 2006)

2007 Việt Nam trở thành Thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới vào ngày 11 tháng 1 năm 2007.

2007 Chính phủ Việt Nam đưa ra chương trình hành động thực thi các cam kết gia nhập WTO.

Vào năm 2002, Việt Nam đưa ra Bản chào đầu tiên về mở cửa thị trường hàng hóa và dịch vụ, sau đó Bản chào sửa đổi vào tháng 7 năm 2004 mang tính tham vọng hơn. Cả hai Bản chào đều được các Thành viên WTO hoan nghênh. Sau một số vòng đàm phán, các đối tác thương mại của Việt Nam đồng ý bắt đầu dự thảo Báo cáo của Ban công tác về việc Việt Nam gia nhập WTO và tiến hành các cuộc đàm phán song phương cần thiết để đạt được thỏa thuận gia nhập giữa các bên.

Việt Nam tiến hành các cuộc đàm phán song phương với 28 Thành viên WTO, bao gồm cả Liên minh châu Âu (tính là một Thành viên mặc dù Liên minh này đại diện cho 25 nước), Hoa Kỳ và Trung Quốc. Thỏa thuận với Hoa Kỳ ký vào tháng 5 năm 2006 là thỏa thuận song phương cuối cùng và có lẽ là thỏa thuận song phương khó khăn nhất mà Việt Nam đã đàm phán. Việc ký kết thỏa thuận này cho phép Tổng thống Hoa Kỳ có thẩm quyền cần thiết để dành cho Việt Nam quy chế “quan hệ thương mại bình thường vĩnh viễn” (PNTR) – đây là điều kiện tiên quyết cho phép Hoa Kỳ công nhận Việt Nam là một Thành viên WTO.

Trọng tâm cải cách kinh tế và chính sách phát triển dựa vào xuất khẩu của Việt Nam đã khiến cho quá trình gia nhập, vốn kéo dài và rất phức tạp, trở nên đơn giản hơn. Việc ký kết Hiệp định Thương mại song phương với Hoa Kỳ (BTA) và tham gia Khu vực Mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) rất hữu ích trong bối cảnh này do các thỏa thuận này đã khởi động quá trình tự do hóa và tiến trình “phi điều tiết hóa” (US Aid,

2007). Tuy nhiên, điều này không có nghĩa rằng các cuộc đàm phán mở cửa thị trường là dễ dàng. Các bên đã phải mất rất nhiều thời gian và đàm phán diễn ra rất căng thẳng trước khi đạt được thỏa thuận gia nhập. Bộ trưởng Trương Đình Tuyển và đoàn đàm phán Việt Nam do Thứ trưởng Thương mại Lương Văn Tự đã tập trung toàn bộ sức lực vào các cuộc đàm phán gia nhập, thường phải làm việc thâu đêm, đặc biệt trong giai đoạn cuối cùng của các cuộc đàm phán gia nhập.

Quyết tâm trở thành Thành viên WTO của Việt Nam có thể đã được thúc đẩy bởi kinh nghiệm thành công của các nền kinh tế hướng về xuất khẩu tại khu vực Đông Á, những thay đổi hệ thống tại các nước thuộc Liên bang Xô Viết cũ và sự quan tâm của Trung Quốc đối với tổ chức này. Có thể một động lực nữa là quyết tâm của Đảng Cộng sản Việt Nam trong việc tạo ra việc làm cho hơn 1 triệu lao động mới gia nhập thị trường lao động mỗi năm tại Việt Nam, thực hiện xóa đói giảm nghèo và đạt được mục tiêu tiêu tham vọng là đưa Việt Nam trở thành một nước công nghiệp vào năm 2020 (SRV, 2006).

Trong quá trình gia nhập WTO của mình, Việt Nam đã không nhận được nhiều đối xử đặc biệt và khác biệt từ các Thành viên WTO. Việt Nam đã phải thực hiện các bước cụ thể trước, trong và sau giai đoạn đàm phán để có thể tận dụng cơ hội, vượt qua thách thức nhằm hỗ trợ quá trình phát triển của mình. Các nỗ lực này được một số nhà tài trợ và tổ chức quốc tế hỗ trợ thông qua việc cung cấp các chương trình xây dựng năng lực và kinh nghiệm (một trong số các chuyên gia dày dạn kinh nghiệm hỗ trợ Việt Nam trong những ngày đầu của tiến trình gia nhập là Ông Arthur Dunkel, cựu Tổng giám đốc của WTO và ông Trần Văn Thìn, cựu đại sứ của EC tại GATT). Nhờ có sự kết hợp phù hợp giữa các nỗ lực và dự án của Việt Nam và quốc tế, các mục tiêu phát triển của Việt Nam trong tiến trình gia nhập WTO đã được làm rõ và Việt Nam đã đưa ra được các chiến lược đàm phán phù hợp. Cụ thể hơn, các cơ quan Việt Nam đã đưa ra các bước đi để thực hiện mục tiêu này.

Trước hết, ngay trong giai đoạn gia nhập đầu tiên, Việt Nam đã dự đoán được các cam kết đa dạng trong WTO sẽ đòi hỏi cải cách nền kinh tế trong nước tới mức nào và những thay đổi đó sẽ đóng góp vào quá trình phát triển theo cách nào. Việt Nam xác định dệt may, giầy dép, nông nghiệp, thủy sản và du lịch là những ngành có thể được hưởng lợi ngay từ các chương trình cải cách này và đã xây dựng ưu tiên đàm phán của mình, có tính tới những ngành có tiềm năng có lợi thế so sánh.

Thứ hai, các cơ quan quản lý Việt Nam đã nhận thấy tiến trình gia nhập WTO có thể kéo dài và phức tạp, do đó đã nỗ lực để tập hợp đủ hỗ trợ trong nước cho tiến trình gia nhập này. Yếu tố thứ hai được ủng hộ bởi các cuộc tham vấn ở cấp chính trị và tầm nhìn rõ ràng về chi phí, lợi ích và các ưu tiên trong các cuộc đàm phán gia nhập. Xây dựng một chiến lược đàm phán phù hợp gồm cả các vấn đề vượt quá thẩm quyền của Bộ Thương mại và Chính phủ đã có quan điểm chung về chiến lược đàm phán gia nhập WTO. Rõ ràng, vấn đề này không bị coi là một quyết định kỹ trị do một nhóm quan chức kiểm soát mà đã được rất nhiều cơ quan chính phủ và Đảng Cộng sản xem xét cũng như được tham vấn với các ngành trong nước. Việt Nam đang đạt được nhiều tiến bộ trong việc xây dựng một tiến trình mở, chính thức để đảm bảo quyền của các hiệp hội doanh nghiệp và các tổ chức dân sự trong việc xây dựng các văn bản pháp lý.

Thứ ba, do thời gian kéo dài, độ phức tạp cao và phạm vi rất rộng của Thỏa thuận gia nhập, Chính phủ Việt Nam đã xây dựng một “lộ trình” xác định các hoạt động khác nhau trong quá trình gia nhập và giai đoạn thực thi. Thông tin chi tiết về các cấu phần của “lộ trình” này nằm trong Nghị quyết tháng 2 năm 2007 về việc ban hành Chương trình hành động của Chính phủ để thực thi Nghị quyết 4 Hội nghị Trung ương X về một số chủ chương và chính sách lớn để phát triển nhanh và bền vững cho nền kinh tế khi Việt Nam gia nhập WTO (Nghị quyết số 16/2007/CP-NQ của Chính phủ) và trong Kế hoạch phát triển kinh xã hội 5 năm 2006 – 2010 (SRV, 2006).

4. Cơ hội và thách thức khi gia nhập WTO: Tổng quan

Một nền kinh tế muốn phát triển xuất khẩu các sản phẩm chế biến thay vì nguyên liệu và tận dụng các nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDIs) trên thực tế không có lựa chọn nào khác ngoài việc tham gia hệ thống thương mại của WTO. Lý do nằm ở chỗ “con dấu gia nhập WTO” được cộng đồng doanh nghiệp quốc tế coi là một dấu hiệu về sự vận hành bình thường trong các mối quan hệ kinh tế toàn cầu. Có thể đưa ra nhiều lý do kinh tế, luật pháp và chính trị để giải thích tại sao gia nhập WTO lại cần thiết đến thế và việc gia nhập sẽ đem lại những cơ hội và thách thức nào cho Việt Nam.

Đối với một số người, lý do quan trọng nhất để gia nhập WTO là nhằm hội nhập nền kinh tế quốc gia vào nền kinh tế toàn cầu. Mọi người kỳ vọng rằng với việc gia nhập WTO, Việt Nam có thể tiếp cận các thị trường xuất khẩu và nhập khẩu một cách ổn định và dễ dự đoán hơn, từ đó, số lượng và chất lượng hàng hóa, dịch vụ xuất nhập khẩu sẽ tăng theo. Gia nhập WTO cũng thúc đẩy quá trình tự do hóa nhập khẩu, từ đó cho phép tiếp cận với các đầu vào nhập khẩu (công nghệ, trang thiết bị và phương pháp quản lý hiện đại) cũng như hàng hóa tiêu dùng đa dạng và rẻ hơn; các đầu vào nhập khẩu rất quan trọng đối với một nền kinh tế đang hiện đại hóa nhanh chóng như Việt Nam.

Một lợi ích kinh tế nữa từ việc gia nhập WTO là tăng cường thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Gia nhập WTO sẽ khiến các doanh nghiệp tin tưởng hơn vì Việt Nam sẽ được coi là một điểm đến an toàn cho các nhà đầu tư. Có bằng chứng cho thấy rất nhiều nhà đầu tư nước ngoài lớn (ví dụ như Intel) đã quan tâm hơn tới Việt Nam khi Việt Nam chuẩn bị trở thành Thành viên của WTO. Chỉ trong vòng 9 tháng sau khi gia nhập WTO, các doanh nghiệp nước ngoài đã cam kết sẽ đầu tư gần 6,5 tỷ Đôla Mỹ vào các dự án đầu tư mới tại Việt Nam (số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2007). Hơn nữa, việc trở thành Thành viên của WTO khuyến khích sử dụng nhiều hơn các tài sản thuộc sở hữu trí tuệ, dẫn tới các điều kiện tốt hơn để đạt được thành công về kinh tế thông qua chất lượng sản phẩm cao hơn, sự sáng tạo và kỹ năng tiếp thị hiện đại (xây dựng thương hiệu, cấp phép, nhượng quyền và các dịch vụ hỗ trợ sản phẩm tốt hơn).

Lợi ích pháp lý của việc tiếp cận một hệ thống thương mại dựa trên pháp quyền và sử dụng quá trình giải quyết tranh chấp trong WTO cũng thường được nhắc đến như một lý do quan trọng cho việc gia nhập WTO của Việt Nam. Các cuộc tham vấn, đàm phán và trung gian hòa giải cũng như giải quyết tranh chấp dựa trên quy tắc rõ ràng sẽ rất quan trọng đối với các quốc gia không có tiếng nói quan trọng trong thương mại bằng các Thành viên như Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu, Nhật Bản hoặc Trung Quốc. Gia nhập WTO cho thấy các mối quan hệ thương mại của Việt Nam với các cường quốc thương mại sẽ được bảo vệ bởi các quy tắc và thủ tục của hệ thống thương mại đa phương, rất nhiều lợi ích cụ thể của hệ thống này sẽ được đề cập dưới đây.

Gia nhập WTO cũng được thúc đẩy bởi các lý do chính trị. Đặc biệt, đối với các nước trong giai đoạn chuyển đổi như Việt Nam thì WTO là một công cụ giúp Chính phủ duy trì được chính sách thương mại minh bạch và tự do nhờ vào vai trò nội địa của hệ thống thương mại đa phương, hệ thống này đẩy mạnh các lợi ích xuất khẩu nhiều hơn so với lợi ích thu được từ các ngành thay thế nhập khẩu. Trở thành Thành viên WTO đem lại cơ hội để đảm bảo việc thực hiện các bước tự do hóa cơ chế thương mại thông qua chấp nhận các nghĩa vụ ràng buộc về mặt pháp lý đối với các mức thuế, loại bỏ các hạn chế định lượng hoặc loại bỏ trợ cp (Michalopoulos,2002). Gia nhập WTO cũng là một công cụ để thể hiện cam kết của nước gia nhập trong việc hòa nhập các nền kinh tế theo định hướng thị trường vào cộng đồng quốc tế, một điều kiện tiên quyết cho sự phát triển thương mại quốc tế.

Tương tự như vậy, yếu tố chính trị đóng một vai trò quan trọng tại nhiều Thành viên WTO khi quyết định có chấp nhận một nước mới gia nhập hay không. Ví dụ, đối với Hoa Kỳ, nước dành cho Việt Nam đối xử Tối huệ quốc tuân thủ theo WTO (theo thuật ngữ của Hoa Kỳ là Quan hệ thương mại bình thường vĩnh viễn), thì quyết định này được mô tả “là một trong số các bước đi mà Hoa Kỳ thực hiện trong lĩnh vực thương mại và chính sách đối ngoại để bình thường hóa quan hệ với Việt Nam đồng thời đưa quan hệ hiện nay của hai nước vượt qua cuộc chiến tranh Việt Nam” (Báo cáo CRS của Quốc hội Hoa Kỳ, 2006).

5. Mở rộng thị trường cho hàng xuất khẩu của Việt Nam

Lý do chủ yếu và trực tiếp khiến Việt Nam muốn gia nhập WTO là tìm cách thúc đẩy xuất khẩu nông thủy sản, dệt may, quần áo và dầy dép cũng như các mặt hàng sản xuất trong nước khác. Đặc biệt, các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs) của Việt Nam – những doanh nghiệp có ít nguồn lực để đối phó với những vấn đề phức tạp về thể chế – rất có thể sẽ được hưởng lợi nhờ khả năng tiếp cận thị trường xuất khẩu tốt hơn. Tác động tới xuất khẩu là tích cực vì khi gia nhập WTO, Việt Nam sẽ được hưởng một môi trường ổn định và bình đẳng hơn ở nước ngoài, có nhiều khả năng hơn trong việc kiện lại các thực tiễn thương mại không bình đẳng và có cơ hội để đảm bảo rằng các cuộc đàm phán của WTO trong tương lai sẽ đem lại các cơ hội xuất khẩu cho các sản phẩm mà Việt Nam quan tâm (bốn thị trường xuất khẩu chính chiếm hơn một nửa kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam đều là các Thành viên của WTO). Cũng có thể hy vọng rằng việc gia nhập sẽ không chỉ thúc đẩy doanh số xuất khẩu các mặt hàng quyền thống sang các thị trường hiện tại mà còn tăng xuất khẩu các sản phẩm mới sang các thị trường mới (xem them chi tiết tại Chương II-VII).

Về cơ bản, có ba lý do chính khiến cho việc gia nhập WTO sẽ dẫn tới tăng cường tiếp cận thị trường. Thứ nhất, Việt Nam sẽ được các Thành viên WTO dành đối xử MFN đầy đủ và lâu dài và điều này là một cải thiện đáng kể. Mặc dù Việt Nam đã được hưởng đối xử MFN tạm thời với Hoa Kỳ và các đối tác thương mại khác nhưng đối xử MFN dựa trên cơ sở WTO là một thỏa thuận ưu đãi. Điều này là một mốc rõ ràng cho việc chuyển từ môi trường mang tính đơn phương và tự nguyện (ví dụ các cuộc thảo luận tại Quốc hội Hoa Kỳ trước khi gia hạn đối xử MFN hàng năm), nơi việc lạm dụng sức mạnh kinh tế vì lý do chính trị thực sự là một mối đe dọa, sang một mối quan hệ đối tác thương mại dựa trên các quy tắc rõ ràng, nơi các vấn đề thương mại được giải quyết một cách minh bạch, tuân theo các luật lệ của WTO (xem Hộp 1).

Hộp 1

WTO và Đối xử MNF tại Hoa Kỳ

Hiện nay, các nước chưa tham gia WTO có thể được nhiều quốc gia, kể cả Hoa Kỳ, đơn phương dành đối xử MFN trong thương mại nhưng không có gì đảm bảo rằng họ sẽ tiếp tục được hưởng đối xử này. Ví dụ, tại Hoa Kỳ, việc dành đối xử MFN cho Nga và một số nền kinh tế trong giai đoạn chuyển đổi khác, gồm cả Trung Quốc và Việt Nam trước khi các nước này gia nhập WTO, từ trước tới nay phụ thuộc vào việc các nền kinh tế này có tuân theo một Dự luật có tên là Tu chính án Jackson- Vanik hay không, Tu chính án này sửa đổi Bộ luật Thương mại năm 1974 của Hoa Kỳ liên quan tới quyền tự do nhập cư và một số quyền công dân khác. Quốc hội Hoa Kỳ rà soát định kỳ và quá trình rà soát này này tạo cơ hội cho một số chính trị gia yêu cầu các nhượng bộ chính trị để đổi lại việc họ đồng ý dành đối xử MFN có điều kiện và “lâu dài”.

Khi Ácmênia, Cộng hòa Kyrgyzxtan và Mông Cổ gia nhập WTO, Hoa Kỳ đã sử dụng quyền không áp dụng đối xử WTO theo Điều XIII của WTO, tức là Hoa Kỳ không dành cho các nước này đối xử MFN vô điều kiện và do đó trên thực tế không chấp nhận tư cách Thành viên WTO của các nước này. Tương tự như vậy, đối với Trung Quốc và Việt Nam, Chính quyền Hoa Kỳ đã tiến hành các cuộc đàm phán song phương liên quan tới quy chế thương mại bình thường vĩnh viễn và đã điều chỉnh các quy định pháp lý tương tự, trước khi các cuộc đàm phán gia nhập kết thúc.

Nguồn: Horlick & Shea, 2002, Michalopoulos, 2002 và các báo cáo khác

Ngoài tác động trực tiếp là tiếp cận thị trường được đảm bảo hơn, gia nhập WTO cũng sẽ xóa tan sự hoài nghi về xuất khẩu phổ biến trong cộng đồng doanh nghiệp ở các nước đang phát triển (Langhammer and Lücke, 1999). Sự hoài nghi, bi quan về xuất khẩu cũng rất phổ biến tại Việt Nam trong những năm 90 của thế kỷ trước, khi mà các nhà xuất khẩu vốn đang tăng trưởng nhanh chóng tại Việt Nam phải đối mặt với các rào cản bảo hộ chống lại hàng nông sản và các sản phẩm chế tạo có hàm lượng lao động cao. Vòng đàm phán Uruguay đã đem lại những tiến triển, cả đối với các nước phát triển nơi mà Hiệp định Nông nghiệp và Hiệp định hàng dệt may đã cải thiện điều kiện tiếp cận thị trường cho hàng xuất khẩu từ các nước đang phát triển cũng như đối với bản thân các nước đang phát triển đã tự do hóa cơ chế nhập khẩu của họ một cách đơn phương hoặc trong khuôn khổ cam kết từ Vòng đàm phán Uruguay (Anderson, 2002 và Kheir-El-Din, 2002). Khi các chính sách cải cách, Đổi mới đã tạo ra nhiều lựa chọn về mặt chính sách ngành, rõ ràng điều quan trọng là Việt Nam cần có khả năng tiếp cận thị trường để đảm bảo phát triển xuất khẩu.

Thứ hai, việc áp dụng đầy đủ Hiệp định Dệt may vào năm 2005 đã đem lại một lợi thế lớn cho Việt Nam. Tuy nhiên, chỉ khi gia nhập WTO, Việt Nam mới có thể tận dụng đầy đủ lợi ích từ việc loại bỏ dần cơ chế hạn ngạch mà các nước phát triển duy trì trước đây. Đặc biệt, trong số những lợi ích của việc gia nhập WTO có việc giảm thuế nhập khẩu và loại bỏ hạn ngạch của Hoa Kỳ và EU áp dụng đối với xuất khẩu hàng dệt may (tới giữa năm 2010, mặt hàng này sẽ chiếm khoảng 15% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam). Điều này có ý nghĩa quan trọng không chỉ do dệt may là mặt hàng xuất khẩu lớn thứ 2 của Việt Nam, sau dầu thô, mà còn do việc gia nhập WTO sẽ khiến Việt Nam tham gia sân chơi chung với các nhà xuất khẩu khác, những người đã không bị áp dụng hạn ngạch kể từ đầu năm 2005, khi mà hệ thống thương mại toàn cầu 30 tuổi với truyền thống “đàm phán các ngoại lệ đối với GATT/WTO mà các bên đều chấp nhận” đã bị phá bỏ. Các biện pháp phi thuế quan khác (đặc biệt là tự nguyện hạn chế xuất khẩu – VER) cũng được xóa bỏ nhờ vào tiến trình đàm phán tự do hóa của Vòng Uruguay, ví dụ như hạn ngạch song phương của EU đối với hàng tiêu dùng, sắt thép hoặc nông sản nhập khẩu vào Việt Nam.

Thứ ba, có thể lập luận rằng các biện pháp chống bán phá giá và đối kháng mà các cường quốc áp dụng chống lại các “nền kinh tế phi thị trường” (NME) của WTO như Việt Nam cần phải chịu các quy tắc chặt chẽ hơn so với các trường hợp không phải là Thành viên WTO.

Rõ ràng, việc Việt Nam bị coi là nền kinh tế thị trường trong vòng 12 năm không phải là yếu tố thuận lợi cho các nhà xuất khẩu Việt Nam. Quy tắc này thể hiện một mức độ ngờ vực nhất định đối với bản chất thị trường của hệ thống kinh tế Việt Nam cũng như mối lo ngại của rất nhiều nhà sản xuất nước ngoài về sự phát triển xuất khẩu của Việt Nam. Do bị coi là nền kinh tế phi trường, các đối tác thương mại của Việt Nam có nhiều điều kiện hơn trong việc đưa ra các vụ kiện chống bán phá đối với các nhà xuất khẩu Việt Nam do giá so sánh được được sử dụng trong việc xác định phá giá là giá của các nước “tương tự”, không nhất thiết có các điều kiện kinh tế giống với Việt Nam. Việt Nam, giống như các nền kinh tế đang chuyển đổi khác, kể cả Trung Quốc, đã phải đối mặt với các điều khoản phân biệt đối xử liên quan tới quá trình xác định phá giá cả trong giai đoạn trước khi gia nhập WTO. Vấn đề này đặc biệt quan trọng vì (i) các nhà xuất khẩu của Việt Nam dễ phải đối mặt với các biện pháp chống bán phá giá hơn so với các nhà xuất khẩu từ các nền kinh tế thị trường; và (ii) biên độ phá giá áp dụng đối với các nền kinh tế phi thị trường thường cao hơn (Langhammer và Lücke,1999). Một lý do của kết quả này là các quyết định về giá của các công ty tại các nền kinh tế phi thị trường thường không liên quan tới chi phí sản xuất thực tế. Một lý do nữa có thể là trong các cuộc điều tra chống bán phá giá, các Chính phủ thường có quyền tự do trong việc ước tính giá trong nước của một sản phẩm xuất xứ từ một nền kinh tế phi thị trường căn cứ vào giá “thông thường” của sản phẩm tương tự tại một nền kinh tế so sánh (tương tự). Cơ cấu chi phí tại nước so sánh càng khác với Việt Nam thì cách tiếp cận này càng không phù hợp. Do đó, tác động của việc gia nhập WTO đối với các cuộc điều tra chống bán phá giá đối với các nhà xuất khẩu Việt Nam phụ thuộc vào tầm quan trọng tương đối của hai tác động đề cập ở trên. Nếu như các quyết định về giá của các nhà xuất khẩu Việt Nam bị bóp méo toàn bộ thì việc trở thành Thành viên của WTO có thể cũng không có tác động đáng kể nào ngoài việc hành vi của các doanh nghiệp Việt Nam trong tương lai sẽ mang tính định hướng thị trường nhiều hơn. Tuy nhiên, nếu việc lựa chọn nước tham chiếu/so sánh bóp méo phán quyết một cách không công bằng, Việt Nam được lợi khi các cuộc điều tra chống bán phá giá sẽ phải tuân thủ các nguyên tắc chặt chẽ hơn, đặc biệt khi mà các số liệu về giá và chi phí của nhà sản xuất được sử dụng thay vì sử dụng nước tham chiếu. (Thông tin chi tiết hơn về vấn đề này được đề cập tại Chương IV).

Tóm lại, các nguyên tắc chặt chẽ hơn từ việc gia nhập WTO sẽ đem lại cho Việt Nam (a) lựa chọn để lập luận rằng trong một số tình huống cụ thể, đặc biệt, thì “các điều kiện của nền kinh tế thị trường chiếm ưu thế” (b) vị thế nhất định trong các cuộc tham vấn và tranh chấp thương mại đa phương, cho phép Việt Nam sử dụng các quy tắc của WTO trong quan hệ với các Thành viên khác khi quyền lợi của Việt Nam đã bị ảnh hưởng và sân chơi không hoàn toàn bình đẳng. Hơn nữa, Việt Nam cũng có thể liên minh với các nền kinh tế phi thị trường khác trong WTO – ví dụ như Trung Quốc. Cuối cùng, Nghị định thư gia nhập WTO của Việt Nam hạn chế thời gian áp dụng các thủ tục chống bán phá giá phân biệt đối xử đối với Việt Nam trong thời hạn 12 năm, đồng thời Việt Nam có nghĩa vụ cải cách hơn nữa hệ thống trợ cấp và định giá của mình.

6. Tự do hóa thương mại tại Việt Nam

Các nhà phân tích kinh tế nhấn mạnh lợi ích quan trọng của việc các nền kinh tế thực hiện tự do hóa nhập khẩu có thể tiếp cận thị trường trong nước tốt hơn, đặc biệt khi các thiết bị nhập khẩu cũng như các đầu vào sản xuất có giá rẻ hơn, hàng nhập khẩu đa dạng hơn. Thông qua việc giảm và ràng buộc thuế nhập khẩu, loại bỏ hạn ngạch nhập khẩu và cải cách các biện pháp hạn chế khác, các chính sách của Việt Nam sẽ có độ tin cậy cao hơn và môi trường kinh doanh trong nước được cải thiện, điều này sẽ đem lại lợi ích trong nước đang kể, quá trình này được giải thích ngắn gọn tại Hộp 2.

Liên quan tới các cam kết mở cửa thị trường, có bằng chứng rõ ràng rằng cái mà những người theo chủ nghĩa trọng thương thường gọi một cách không chính xác là “giá của việc gia nhập” – xét từ các nhượng bộ về mở cửa thị trường – đang ngày càng tăng. Các nhượng bộ của Việt Nam khi gia nhập cũng theo xu hướng này do Việt Nam đã đưa ra các nhượng bộ quan trọng về thuế quan, loại bỏ các hạn chế định lượng và xóa bỏ trợ cấp xuất khẩu đối với hàng động sản cũng như rất nhiều khoản trợ cấp trong nước khác. Chi tiết các điều kiện gia nhập WTO của Việt Nam và các cam kết mở cửa thị trường khá vực tạp, nằm trong khoảng 880 trang tài liệu.

Hộp 2

Tại sao tự do hóa thương mại không nhất thiết phải là

“cái giá để gia nhập”?

Khái niệm cốt lõi của thương mại quốc tế là chi phí cơ hội. Việc sản xuất (tiêu dùng) một sản phẩm có chi phí là không sản xuất (tiêu dùng) được sản phẩm khác. Một lý thuyết kinh tế quan trọng đã khẳng định rằng thương mại đem lại lợi ích nhờ việc tối thiểu hóa các chi phí cơ hội thông qua phân chia lao động quốc tế, lý thuyết này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc chuyên môn hóa giữa các nước. Lấy một ví dụ đơn giản, giả sử rằng người dân ở Pescatia rất giỏi về đánh bắt cá nhưng lại bị bắt buộc phải dành thời gian để trồng lúa (nghề mà họ không thực hiện hiệu quả bằng đánh bắt cá). Mỗi giờ trồng lúa có chi phí có hội cao xét về số lượng cá bị bỏ qua, nhưng họ không có sự lựa chọn nào khác ngoài việc dành thời gian để trồng lúa. Giả sử những người dân Agria rất giỏi trồng lúa nhưng không có tài đánh bắt cá. Khi đó, chi phí cơ hội cao xét từ khía cạnh thời gian không được dùng để trồng lúa. Nếu hai nước có thể trao đổi thương mại với nhau thì họ có thể tập trung vào ngành nghề mà mình thực hiện tốt nhất.

Các nhà kinh tế nói rằng các nước sẽ chuyên môn hóa theo lợi thế so sánh của mình. Điều này sẽ đảm bảo rằng tổng sản lượng được sản xuất sẽ tăng ở cả hai nước và mỗi nước sẽ có khả năng tiêu dùng lúa gạo và cá nhiều hơn khi không có thương mại. Quyết định chuyên môn hóa vào ngành nào phụ thuộc vào việc một nước thực hiện một ngành nghề nào là tốt nhất so với các ngành nghề khác. Người dân Pescatia có thể là những nông dân giởi hơn nông dân ở Agria, do mỗi giờ làm nghề nông thì người dân Pescatia thu hoạc được vụ mùa có năng suất cao hơn. Tuy nhiên, nếu mỗi giờ người dân Pescatica làm nghề nông có chi phí cao hơn xét từ lượng cá bị bỏ qua so với mỗi giờ làm nghề nông ở Agria, khi đó Pescatia nên chuyên môn hóa việc đánh bắt. Vấn đề không phải là lợi thế tuyệt đối mà là lợi thế tương đối. Thương mại quốc tế tạo cơ hội cho các nước chuyên môn hóa sản xuất theo lợi thế so sánh của họ.

Thuế quan. Bản chào mở cửa thị trường của Việt Nam cam kết giảm mức thuế quan bình quân giản đơn khoảng 11,4% đối với tất cả các loại hàng hóa và ràng buộc hầu như toàn bộ tất cả các dòng thuế với khoảng thời gian thực hiện là 7 năm. Các cam kết thuế có ý nghĩa khá lớn đối với nhiều dòng thuế. Một yếu tố đặc biệt quan trọng của gói cam kết này là việc các nhượng bộ sẽ làm giảm mức độ bảo hộ thực tế đối với hàng nông sản của Việt Nam. Mức thuế ràng buộc bình quân đối với nông sản được giảm từ mức 25,2% xuống còn 21%, đưa mức thuế cam kết của Việt Nam thấp hơn mức của các Thành viên WTO trong khu vực như Thái Lan và Philíppin (Báo cáo phát triển năm 2006 của Việt Nam). (thông thi chi tiết về thuế quan xem tại Chương III).

Trợ cấp. Việt Nam bị yêu cầu phải cắt giảm tất cả các khoản trợ cấp, kể cả trợ giá và do đó sẽ làm tăng giá thị trường. Các cam kết của Việt Nam trong WTO cũng bao gồm việc loại bỏ các khoản trợ cấp liên quan tới thương mại đối với sản xuất công nghiệp và đầu tư trước năm 2013, đồng thời trợ cấp cho ngành dệt may sẽ bị xóa bỏ ngay sau khi gia nhập. Các cam kết trợ cấp còn bao gồm cả việc loại bỏ hoàn toàn trợ cấp xuát khẩu đối với nông sản cho các mặt hàng cà phê, chè, rau quả và thịt lợn ngay tại thời điểm gia nhập WTO và các nghĩa vụ tự do hóa khác (xem phân tích sâu hơn tại Chương III dưới đây).

Thương mại nhà nước. Các hoạt động thương mại nhà nước cũng bị thay đổi đáng kể và quyền kinh doanh được dành cho các doanh nghiệp tư nhân – cả các doanh nghiệp trong và doanh nghiệp nước ngoài. Chính phủ Việt Nam hiện đang thực hiện quá trình cải cách đầy khó khăn đối với nhiều doanh nghiệp nhà nước hoạt động từ cơ chế ngoại thương tập trung trước đây (Diem, Ngo Van, 2007 and Son, Nguyen, 2007).

Liên quan tới cái “giá” để gia nhập WTO xét về mặt các nhượng bộ thuế quan, cần phải chú ý rằng ngành sản xuất hàng hóa trong nước của Việt Nam không phải cạnh tranh hoàn toàn với bên ngoài vì (a) vẫn tồn tại sự bảo hộ đáng kể đối với rất nhiều dòng thuế và (b) trong rất nhiều trường hợp, Việt Nam được hưởng linh hoạt đáng kể để bảo hộ các ngành nhạy cảm. Đặc biệt, Việt Nam có thể tăng hầu hết các dòng thuế của mình kể cả sau khi gia nhập WTO vì các mức thuế ràng buộc trong rất nhiều trường hợp lại cao hơn mức thuế áp dụng hiện hành. (Ràng buộc cao hơn hiện hành tức là mức thuế ràng buộc trong biểu cam kết WTO lại cao hơn mức thuế đang áp dụng thực tế). Hơn nữa, rất nhiều quá trình tự do hóa tại Việt Nam đã diễn ra trước khi gia nhập WTO, khi mà Việt Nam thực thi các thỏa thuận khu vực ký kết trước năm 2007. Do đó, rất nhiều nhượng bộ thuế quan mà Việt Nam đưa ra có thể sẽ có tác động thấp hơn những gì các con số ở phía trên thể hiện. (Xem thêm chi tiết tại Chương III dưới đây).

Chính phủ Việt Nam cũng có thể giúp các nhà sản xuất hàng nông sản đối phó với việc loại bỏ trợ cấp xuất khẩu đối với nông sản bằng việc duy trì các “hỗ trợ bóp méo thương mại”, mức duy trì này có thể nhiều hơn mức tiêu chuẩn mà WTO cho phép dành cho các nước đang phát triển. Tương tự, một số sản phẩm như trứng, đường, muối và lá thuốc là tiếp tục được bảo hộ một phần thông qua hạn ngạch thuế quan (TRQs), phương pháp áp dụng mức thuế quan cao đối với lượng nhập khẩu vượt quá một mức “hạn ngạch” nhập khẩu.

Bức tranh tổng quan về các cam kết dịch vụ (tức là các nhượng bộ theo GATS) cũng cho thấy một tình hình tương tự xét về cái “giá phải trả” để gia nhập WTO (Tài liệu WT/ACC/VNM/48/Add.2, ngày 27 tháng 10 năm 2006). Các cam kết chính trong lĩnh vực dịch vụ bao gồm hạn chế mức góp vốn của nước ngoài trong các ngành dịch vụ (ví dụ phía nước ngoài được chiếm 100% trong ngành kế toán ngay sau khi gia nhập hay phía nước ngoài được chiếm 100% sau 5 năm kể từ ngày gia nhập) (Xem thêm Chương VI). Về số lượng các phân ngành dịch vụ (danh mục phân loại của WTO bao gồm 160 phân ngành) mà các nước cam kết như một tiêu chí để so sánh về “giá phải trả” khi gia nhập WTO từ quan điểm trọng thương, chúng ta có thể nhận thấy các nước kém phát triển là thành viên sáng lập WTO chỉ cam kết khoảng 20 phân ngành. Số lượng trung bình các phân ngành mà các nước đang phát triển và phát triển cam kết lần lượt là 44 và 108. Việt Nam đã cam kết mở cửa 11 ngành và khoảng110 phân ngành dịch vụ (có thể thấy khá rõ đây chỉ là một đánh giá sơ bộ về giá phải trả “liên quan tới dịch vụ” để gia nhập và con số này không nói lên bản chất và mức độ tự do hóa). Tuy nhiên, tương tự như đối với hàng hóa, các ngành dịch vụ của Việt Nam không hoàn toàn phải đối mặt với cạnh tranh từ nước ngoài do nhiều ngành dịch vụ của Việt Nam vẫn duy trì hạn chế đối với sự tham gia của nước ngoài.

Rất khó có thể dự đoán liệu Việt Nam có tự do hóa cơ chế thương mại của mình ở mức độ tương tự hay không nếu như không gia nhập WTO. Về mặt kinh tế, đã được chứng minh được quá trình tự do hóa trong nước làm tăng hiệu quả nhiều hơn so với việc cải thiện khả năng tiếp cận thị trường nước ngoài, do đó, lợi ích thu được từ việc Việt Nam gia nhập WTO sẽ lớn hơn so với việc không gia nhập. Việc các cam kết gia nhập WTO của Việt Nam có vượt quá các thỏa thuận hiện hành của WTO hay không phụ thuộc phần lớn vào diễn giải chủ quan. Thứ nhất, một số nghĩa vụ WTO cộng đề cập tới các luật lệ chỉ liên quan tới quá trình tham vấn hoặc báo cáo cho WTO. Các nghĩa vụ khác là nghĩa vụ cơ bản, ví dụ như việc Việt Nam chấp nhận xóa bỏ trợ cấp xuất khẩu nông sản ngay sau khi gia nhập trong khi các khoản trợ cấp này vẫn được nhiều Thành viên sáng lập ra WTO áp dụng. Thật đáng tiếc là các cam kết WTO cộng và WTO trừ dẫn tới việc phân biệt các Thành viên do các cam kết này tạo ra hệ thống thương mại đa phương gồm nhiều mức khác nhau.

Rõ ràng, các cam kết mở cửa thị trường mà Việt Nam đưa ra cũng sẽ tạo thách thức đáng kể như nhau đối với các nhà sản xuất và cung cấp dịch vụ trong khu vực tư nhân cũng như khu vực nhà nước và sẽ đóng một vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy các nỗ lực cải cách kinh tế trong tương lai.

7. Chính sách trong nước và gia nhập WTO

Bên cạnh tự do hóa thương mại, gia nhập WTO là một cam kết pháp lý có tác động sâu rộng tới nhiều chính sách kinh tế trong nước. Những thay đổi về mặt chính sách mà các nước mới gia nhập áp dụng khi gia nhập WTO thường liên quan tới nhiều biện pháp trong nước. Đối với Việt Nam, thực tế đã chứng minh cần đưa ra các cải cách toàn diện để các quy định và chính sách trong nước của Việt Nam phù hợp với các quy tắc của WTO. Trong quá trình đàm phán gia nhập WTO, Việt Nam về cơ bản đã điều chỉnh lại toàn bộ hệ thống pháp lý đối với các hoạt động thương mại và các thủ tục pháp lý (US Aid, 2007). Đặc biệt, cần tăng cường minh bạch hóa và thúc đẩy một hệ thống pháp trị. Trong cam kết “cả gói” của mình, Việt Nam đồng ý đưa ra một số biện pháp chính sách cụ thể như tự do hóa các biện pháp kiểm soát giá và cải cách các mức thuế tiêu thụ đặc biệt và tư nhân hóa các doanh nghiệp nhà nước. Việt Nam cũng đồng ý tuân thủ với các quy tắc của WTO về sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm (SPS), rào cản kỹ thuật đối với thương mại (TBT), ưu đãi đầu tư, giá trị hải quan, cấp phép nhập khẩu, Quy tắc xuất xứ và thủ tục chống bán phá giá. Các biện pháp được soạn thảo nhằm hạn chế vai trò của một nền kinh tế do Nhà nước dẫn dắt cũng bao gồm việc tự do hóa quyền kinh doanh ngoại thương. Những cải thiện nữa bao gồm thiết lập điểm hỏi đáp dịch vụ, TBT và SPS. Tất cả các nội dung này sẽ được trình bày chi tiết hơn tại các chương tiếp theo. Bây giờ chúng ta sẽ chuyển sang phần tác động của việc gia nhập WTO đối với Chính phủ Việt Nam.

Khó thực hiện chính sách bảo hộ hơn. Tăng cường tiếp cận thị trường ở nước ngoài và được quốc tế công nhận khi gia nhập WTO có thể hỗ trợ Chính phủ vượt qua những ý kiến của các nhóm trong nước phản đối tự do hóa thương mại và cải cách theo cơ chế thị trường. Khi trở thành Thành viên của WTO, việc phản đối một biện pháp chính sách cụ thể nào đó sẽ khiến câu hỏi về một số lợi ích tiềm năng của việc gia nhập WTO xuất hiện một cách tự nhiên và điều này sẽ tạo điều kiện cho các cơ quan chức năng dễ dàng hơn trong việc tìm kiếm sự ủng hộ chính trị đầy đủ nhằm thực hiện quá trình tái điều tiết. Do đó, độ tin cậy của một Chính phủ có tư tưởng cởi mở của Việt Nam sẽ được tăng cường nếu như Chính phủ có thể “tự vượt qua chính mình” thông qua việc trở thành Thành viên WTO (Francois và Martin, 2007). Tác động quốc tế của việc không thực hiện các cải cách đã cam kết sẽ là rất lớn về mặt chính trị đối với Chính phủ, do đó Chính phủ rất có thể sẽ thực hiện đầy đủ các chính sách cải cách của mình. Hơn nữa, nếu như sự thống nhất về chính sách giữa Ngân hàng Thế giới, Quỹ Tiền tệ Quốc tế và WTO được cải thiện, các cam kết khi gia nhập WTO có thể sẽ thúc đẩy các điều khoản tương tự trong các chương trình chuyển đổi mà IMF hoặc Ngân hàng Thế giới tài trợ trong các lĩnh vực như ổn định kinh tế vĩ mô, cán cân thanh toán, trợ cấp hoặc chính sách tư nhân hóa. Chính phủ cần phân tích kỹ tác động của tự do hóa thương mại không chỉ đối với nền kinh tế mà đổi với tổng thể toàn xã hội. Điều này đòi hỏi phải thiết lập và cải thiện các thể chế an sinh xã hội nhằm tạo điều kiện cho họ có thể hỗ trợ một số nhóm doanh nghiệp và dân cư cụ thể, đặc biệt những người nghèo, những người mà hiện nay rất có thể là người chịu thua thiệt trong quá trình toàn cầu hỏa.1

Chính sách kinh tế phải phù hợp với các quy định của WTO. Gia nhập WTO thường khuyến khích việc quản lý kinh tế dựa trên các quy định pháp lý, việc cải cách toàn diện hệ thống pháp luật của Việt Nam đã diễn ra và rất có thể sẽ tiếp tục trong nhiều năm tới. Trước tiên, quá trình này cho thấy các luật lệ, quy định và quyết định hành chính đã minh bạch hơn. Các quy tắc của WTO khuyến khích việc công bố nhanh chóng trên tạp chí chính thức tất cả các luật và quyết định hành chính áp dụng chung cũng như thông tin liên hệ cần phải công khai cho công chúng trước khi các luật, quyết định này có hiệu lực. Bên cạnh đó, các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cũng bị yêu cầu phải dành cho các cá nhân trong và ngoài nước cơ hội nhận xét các dự thảo văn bản pháp luật do các cơ quản lý Trung ương và địa phương đề xuất. Thứ hai, quá trình này cho thấy Việt Nam phải duy trì một hệ thống các cơ quan xét xử tư pháp và hành chính cho phép khiếu nại các quyết định hành chính đối với các vấn đề mà WTO điều chỉnh. Tất cả các quyết định như vậy sẽ có thể được khiếu kiện ra tòa và các bên sẽ được thông báo bằng văn bản về quyết định liên quan tới việc khiếu kiện đó cũng như lý do khiếu kiện. Cuối cùng, Việt Nam được yêu cầu phải quản lý một cách thống nhất, khách quan và hợp lý tất cả các luật, quy định và các thủ tục hành chính áp dụng chung ở cả cấp Trung ương và địa phương. Việc thực thi hiệu quả tất cả các cam kết này – những cam kết vốn đầu tiên được đưa ra theo các nghĩa vụ trong BTA và sau đó được củng cố, mở rộng thông qua việc áp dụng các quy tắc của WTO – sẽ đòi hỏi phải tăng cường đáng kể hệ thống pháp luật và thể chế của Việt Nam. Rõ ràng rằng các chủ thể kinh tế, kể cả tư nhân và nhà nước – tham gia vào hoạt động thương mại, đầu tư hoặc nghiên cứu và phát triển trong một nền kinh tế dựa trên các nguyên tắc thị trường cần có một sự đảm bảo cơ bn về quyền sở hữu trí tuệ, thực thi hợp đồng, bảo vệ chống lại các hành vi phản cạnh tranh, sự vận hành của thị trường tài chính và chứng khoán cũng như khuôn khổ pháp luật vững chắc cho việc thành lập, hoạt động và giải thể của các đơn vị kinh tế khác nhau. Do đó, Việt Nam đã bắt đầu thực hiện các chương trình lớn nhằm xây dựng thể chế và pháp luật, luật quản lý công và chống tham nhũng. Có thể nói rằng quá trình gia nhập WTO, trước đó là việc thực hiện các cam kết trong BTA là chất xúc tác chính cho quá trình cải cách hệ thống trong hệ thống pháp luật, quản lý và hành chính. Những bước tiến này tạo nền tảng vững chắc cho việc thực hiện mục tiêu của Việt Nam là xây dựng một quốc gia xã hội chủ nghĩa dựa trên cơ sở pháp trị và cải cách xã hội theo định hướng thị trường cũng như phát triển khu vực tư nhân một cách tổng thể. Các doanh nghiệp nhà nước sẽ mang định hướng thị trường nhiều hơn hoặc sẽ được cổ phần hóa; đặc điểm của quá trình này là cách tiếp cận hỗ trợ các hoạt động kinh doanh nhiều hơn của các cơ quan quản lý Trung ương và địa phương, nỗ lực giảm quan liêu trong việc xử lý các vấn đề kinh tế cũng như tăng cường minh bạch. Các tổ chức kinh doanh trong và ngoài nước đóng vai trò tư vấn nhiều hơn trong việc hoạch định chính sách và dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài nhiều hơn sẽ đẩy nhanh xu hướng này. (Khía cạnh pháp lý của việc Việt Nam gia nhập WTO sẽ được thảo luận trong Chương VII).

Những ưu đãi theo từng ngành cụ thể sẽ dần dần được loại bỏ. Gia nhập WTO sẽ giúp giảm sự phân biệt đối xử, tạo thuận lợi cho một số ngành cụ thể trong nền kinh tế Việt Nam. Các chính sách ngày càng thống nhất đối với tất cả các ngành từ lâu đã là mục tiêu của quá trình tự do hóa thuế quan trong các vòng đàm phán liên tiếp của GATT. Trên thực tế, các mức thuế thống nhất sẽ góp phần làm giảm sự khác biệt giữa mức thuế bảo hộ thực tế (tức là bảo hộ giá trị gia tăng) trong các ngành khác nhau và do đó cải thiện việc phân bổ các nguồn lực. Điều này đặc biệt đúng đối với một nền kinh tế đang trong giai đoạn chuyển đổi như Việt Nam, nơi mà hệ thống chính trị đang tiếp tục phát triển. Như kinh nghiệm của nhiều nền kinh tế chuyển đổi đã chỉ ra, với việc các cơ quan quản lý đang thay đổi bản chất của mình, các nhóm ngành thường thành lập các nhóm vận động hành lang nhiều quyền lực và nếu như không được kiểm tra, giám sát, có thể các ngành này sẽ được Chính phủ dành được lợi ích đặc biệt (Olson, 2000, McMenamin, 2002, Kostecki, 2007). Rủi ro của các hành vi tìm kiếm lợi ích đó tại Việt Nam được giảm thiểu nhờ các quy tắc cụ thể của WTO. Phân tích sâu về các nhượng bộ thuế quan của Việt Nam (Chương III) cho thấy các cam kết WTO đã làm giảm đáng kể sự khác biệt giữa mức bảo hộ hiệu quả giữa các ngành khác nhau trong nền kinh tế Việt Nam.

Cần thiết phải thực thi quyền sở hữu trí tuệ. Khi gia nhập WTO, Việt Nam cũng giống như bất kỳ Thành viên nào khác của WTO phải chấp nhận áp dụng toàn bộ Hiệp định về Quyền sở hữu trí tuệ liên quan tới Thương mại (TRIPS). Điều này đòi hỏi có sự cải thiện đáng kể hệ thống bảo hộ sở hữu trí tuệ (IP) của Việt Nam để hệ thống này tương thích với các yêu cầu của Hiệp định TRIPs. Những thay đổi này liên quan tới cả khuôn khổ pháp lý và thể chế tại Việt Nam, việc áp dụng nguyên tắc MFN và đối xử quốc gia đối với các doanh nghiệp và cá nhân nước ngoài, các tiêu chuẩn về nội dung đối với bảo hộ sở hữu trí tuệ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ trong quá trình gia nhập và sau khi gia nhập WTO. Nhờ có những thay đổi quan trọng này, các quy định pháp luật hiện hành tại Việt Nam nhìn chung phù hợp với các yêu cầu của WTO và nhiều khả năng sẽ có cải thiện hơn nữa trong việc thực thi. (Xem thảo luận sâu hơn về vấn đề này tại Chương V dưới đây).

Chính sách thống nhất giữa các vùng. Tại các nước có nhiều khuynh hướng phân chia theo vùng, quan điểm của Chính quyền Trung ương và sự hội nhập của thị trường quốc gia sẽ được củng cố khi gia nhập WTO. Các chính sách liên quan tới thương mại về cơ bản sẽ giống nhau giữa các vùng, địa phương, điều này có nghĩa cả nhà sản xuất và người tiêu dùng sẽ được hưởng lợi nhờ tăng cường cạnh tranh và tính kinh tế nhờ quy mô của một thị trường không bị phân chia. Hơn nữa, ngay cả khi Việt Nam vẫn bị phân tách về mặt kinh tế do chi phí vận tải, hạn chế về di chuyển lao động và sự khác biệt trong mức độ phát triển giữa các vùng, việc gia nhập WTO đảm bảo rằng các nhà cung cấp trong nước và nước ngoài được quyền bình đẳng trong việc tiếp cận tất cả các khu vực của nền kinh tế Việt Nam và có thể đóng góp vào sự phát triển của các vùng trong tương lai.

Cách tiếp cận cân bằng đối với hội nhập khu vực. Việc trở thành Thành viên WTO giúp việc hội nhập kinh tế khu vực trở nên hài hòa hơn (Việt Nam đang tham gia vào quá trình này) theo các nguyên tắc của hệ thống thương mại đa phương. Khía cạnh này rất quan trọng trong bối cảnh Việt Nam tham gia Khu vực Mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), Khu vực Mậu dịch tự do ASEAN – Trung Quốc (ACFTA), và các Khu vực Mậu dịch tự do khác đang được đàm phán với Hàn Quốc và Nhật Bản. Đối với một nước không phải là mục tiêu địa chính trị của Trung Quốc hoặc Nhật Bản, việc trở thành Thành viên của WTO tạo ra một mức chuẩn để kiểm tra tính tương thích của các thỏa thuận khu vực với tổng thể quá trình tự do hóa. Quá trình này có thể giúp Việt Nam thu thập lợi ích hiệu quả dự kiến nhờ việc tiếp tục hội nhập sâu vào hệ thống thương mại đa phương. Sự bổ sung giữa tính khu vực và toàn cầu trong quá trình hội nhập dựa trên WTO là rất quan trọng khi thành viên của một nhóm khu vực áp dụng cách tiếp cận “cả nhóm” để gia nhập WTO một cách đồng thời như trường hợp của Đông Nam và Trung Á.2

Củng cố định hướng quốc tế. Gia nhập WTO khiến cho Việt Nam trở nên hấp dẫn hơn đối với các nhà xuất khẩu và đầu tư trực tiếp nước ngoài. Nó cũng cho phép các doanh nghiệp Việt Nam phát triển các hoạt động quốc tế của mình. Điều này không chỉ nhờ vào tác động tâm lý, các chính sách trong nước cởi mở và hợp lý hơn cùng quá trình phi điều tiết hóa mà còn nhờ vào sự chấp nhận các quy tắc của WTO về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. Xu hướng này dẫn tới sự phụ thuộc lẫn nhau nhiều hơn giữa Việt Nam và các nước khác, cho thấy Chính phủ Việt Nam và Chính phủ các nước này sẽ tăng cường tham vấn về các vấn đề chính sách kinh tế khác nhau và hoạch định các chính sách của mình với nhận thức rõ ràng về tác động quốc tế của các chính sách này. Cụ thể hơn, quá trình này cũng đòi hỏi Việt Nam duy trì một mạng lưới các chuyên gia về WTO tại các Bộ ngành thuộc Chính phủ và một nhóm các nhà ngoại giao tại Geneva và một số nơi khác để đảm bảo việc tham gia tích cực vào các vấn đề WTO và bảo vệ quyền lợi của mình tại các diễn đàn thương mại ở cấp đa phương, khu vực và song phương.

Hầu như không có nghi ngờ gì đối với việc quá trình gia nhập WTO sẽ ảnh hưởng tới quá trình hoạch định chính sách kinh tế tại Việt Nam và tạo động lực cho tăng trưởng phát triển kinh tế và xã hội. Tổng thu nhập bình quân đầu người (GDP) của Việt Nam đã tăng 5,9% một năm trong suốt giai đoạn 1993-2005 và đã đạt mức tăng 8% vào các năm 2005 và 2006. Một trong những lý do quan trọng dẫn tới thành công này là quá trình tự do hóa kinh tế: máy móc và thiết bị nhập khẩu rẻ hơn, tiếp cận các dịch vụ có chất lượng của nước ngoài, thị trường nội địa trở nên cạnh tranh hơn và Việt Nam trở nên hấp dẫn hơn đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Xu hướng phát triển này cũng rất quan trọng nếu xét từ khía cạnh tỷ lệ đói nghèo của Việt Nam đã giảm từ 57% vào năm 1995 xuống xòn

20% và tốc độ tăng trường cao – so với những diễn biến tại nhiều nước khác – chỉ làm tăng sự phân biệt giàu nghèo chút ít. Trên thực tế, chỉ số Gini về bình đẳng chỉ ở mức 0,37 vào năm 2004 (Báo cáo Phát triển Việt Nam năm 2006). Điều này cho thấy “phần bánh” mà khu vực nghèo nhất của Việt Nam thu được tiếp tục tăng kể từ khi Việt Nam bắt đầu tiến hành các cải cách liên quan tới WTO, dẫn tới tăng trưởng kinh tế cao hơn và các chính sách xã hội hiệu quả hơn.

8. Tác động tới doanh nghiệp

Có nhiều bằng chứng cho thấy các doanh nghiệp Việt Nam đã phản ứng tích cực trước những thuận lợi mà quá trình gia nhập WTO đem lại. Phản ứng của các doanh nghiệp đối với các cam kết gia nhập WTO phụ thuộc vào hai yếu tố quan trọng. Thứ nhất, mức độ tự do hóa các rào cản đối với thương mại và các nhà xuất khẩu của Việt Nam cũng như các nhà doanh nghiệp nước ngoài xuất khẩu sang Việt Nam gặp phải. Thứ hai, mức độ nhận thức và khả năng của các doanh nghiệp Việt Nam trong việc tận dụng cơ hội tăng cường khả năng tiếp cận các thị trường nước ngoài và khả năng điều chỉnh trong môi trường cạnh tranh cao hơn tại thị trường trong nước. Nói cách khác, việc gia nhập WTO có thúc đẩy xuất khẩu của Việt Nam hay không không chỉ phụ thuộc vào những thay đổi tích cực trong việc tiếp cận thị trường do quá trình gia nhập WTO đem lại mà còn phụ thuộc vào các hành động cụ thể của Chính phủ Việt Nam và các doanh nghiệp. Đặc biệt, thành công xuất khẩu sẽ phụ thuộc vào thông tin kinh doanh, cơ sở hạ tầng cho các nhà xuất khẩu và tinh thần doanh nghiệp của họ. Cả Đảng Cộng sản Việt Nam và Chính phủ đều nhận thức đầy đủ về các vấn đề này, như được thể hiện trong Nghị quyết và Chương trình hành động năm 2007 liên quan tới việc Việt Nam gia nhập WTO (Chính phủ Việt Nam năm 2007). Nghị quyết này kêu gọi tăng cường hỗ trợ kỹ thuật cho các doanh nghiệp Việt Nam để tận dụng cơ hội và điểu chỉnh trước những thay đổi về thể chế do việc gia nhập WTO đem lại.

Phản ứng chiến lược. Tuy nhiên, gia nhập WTO không phải là một “thần dược” đối với nhiều doanh nghiệp Việt Nam. Trên thực tế, trong một số khía cạnh quan trọng, gia nhập có thể làm tăng thách thức mà các doanh nghiệp trong nước gặp phải. Loại bỏ trợ cấp và giảm thuế nhập khẩu được coi là sẽ khiến một số ngành trong nước gặp nhiều khó khăn hơn và sẽ phải điều chỉnh. Rất nhiều cam kết cắt giảm thuế quan đã được thực thi và các cam kết khác sẽ được thực hiện trong tương lai gần. Quá trình này đòi hỏi các doanh nghiệp phải giám sát những sự thay đổi và đề ra phản ứng chiến lược hợp lý (ở mức độ công ty, phản ứng chiến lược đề cập tới phản ứng trước những điều chỉnh cơ cấu ở cấp kinh tế vĩ mô). Rõ ràng, các mức thuế suất bình quân không có ý nghĩa nhiều đối với các doanh nghiệp, từng doanh nghiệp phải tự mình xem xét các dòng thuế cụ thể và phân tích khả năng cạnh tranh của mình tại từng thị trường xuất khẩu cụ thể. Trong quá trình này, cần phải xem xét kỹ các cam kết trong các thỏa thuận hội nhập khu vực mà Việt Nam đã tham gia trước khi có thể phân tích đầy đủ quá trình tự do hóa mà WTO đem lại xét về khía cạnh thị trường. Ví dụ, trong khuôn khổ Hiệp định ASEAN – Trung Quốc, Việt Nam đã cam kết từ năm 2008 sẽ áp dụng thuế suất 0% đối với thịt lợn nhập khẩu và trong bối cảnh này, bất kỳ cam kết cắt giảm nào đối với thịt bò trong WTO trong thời điểm hiện nay sẽ không có ý nghĩa quan trọng trên thực tế vì rất ít Thành viên WTO có khả năng cạnh tranh với Trung Quốc đối với mặt hàng này. Do đó, các công ty cần bổ sung các thông tin liên quan tới WTO vào dữ liệu thông tin thị trường của mình và cân nhắc những diễn biến trong hệ thống WTO khi xem xét các lựa chọn chiến lược dài hạn (ITC, 2001). Ví dụ, quá trình tự do hóa thương mại đa biên có thể làm xói mòn những ưu đãi thuế quan mà Việt Nam được hưởng tại một số nước phát triển nhất định nhờ quy chế đối xử đặc biệt và khác biệt. Sự xói mòn này có thể làm giảm khả năng cạnh tranh do tác động phân hóa thương mại của các thỏa thuận hội nhập khu vực. Ví dụ, trường hợp một số nhà sản xuất hàng dệt may của Việt Nam đang gặp phải cạnh tranh ngày càng tăng trên thị trường EU sau khi một số nước Đông Âu có ngành sản xuất hàng dệt may lớn gia nhập EU.

Các cuộc đàm phán dịch vụ cũng tạo ra nhiều thách thức cho Việt Nam, tuy nhiên trong lĩnh vực dịch vụ thì một số cam kết WTO trong một số ngành/phân ngành, ví dụ như ngân hàng và bảo hiểm, đã được tự do hóa ở một số Hiệp định khác như Hiệp định Thương mại song phương (BTA) giữa Việt Nam và Hoa Kỳ. Tương tự như đối với hàng hóa, các nhà quản lý khi phân tích các cam kết WTO phải so sánh chúng với các cam kết khu vực. Liên quan tới vấn đề sở hữu, một yếu tố quan trọng là cần phân tích chính xác những lĩnh vực cho phép nước ngoài chiếm sở hữu đa số ngay tại thời điểm gia nhập hoặc sau một giai đoạn chuyển tiếp nhất định. Có thể tham khảo rất nhiều thông tin liên quan trên các trang thông tin điện tử của Bộ Tài chính tại Hà Nội.

Hộp 3

Chiến lược kinh doanh trước những diễn biến mới trong hệ thống

Thương mại: Một số vấn đề cho các doanh nghiệp Việt Nam

1. Có những cơ hội tiếp cận thị trường mới nào ở nước ngoài mà các cuộc đàm phán WTO cũng như các thỏa thuận thương mại khu vực hoặc song phương đem lại, doanh nghiệp cần có chiến lược gì để tận dụng các cơ hội này? Có cần điều chỉnh chiến lược sản phẩm, giá và đa dạng hóa tại các thị trường xuất khẩu hay không?

2. Những thay đổi trong môi trường pháp lý ở nước ngoài ảnh hưởng như thế nào tới vị thế của doanh nghiệp? Cụ thể, (i) tác động của quá trình hội nhập khu vực đối với vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp (ii) tác động của việc giảm ưu đãi đối với doanh nghiệp do Chính phủ các nước đưa ra các cam kết trong WTO là như thế nào (iii) Có những thay đổi nào trong các quy định pháp lý về TBT, SPS hoặc sở hữu trí tuệ mà doanh nghiệp cần phản ứng?

3. Doanh nghiệp cần phản ứng như thế nào trước việc các doanh nghiệp nước ngoài tăng cường cạnh tranh trên thị trường nội địa? Cần có quy trình quản lý nào? Doanh nghiệp có thể tiếp cận các đầu vào nào với giá rẻ hơn nhờ quá trình tự do hóa thương mại?

4. Doanh nghiệp cần điều chỉnh chiến lược như thế nào để phù hợp với môi trường pháp lý mới tại Việt Nam đối với quyền sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn kỹ thuật và vệ sinh dịch tễ?

5. Những nguy cơ nào từ việc bị coi là bán phá giá cũng như các biện pháp đối kháng đối với doanh nghiệp và có thể giảm thiểu các nguy cơ này như thế nào? Trong những tình huống nào thì doanh nghiệp hoặc hiệp hội ngành có thể bắt đầu chống bán phá giá hoặc chống đối khác chống lại các công ty nước ngoài hoạt động tại Việt Nam?

6. Các doanh nghiệp cần quan tâm tới các đề xuất cụ thể nào về tự do hóa thương mại hoặc bảo hộ nào? Các doanh nghiệp khác có thể quan tâm tới các vấn để nào để ủng hộ quan điểm của doanh nghiệp? Có thể áp dụng chiến lược phổ biến nào để kêu gọi các hành động phù hợp với WTO nhằm hỗ trợ một ngành cụ thể trong nước hoặc doanh nghiệp?

7. Hiệp hội doanh nghiệp có thể đóng vai trò mới nào trong quá trình hoạch định chính sách? Cụ thể, các hiệp hội doanh nghiệp có thể đóng vai trò hữu ích như thế nào trong việc thu thập thông tin kinh tế, đào tạo, phát triển chiến lược xuất khẩu của một ngành cụ thể, tìm kiếm đối tác quốc tế, phổ biến thông tin, v.v…? Doanh nghiệp có thể yêu cầu những hỗ trợ nào từ Chính phủ hoặc các tổ chức quốc tế nhằm tài trợ cho các dự án, quá trình điều chỉnh cơ cấu hoặc phát triển xuất khẩu của mình?

Yêu cầu hỗ trợ. Các Hiệp hội doanh nghiệp cần được tư vấn để điều chỉnh cách tiếp cận của họ trong việc yêu cầu trợ cấp. Các công ty sẽ không thể yêu cầu Chính phủ trợ cấp xuất khẩu cho hàng hóa sản xuất trong nước do Việt Nam đã cam kết loại bỏ các khoản trợ cấp này. Tuy nhiên, các doanh nghiệp Việt Nam có thể xin được hỗ trợ đối với một số dự án nghiên cứu và phát triển (R&D), xúc tiến xuất khẩu của một số cơ quan chính phủ chuyên trách, v.v… Các doanh nghiệp cũng nên biết rằng có những loại trợ cấp phù hợp với quy định của WTO. Tuy nhiên, những người chuẩn bị yêu cầu trợ cấp cần nắm vững các quy định của WTO để có cơ sở phù hợp. Các công ty luật của Việt Nam sẽ có nhiều thị trường cho dịch vụ tư vấn các vấn đề liên quan tới WTO trong lĩnh vực này cũng như các lĩnh vực khác như thủ tục chống bán phá giá, định giá hải quan và tiêu chuẩn kỹ thuật, v.v…

Các vấn đề sở hữu trí tuệ. Giám đốc các doanh nghiệp sản xuất hàng nhái hoặc vi phạm các quy định về sở hữu trí tuệ sẽ có nhiều khả năng bị truy tố hình sự và dân sự tại Việt Nam. Nguy cơ này đang tăng lên do các công ty nước ngoài ngày càng có cách tiếp cận chủ động hơn đối với việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của họ tại Việt Nam và các cơ quan quản lý của Việt Nam đã đạt được tiến bộ trong việc thực thi các sáng kiến pháp luật khác nhau để thực thi các cam kết TRIPs của Việt Nam. Các quy tắc pháp lý chặt chẽ hơn về sở hữu trí tuệ đã tạo điều kiện cho nhiều doanh nghiệp Việt Nam bảo hộ các sáng chế và tài sản marketing của họ hoặc tìm đối tác với các chủ sở hữu tài sản trí tuệ nước ngoài. Do các công ty Việt Nam đang ngày càng quan tâm nhiều hơn tới việc bảo vệ các bằng sáng chế, thương hiệu và các quyền sở hữu trí tuệ của họ cũng như việc đảm bảo hàng xuất khẩu của mình tuân thủ các quy tắc về sở hữu trí tuệ của nước ngoài, do đó cũng có nhu cầu sử dụng các nhà tư vấn trong lĩnh vực kinh doanh và các chuyên gia pháp lý. Rõ ràng, việc tăng cường cải thiện bảo vệ sở hữu trí tuệ tại Việt Nam đã có tác động tích cực tới đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDIs) của nhiều công ty công nghệ cao đồng thời cũng là những doanh nghiệp sử dụng nhiều tài sản trí tuệ. Các nhà xuất khẩu Việt Nam sẽ có nhận thức cao hơn về thương hiệu và học được các kỹ năng xây dựng thương hiệu, hình ảnh và các kỹ năng tiếp thị khác nhằm để nâng giá sản phẩm của mình trên các thị trường toàn cầu. Giáo dục, đào tạo thực hành và nghiên cứu tiếp thị là các ưu tiên khẩn thiết đối với nhiều ngành trong nước. (Xem thêm Chương V).

Các tiêu chuẩn kỹ thuật và vệ sinh dịch tễ. Việc mở rộng xuất khẩu của các nhà sản xuất Việt Nam thường bị cản trở bởi các tiêu chuẩn kỹ thuật và vệ sinh dịch tễ, các tiêu chuẩn này được các Hiệp định của WTO điều chỉnh. Có thể cần tổ chức các chương trình thâm nhập thị trường thông qua các quy định kỹ thuật cho các ngành cụ thể của Việt Nam theo từng vấn đề nhằm thúc đẩy các cơ hội xuất khẩu thông qua việc xác định các lĩnh vực có thể tuân thủ được các tiêu chuẩn trong ngắn hạn hoặc xác định các vấn đề cần phải đàm phán với các Thành viên liên quan nhằm đưa ra các quy tắc và thủ tục khác nhau (nhưng tương đương), tạo điều kiện cho xuất khẩu của Việt Nam (ITC, 2001).

Hỗ trợ doanh nghiệp. Việc Việt Nam gia nhập WTO tạo ra nhu cầu cần hỗ trợ doanh nghiệp. Một mặt, nhiều hiệp hội ngành, phòng Thương mại và Công nghiệp và các tổ chức chuyên môn cần thực thi các chính sách tích cực nhằm bảo vệ quyền lợi của các thành viên trong quá trình đưa ra chính sách. Các công ty nước ngoài đầu tư tại Việt Nam cũng có thể trở thành thành viên của các hiệp hội doanh nghiệp trong nước. Điều này sẽ thay đổi xu hướng xây dựng liên minh trong chính sách thương mại và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nước ngoài tiếp cận các nhà hoạch định chính sách. Một minh họa về các cơ hội cho doanh nghiệp là hiện nay các bên quan tâm đã có một khoảng thời gian “hợp lý” (60 ngày) để bình luận các dự thảo văn bản pháp luật của Việt Nam.

Rất nhiều cải cách khác từ quá trình gia nhập WTO đem lại lợi ích cho các doanh nghiệp trong và ngoài nước sẽ được thực thi tại Việt Nam trong những năm tới (Ngo Van Diem và các tác giả khác, 2007). Ví dụ, Luật Doanh nghiệp thống nhất và Luật Đầu tư chung có hiệu lực vào năm 2007 đã đưa ra một khuôn khổ quy tắc chung cho các doanh nghiệp trong và ngoài nước, tạo cơ sở cho việc khuyến khích và bảo hộ tất cả các hình thức đầu tư. Việc Nam cũng đã đạt được tiến bộ trong việc hài hòa hóa các quy tắc về quyền kinh doanh, qua đó thủ tục đăng ký sẽ giống nhau cho các doanh nghiệp kinh doanh trong và ngoài nước – một sự thay đổi chính sách sẽ khuyến khích các nhà đầu tư mới vào Việt Nam.

9. Kết luận

WTO có lẽ là tổ chức kinh tế quốc tế duy nhất yêu cầu các quốc gia phải tuân thủ chương trình cải cách và tự do hóa kinh tế với quy mô lớn như thế. Trở thành Thành viên WTO không phải là một sự bước đi dễ dàng cho cả Chính phủ nước gia nhập và cộng đồng doanh nghiệp của nước này. Các cuộc đàm phán gia nhập đã rất khó khăn cho cả Việt Nam cũng như các thành viên WTO, thể hiện ở quá trình đàm phán kéo dài tới 12 năm. Quá trình đàm phán gia nhập phức tạp và kéo dài đã kết thúc thành công nhờ vào sự quan tâm liên tục của Chính phủ và nhân dân Việt Nam tới tiến trình này cũng như thiện chí của các nước Thành viên WTO trong việc chào đón Việt Nam trở thành một Thành viên mới. Nói một cách đơn giản: các bên đều khó có lựa chọn nào khác ngoài việc kết thúc tiến trình gia nhập WTO của Việt Nam.

Trong tiến trình đàm phán gia nhập, các nhà hoạch định chính sách có quan điểm về cải cách thương mại rộng hơn là chỉ quan tâm tới những thay đổi về mức thuế quan, các hạn chế định lượng và sự biến đổi về giá so sánh do những thay đổi đó tạo nên. Mối quan tâm lới nhất là những sự thay đổi sâu sắc hơn về xu hướng hành xử trong khu vực nhà nước tại Việt Nam và trong mối quan hệ giữa Chính phủ với khu vực tư nhân và nền kinh tế thế giới. Trong giai đoạn 5 năm trước khi gia nhập WTO, Việt Nam đã đưa ra những thay đổi cơ bản trong khuôn khổ pháp lý cho các hoạt động thương mại cũng như các thủ tục hành chính và tư pháp. Việt Nam đã sửa đổi đáng kể các văn bản pháp luật điều chỉnh các hoạt động kinh tế và điều chỉnh rất nhiều khía cạnh của hệ thống pháp luật nói chung. Đôi khi có lập luận rằng đóng góp chính của tiến trình gia nhập WTO đối với một nền kinh tế mới gia nhập không phải là tự do hóa thương mại hay tuân thủ với các quy định của WTO mà là mức độ đóng góp của quá trình cải cách đối với việc tạo ra môi trường thể chế có chất lượng cao (Rodrik, 2002). Trường hợp của Việt Nam phù hợp với quan điểm trên do quá trình gia nhập đã đóng góp vào việc tạo ra các điều kiện thể chế tiên quyết cho một nền kinh tế thị trường và cơ chế khắc phục cho việc ổn định kinh tế vĩ mô.

Việt Nam cũng đã thực hiện tự do hóa đáng kể đối với thuế nhập khẩu và thương mại dịch vụ, đã tiến hành điều chỉnh cơ sở hạ tầng và chuyển đổi hệ thống kinh tế phù hợp với các quy tắc của WTO. Rất nhiều hạn ngạch nhập khẩu đã bị loại bỏ, thuế quan và trợ cấp đã được giảm, nhiều cam kết mới được đưa ra trong các ngành dịch vụ then chốt (ví dụ dịch vụ tài chính) cũng như đối với tiêu chuẩn kỹ thuật và vệ sinh dịch tễ. Việt Nam cũng đã tăng cường việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ (bao gồm cả việc xét xử hình sự nếu quy mô vi phạm lớn), định giá hải quan và tiếp tục chương trình tư nhân hóa hay “cổ phần hóa”. Tuy nhiên, những thay đổi đó khó có thể coi là tạo ra gánh nặng cho nền kinh tế Việt Nam (nhưng một số người theo tư tưởng bảo hộ có thể coi đó là “cái giá” của việc gia nhập WTO) do những thay đổi này được đưa ra nhằm tăng năng suất thông qua một sân chơi bình đẳng hơn giữa khu vực nhà nước và khu vực tư nhân cũng như giữa các doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài. Do đó, các quy tắc mới có thể được coi là sẽ giúp các cơ quan quản lý Việt Nam vượt qua được những điểm yếu của rất nhiều nước có thu nhập thấp trong phương thức quản lý của họ. Các quy tắc này yêu cầu một mức độ nhất định đối với các yếu tố minh bạch hóa, khả năng dự đoán và hành vi theo pháp quyền cũng như không phân biệt đối xử trong các chính sách, lĩnh vực thường mang tính tùy tiện và đem lại lợi ích cho một nhóm người tại các nền kinh tế mới nổi. Các cơ quan quản lý của Việt Nam đã thành công trong việc quản lý sự thay đổi về cơ cấu này đồng thời vẫn đảm bảo tăng trưởng kinh tế cao và tăng thu nhập bình quân đầu người đáng kể trong khi không làm thay đổi sự bình đẳng kinh tế.

Việt Nam tận dụng được các cơ hội mở cửa thị trường và các quy tắc của WTO trong việc tăng cường xuất khẩu và thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Một trong số các động lực của việc gia nhập WTO đối với Việt Nam là nhu cầu gia tăng xuất khẩu nhờ được tiếp cận nhiều hơn các thị trường xuất khẩu, đặc biệt đối với nông sản, dệt may, quần áo, thủy sản cũng như tạo ra các cơ hội cho một số lĩnh vực xuất khẩu mới, có tiềm năng. Tương tự như vậy, một trong số các động lực chính nữa cho việc gia nhập WTO là hy vọng thu hút thêm nhiều vốn đầu tư nước ngoài từ các công ty tiên phong và tạo ra việc làm cho giới trẻ Việt Nam.

Tại thời điểm khi Việt Nam mới gia nhập WTO được khoảng 1 năm, còn quá sớm để đưa ra kết luận cuối cùng về tác động của việc gia nhập đối với nền kinh tế Việt Nam. Hơn nữa, do nhiều thay đổi pháp lý mới được thực hiện gần đây, rất khó có thể tách biệt tác động của việc Việt Nam tham gia các thoả thuận thương mại khu vực như Hiệp định thương mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ (BTA) khỏi tác động của việc trở thành Thành viên của WTO.3 Tuy nhiên, những số liệu ban đầu cho thấy việc trở thành Thành viên của WTO đã đem lại lợi ích cho nền kinh tế Việt Nam. Về tổng quan, Việt Nam đã cân bằng được giữa “giá” phải trả để gia nhập và lợi ích thu được. Việt Nam đã thành công trong việc hướng tới một môi trường chính sách có chất lượng cao hơn, gửi các tín hiệu rõ ràng tới các nhà sản xuất và các nhà đầu tư, loại bỏ các hành vi trục lợi, hạn chế việc lãng phí các tài nguyên kinh tế và duy trì ổn định xã hội.

Rõ ràng, gia nhập WTO sẽ giúp Việt Nam đẩy mạnh cải cách pháp lý, kinh tế và thể chế xã hội. Tác động trước mắt của việc gia nhập WTO và những yêu cầu thay đổi cụ thể có thể được tóm tắt như sau:

- Gia nhập WTO sẽ tăng khả năng tiếp cận của Việt Nam vào thị trường dệt may của Hoa Kỳ; tuy nhiên sẽ không trực tiếp mở rộng quy mô thị trường;

- Gia nhập WTO sẽ giúp Việt Nam trở thành một điểm đến hấp dẫn hơn đối với đầu tư nước ngoài, điều này sẽ đóng góp vào việc tăng sản lượng, việc làm, tăng trưởng và phát triển công nghệ;

- Gia nhập WTO sẽ đòi hỏi hiện đại hóa hệ thống hành chính và pháp luật của Việt Nam nhằm phù hợp với các tiêu chuẩn quôc tế, khuyến khích các hoạt động kinh doanh trong và ngoài nước;

- Gia nhập WTO sẽ tạo điều kiện cho Việt Nam có tiếng nói trong WTO và các quyền của Việt Nam trong WTO sẽ được bảo vệ về mặt pháp lý;

-Yêu cầu cao hơn về minh bạch hóa (công khai dự thảo văn bản pháp luật và quy định để các bên quan tâm nhận xét); yêu cầu nhiều cải cách thể chế và pháp luật hơn.

Tuy nhiên, ở một số khía cạnh, BTA đi xa hơn WTO như trong lĩnh vực đầu tư: thủ tục cấp phép rút gọn, bảo hộ đầu tư mạnh hơn và giải quyết tranh chấp tốt hơn. Trong khi tác động của BTA mang tính chất song phương thì việc gia nhập WTO dẫn tới các lợi ích chung như: xét về tác động, chúng ta có thể thấy tác động trực tiếp của BTA đối với các nhà xuất khẩu của Việt Nam là rất lớn do Hoa Kỳ giảm mạnh thuế nhập khẩu đối với hàng xuất khẩu từ Việt Nam; tác động trực tiếp của việc gia nhập WTO đối với các nhà xuất khẩu Việt Nam là hạn chế, các Thành viên WTO không bị yêu cầu mở cửa thêm thị trường cho các nhà xuất khẩu Việt Nam; có tác động trực tiếp lớn từ việc loại bỏ hạn ngạch dệt may của Hoa Kỳ đối với các nhà xuất khẩu Việt Nam.

- Gia nhập WTO sẽ tăng cạnh tranh tại Việt Nam đối với một số hàng hóa và dịch vụ và có thể tác động tới một số nhóm quyền lợi nhưng sẽ đem lại lợi ích chung cho toàn bộ đất nước.

Bên cạnh những thuận lợi này, các cam kết gia nhập WTO của Việt Nam cũng sẽ đem lại những thách thức như:

- Phát triển nguồn nhân lực và khả năng thể chế trong khu vực nhà nước và tư nhân để thực thi các luật, quy định mới một cách hiệu quả;

- Nhu cầu cần phân tích tác động kinh tế – xã hội của việc gia nhập WTO đối với tất cả các ngành nhằm xác định các chính sách để giúp các doanh nghiệp, nông dân và công nhân tại Việt Nam để tận dụng đầy đủ các lợi ích của WTO và giảm các chi phí trong quá trình điều chỉnh đối với những ngành dễ bị tổn thương;

- Đẩy mạnh tiến trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam.

Cần cải cách hệ thống pháp luật hơn nữa để có thể thực thi đầy đủ các cam kết WTO:

- Hoàn thiện các văn bản pháp lý để thực thi các luật mới được thông qua

- Điều chỉnh nhiều luật và quy định mới được thông qua để hoàn toàn tuân thủ các yêu cầu của WTO cũng như đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội của Việt Nam

- Cân nhắc các luật “chung” nhằm điều chỉnh, sửa đổi đồng thời một vài luật và quy định liên quan tới cùng một vấn đề

- Cần có luật để tăng cường thể chế và thủ tục hành chính nhằm thực thi các cam kết WTO và xây dựng các luật trong nước như:

Luật về Ngân hàng Nhà nước; Luật về Tổ chức của Tòa án; Luật về Tổ chức của Viện kiểm sát; Luật Ban hành các văn bản pháp luật (và Luật về luật trong nước); có thể chuẩn bị Bộ luật Tố tụng dân sự mới; Luật Khiếu nại, tố cáo, có thể hình thành hệ thống toà án hành chính mới; các luật để khuyến khích các thủ tục pháp lý “minh bạch”ở cấp Trung ương và địa phương.

Các Chương tiếp theo sẽ phân tích cam kết gia nhập WTO, nhấn mạnh ý nghĩa của việc gia nhập WTO và trong nhiều trường hợp đưa ra khuyến nghị để thực thi chính xác các cam kết, tận dụng cơ hội từ việc trở thành Thành viên WTO.

Chú thích:

1 MUTRAP II đang thực hiện một nghiên cứu trong khuôn khổ chương trình HOR-9, chương trình này nhằm đánh giá tác động sau một năm gia nhập WTO đối với Việt Nam.

2. Chương trình HOR-2 của MUTRAP sẽ tập hợp các cam kết của Việt Nam theo ASEAN, APEC, ASEM và các thỏa thuận khác và sẽ xem xét mối liên hệ của chúng với các cam kết WTO. Nghiên cứu HOR-11 của MUTRAP sẽ được công bố trên trang thông tin điện tử của MUTRAP: www.mutrap.org.vn.

3. Về tổng thể, các cam kết của Việt Nam trong WTO khác với BTA ở những khía cạnh sau:

- WTO yêu cầu cao hơn vì phải áp dụng đầy đủ đối với tất cả các Thành viên thông qua nguyên tắc MFN;

- Yêu cầu cắt giảm thuế nhập khẩu sâu và rộng hơn;

- Có nghĩa vụ loại bỏ trợ cấp xuất khẩu;

- Tự do hóa dịch vụ nhiều hơn.

SOURCE: VIỆT NAM GIA NHẬP TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI – GIẢI THÍCH CÁC ĐIỀU KIỆN GIA NHẬP, MUTRAP II DỰ ÁN HỖ TRỢ THƯƠNG MẠI ĐA BIÊN MULTILATERAL TRAD. 2008 ASSISTANCE PROJECT. NHÀ XUẤT BẢN LAO ĐỘNG – XÃ HỘI

ĐỌC TOÀN VĂN TÀI LIỆU TẠI ĐÂY (SỬ DỤNG PHẦN MỀM ĐỌC FILE PDF)

(MKLAW FIRM: Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ có giá trị tham khảo và có thể một số thông tin pháp lý đã hết hiệu lực tại thời điểm hiện tại vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)

>> Xem thêm:  Các thỏa thuận loại bỏ các rào cản phi thuế quan trong ASEAN, APEC và WTO ? Quyền Sở hữu trí tuệ sau khi gia nhập WTO ?

2. Tổ chức thương mại thế giới (WTO) là gì ?

Tổ chức thương mại thế giới (WTO) là tổ chức quốc tế được thành lập dựa trên sự kế thừa của Hiệp định chung về thuế quan và mậu dịch (GATT).

Tổ chức thương mại quốc tế được thành lập trên cơ sở văn kiện kết thúc Hiệp định đàm phán Uruguay được kí kết tại Marrakech (Cộng hoà Marôc) ngày 15.4.1994. Tổ chức thương mại thế giới chính thức hoạt động từ ngày 01.01.1995 và có trụ sở đặt tại Giơnevơ (Thụy Sĩì).

Mục tiêu của Tổ chức thương mại thế giới là:

1) tự do hoá thương mại hàng hoá và dịch vụ thông qua việc đàm phán và xoá bỏ thuế quan, quy chế hoá các trở ngại phi thuế quan;

2) không phân biệt đối xử bằng các áp dụng chế độ tối huệ quốc và chế độ đãi ngộ quốc gia, tạo điều kiện cho cho sự phát triển kinh tế bằng cách chấp nhận một cách mềm dẻo các thoả thuận riêng và ngoại lệ;

3) thiết lập và phát triển môi trường cho sự phát triển thương mại quốc tế nhằm đảm bảo thông suốt và khả năng dự liệu các diễn biến để tránh sự cố bất ngờ;

4) tăng khả năng tham khảo ý kiến trong việc giải quyết tranh chấp nhằm hạn chế thiệt hại và đảm bảo sự tôn trọng các điều ước quốc tế.

Cơ quan cao nhất của Tổ chức thương mại thế giới là Hội nghị cấp Bộ trưởng các nước thành viên với định kì ít nhất hai năm một lần. Cơ quan thường trực của Tổ chức thương mại thế giới lè Đại hội đồng Và các cơ quan chuyên trách.

>> Xem thêm:  Sự khác nhau giữa biện pháp thuế chống bán phá giá và biện pháp thuế đối kháng theo quy định của WTO

3. Pháp luật cạnh tranh trong WTO và kinh nghiệm cho Việt Nam ?

Trong xu thế tự do hoá thương mại và toàn cầu hoá, các hàng rào thuế quan và phi thuế quan do chính phủ dựng lên đã và đang bị tháo bỏ. Nhưng các doanh nghiệp, thông qua các hành vi hạn chế cạnh tranh của mình, vẫn có thể thiết lập những hàng rào ngăn cản thương mại quốc tế (hàng rào tư), dù có hay không có sự hỗ trợ của chính phủ.

Các hành vi hạn chế cạnh tranh như vậy của doanh nghiệp có thể khiến cho những lợi ích của việc tự do hóa thương mại, mở của thị trường trong khuôn khổ của Tổ chức Thương mại thể giới (WTO) bị ảnh hưởng[1]. Do đó, các quy định về tự do hóa thương mại cần phải đi liền với các quy định về bảo vệ cạnh tranh công bằng.

1. Đặt vấn đề

Trong xu thế tự do hoá thương mại và toàn cầu hoá, các hàng rào thuế quan và phi thuế quan do chính phủ dựng lên đã và đang bị tháo bỏ. Nhưng các doanh nghiệp, thông qua các hành vi hạn chế cạnh tranh của mình, vẫn có thể thiết lập những hàng rào ngăn cản thương mại quốc tế (hàng rào tư), dù có hay không có sự hỗ trợ của chính phủ. Các hành vi hạn chế cạnh tranh như vậy của doanh nghiệp có thể khiến cho những lợi ích của việc tự do hóa thương mại, mở của thị trường trong khuôn khổ của Tổ chức Thương mại thể giới (WTO) bị ảnh hưởng[1]. Do đó, các quy định về tự do hóa thươngmại cần phải đi liền với các quy định về bảo vệ cạnh tranh công bằng.

Các quy định về tự do hóa thương mại của WTO, được xây dựng trên nền tảng các nguyên tắc không phân biệt đối xử, tối huệ quốc, đãi ngộ quốc gia và minh bạch, nhằm giảm bớt và loại trừ các hàng rào của chính phủ đối với thương mại quốc tế. Trong khi đó, các quy định về cạnh tranh công bằng điều chỉnh điều kiện cạnh tranh và hành vi của các doanh nghiệp trong một quốc gia (haytrong một khu vực) nhằm loại trừ những hàng rào tư gây tổn hại đến quá trình tự do hoá thương mại. Hai nhóm quy định này bổ sung cho nhau nhằm đạt đến mục tiêu chung là đem lại lợi ích và thịnh vượng chung cho các chủ thể tham gia quan hệ kinh tế quốc tế.

Vì vậy, nhiều điều khoản trong các hiệp định của WTO liên quan mật thiết với chính sách cạnh tranh. Tuy nhiên, chúng bị phân tán trong nhiều hiệp định khác nhau của WTO mà không được quy định thống nhất trong một hiệp định riêng về cạnh tranh. Tính đến ngày 1/1/2007, sau đúng 12 năm hoạt động, cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO đã thụ lý 352 vụ tranh chấp giữa các quốc gia thành viên, trong đó có một số vụ việc liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến vấn đề cạnh tranh, như vụ Japan – Film, US – 1916 Act, Argentina – Hide and Leather, và đặc biệt là vụ Mexico – Telecoms.

Việt Nam, sau khi đã chính thức trở thành thành viên thứ 150 của WTO vào ngày 11/1/2007, phải tuân thủ các quy định pháp lý của WTO nói chung, trong đó có các quy định về cạnh tranh nói riêng. Do đó, việc nghiên cứu các quy định của WTO về cạnh tranh cũng như các vụ tranh chấp liên quan là rất cần thiết, nhằm có thể vận dụng các quy định đó để bảo vệ doanh nghiệp Việt Nam cũng như hoàn thiện pháp luật cạnh tranh quốc gia để phù hợp với pháp luật WTO.

Pháp luật cạnh tranh trong WTO và kinh nghiệm cho Việt Nam

Luật sư tư vấn luật đầu tư nước ngoài trực tuyến gọi: 1900.6162

2. Các quy định pháp lý về cạnh tranh trong WTO

Các quy định pháp lý về cạnh tranh nằm rải rác trong các hiệp định của WTO có thể được chia thành thành ba nhóm: (i) các điều khoản đảm bảo cạnh tranh công bằng, (ii) các điều khoản bắt buộc ngăn chặn các hành vi hạn chế cạnh tranh và (iii) các điều khoản khuyến khích việc ngăn chặn các hành vi hạn chế cạnh tranh.

Theo quy định của các điều khoản đảm bảo cạnh tranh công bằng, mỗi quốc gia thành viên WTO có nghĩa vụ bảo đảm rằng, các doanh nghiệp của mình phải hoạt động kinh doanh trên cơ sở cạnh tranh công bằng. Nếu quốc gia thành viên không thực hiện nghĩa vụ này và không có bất kỳ hành động nào nhằm bảo đảm sự tồn tại của những điều kiện cần thiết của cạnh tranh công bằng, quốc gia đó đã vi phạm pháp luật WTO. Phần 5 Phụ lục về viễn thông của Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS) yêu cầu các quốc gia thành viên WTO phải tạo điều kiện để nhà cung cấp nước ngoài tiếp cận và sử dụng mạng lưới viễn thông công cộng với những điều kiện hợp lý. Phần 2 Tài liệu tham chiếu về viễn thông cơ bản quy định nghĩa vụ của quốc gia thành viên bảo đảm cho các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài được phép kết nối với nhà cung cấp chính tại tất cả các điểm cung cấp kỹ thuật khả thitrong mạng lưới với điều kiện hợp lý, không phân biệt đối xử, và theo đúng chi phí. Điều 11.3 Hiệp định tự vệ yêu cầu quốc gia thành viên không được ủng hộ hay khuyến khích các doanh nghiệp thiết lập hay duy trì các biện pháp tương tự như các biện pháp hạn chế xuất khẩu tự nguyện, phân chia thị trường, các -ten nhập khẩu… Đây là những ví dụ cụ thể của các điều khoản đảm bảo cạnh tranh công bằng trong pháp luật WTO.

Đối với các điều khoản bắt buộc ngăn chặn các hành vi hạn chế cạnh tranh, các quốc gia thành viên WTO phải có nghĩa vụ tích cực điều tra và ngăn chặn sự tồn tại của những hành vi của các doanh nghiệp hạn chế cạnh tranh. Quốc gia thành viên sẽ vi phạm nghĩa vụ này khi nó biết về sự tồn tại của những hành vi đó, nhưng không loại bỏ chúng. Điều XVII Hiệp định GATT yêu cầu quốc gia thành viên phải đảm bảo rằng, các doanh nghiệp nhà nước độc quyền trong một số ngành nghề phải hoạt động trên nguyên tắc không phân biệt đối xử. Trong Hiệp định GATS, Điều VIII buộc quốc gia thành viên không được để cho các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ độc quyền lạm dụng vị trí độc quyền, Điều IX yêu cầu quốc gia thành viên phải thừa nhận một số hành vi của doanh nghiệp là hạn chế cạnh tranh, cần có sự tham vấn, hợp tác giữa các quốc gia nhằm mục đích loại bỏ các hành vi đó. Phần 1 Tài liệu tham chiếu buộc quốc gia thành viên phải áp dụng các biện pháp ngăn chặn các hành vi hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực viễn thông…

Liên quan đến các điều khoản khuyến khích việc ngăn chặn các hành vi hạn chế cạnh tranh, các điều khoản này không quy định nghĩa vụ cụ thể. Trái lại, chúng dành cho các quốc gia thành viên WTO quyền tự quyết định những hành vi nào có thể bị coi là hạn chế cạnh tranh, và cách thức ngăn chặn các hành vi đó trong khuôn khổ pháp luật cạnh tranh quốc gia. Điều 8, 31 và 40 của Hiệp định về các khía cạnh thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS) là những ví dụ điển hình. Điều 8 quy định một cách chung nhất, cho phép quốc gia thành viên có quyền áp dụng các biện pháp phù hợp để ngăn chặn hành vi lạm dụng quyền sở hữu trí tuệ, gây cản trở thương mại hay ảnh hưởng xấu đến chuyển giao công nghệ của người nắm giữ quyền đó. Cụ thể, Điều 31 cho phép quốc gia thành viên ápdụng bắt buộc chuyển giao quyền sử dụng đối với quyền sở hữu trí tuệ nhằm khắc phục hành vi hạn chế cạnh tranh. Điều 40 cho phép quốc gia thành viên áp dụng biện pháp ngăn chặn thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong chuyển giao công nghệ. Tuy nhiên, nếu một quốc gia thành viên lạm dụng các điều khoản khuyến khích này đến mức vi phạm các quy định khác của WTO, thì nó có thể bị khiếu nại ra cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO.

Vì tầm quan trọng của các vấn đề cạnh tranh trong thương mại quốc tế, tại Hội nghị Singapore năm 1996, WTO đã quyết định thành lập Ban công tác nghiên cứu mối tương tác giữa thương mại và chính sách cạnh tranh, để xác định các vấn đề liên quan cần đàm phán trong khuôn khổ WTO. Tuy nhiên, do quan điểm trái ngược nhau giữa Mỹ, Cộng đồng Châu Âu (EC) và các nước đang phát triển về xây dựng và phát triển pháp luật cạnh tranh trong WTO, cùng với sự thất bại của Hội nghị Cancun năm 2003, vấn đề cạnh tranh tạm thời bị đưa ra khỏi chương trình đàm phán của WTO.

Bên cạnh các quy định pháp lý liên quan đến cạnh tranh trong khuôn khổ WTO, các hành vi hạn chế cạnh tranh trong thương mại quốc tế còn có thể được điều chỉnh thông qua các hình thức sau:

Thứ nhất, áp dụng nguyên tắc ngoài lãnh thổ hay nguyên tắc ảnh hưởng. Pháp luật cạnh tranh của nhiều quốc gia, đặc biệt là Mỹ và EC, quy định việc áp dụng pháp luật cạnh tranh quốc giađối với hành vi hạn chế cạnh tranh có ảnh hưởng đến thương mại trong nước, bất kể hành vi đó diễn ra ở đâu hay chủ thể thực hiện các hành vi đó mang quốc tịch nào. Tuy nhiên việc áp dụng nguyên tắc này có thể dẫn đến mâu thuẫn giữa hai quốc gia nếu một hành vi được coi là phù hợp với pháp luậtcạnh tranh của quốc gia này, nhưng lại bị coi là vi phạm pháp luật cạnh tranh của quốc gia kia.

Thứ hai, ký kết các hiệp định song phương nhằm hợp tác trong việc kiểm soát các hành vi hạn chế cạnh tranh xuyên biên giới. Để đảm bảo việc thực thi pháp luật cạnh tranh trong nước, một quốc gia đó có thể ký các hiệp ước với các quốc gia khác nhằm thông báo, trao đổi thông tin, hợp tác, tham vấn, thậm chí là hỗ trợ điều tra và thực thi phán quyết. Thậm chí, các quốc gia thuộc Diễn đàn Hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương (APEC) cũng đề ra các nguyên tắc chung nhằm tăng cường cạnh tranh. Tuy nhiên, việc ký kết các hiệp định song phương như vậy cũng có nhiều nhược điểm do có sự khác biệt về trình tự tố tụng giữa các quốc gia ký kết, khó khăn trong việc trao đổi các thông tin thuộc bí mật kinh doanh của doanh nghiệp, và chỉ thường diễn ra giữa các đối tácthương mại lớn.

3. Một số tranh chấp liên quan đến cạnh tranh trong WTO

3.1. Tranh chấp Japan – Film, US – 1916 Act, và Argentina – Hide and Leather

Tranh chấp liên quan đến vấn đề cạnh tranh tại WTO có thể xảy ra không chỉ xuất phát từ việc một quốc gia thành viên vi phạm các quy định pháp lý của WTO về cạnh tranh, mà còn có thể từ việc quốc gia thành viên đó vi phạm những quy định pháp lý khác của WTO, và thậm chí là không vi phạm pháp luật WTO, nhưng lại làm cho lợi ích thương mại của quốc gia khác suy giảm hay mất đi. Ban hội thẩm trong vụ US -1916 Act đã khẳng định phạm vi điều chỉnh của Hiệp định thành lập WTO không loại trừ các hành vi hạn chế cạnh tranh và thừa nhận các Ban hội thẩm, theo Hiệp định GATT 1947 trước đây và WTO hiện nay, đã xem xét đến nhiều khía cạnh khác nhau của các hành vi hạn chế cạnh tranh của doanh nghiệp do các chính phủ đề xướng, khi các hành vi đó cản trở việc tiếp cận thị trường nội địa của hàng hoá nước ngoài hay doanh nghiệp nước ngoài.

Trong vụ Japan – Film, hệ thống phân phối độc quyền nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh của Fuji đã ngăn cản sự thâm nhập của Kodak vào thị trường phim và giấy làm ảnh ở Nhật Bản. Kodak đã khiếu nại hành vi này lên Đại diện Thương mại Mỹ. Sau đó, Mỹ đã khởi kiện Nhật Bản trước WTO,với lập luận rằng Nhật Bản đã áp dụng, duy trì một số quy định và biện pháp ảnh hưởng đến việc phân phối và bán các sản phẩm phim và giấy ảnh. Mỹ cho rằng, những biện pháp đó làm triệt tiêu hoặc suy giảm lợi ích thương mại mà đáng lẽ Mỹ phải được hưởng theo quy định tại Điều XXIII:1(b) Hiệp định GATT. Ban hội thẩm lập luận rằng, để giành thắng lợi trong tranh chấp khiếu kiện các biện pháp của một chính phủ dù chúng không vi phạm pháp luật WTO, nguyên đơn phải chứng minh được cả ba điều kiện: (i) hành vi hạn chế cạnh tranh của doanh nghiệp (trong vụ việc này là của Fuji) phát sinh do tác động từ các biện pháp của chính phủ (Nhật Bản); (ii) các biện pháp đó liên quan tới những lợi ích có thể dự đoán trước từ những nhượng bộ thuế quan (giữa Mỹ và Nhật Bản trong khuôn khổ WTO); (iii) lợi ích mà quốc gia khiếu kiện (Mỹ) được hưởng trên thực tế đã bị mất đi hay giảm sút do biện phápcủa quốc gia bị kiện (Nhật Bản). Tuy nhiên, Mỹ đã không thành công trong việc chứng minh rằng, các biện pháp của Chính phủ Nhật Bản đã tạo nên trong thực tế hệ thống phân phối độc quyền đối vớiphim và giấy ảnh trên thị trường Nhật Bản.

Tranh chấp trong vụ US – 1916 Act xuất phát từ việc vi phạm các quy định khác của WTO, không phải là vi phạm quy định pháp lý về cạnh tranh. Trong vụ này, EC và Nhật Bản đã khiếu nại về quy định của Đạo luật Chống bán phá giá năm 1916 của Mỹ cho phép truy cứu trách nhiệm hình sự và buộc bồi thường 3 lần thiệt hại mà ngành công nghiệp nội địa của Mỹ gánh chịu do hành vi bán phá giá. Bên khiếu nại cho rằng, quy định đó vi phạm nghĩa vụ của Mỹ theo quy định tại Điều VI Hiệp định GATT về chống bán phá giá. Mỹ lập luận rằng Đạo luật 1916 là một văn bản pháp luật cạnh tranh, không thuộc phạm vi điều chỉnh của Điều VI Hiệp định GATT, vì nó không đề cập tới hành vi bán phá giá gây thiệt hại như quy định của Điều VI, và trên thực tế, nó là một hình thức điều chỉnh vấn đề phân biệt giá nhằm chống độc quyền. Tuy nhiên Ban hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm của WTO đã kết luận rằng việc Đạo luật 1916 có thể có mục đích chống độc quyền, hoặc được phân loại trong pháp luậtcủa Mỹ là một bộ phận của pháp luật chống độc quyền, không mặc nhiên đưa nó ra khỏi phạm vi điều chỉnh của Điều VI. Ngoài ra, Đạo luật 1916 điều chỉnh hành vi phân biệt giá xuyên quốc gia, thỏa mãn khái niệm phá giá theo quy định tại Điều VI: 1 Hiệp định GATT. Vì vậy, nó phải chịu sự điều chỉnh của Điều VI. Kết quả là Mỹ đã thua trong vụ kiện này.

Trong vụ Argentina – Hide and Leather, EC đã cáo buộc Quyết định 2235/96 của Chính phủ Argentina cho phép đại diện của ngành công nghiệp da Argentina tham gia vào quy trình quản lý hải quan đối với các sản phẩm da thuộc trước khi xuất khẩu là vi phạm Điều XI:1 (hạn chế số lượng xuất khẩu) và điều X:3 (quản lý các quy định pháp lý về thương mại) của Hiệp định GATT. Một trongnhững khiếu nại của EC là tồn tại một các -ten giữa các nhà sản xuất da thuộc trên thị trường Argentina với mục đích hạn chế xuất khẩu da thuộc; và chính Quyết định 2235/96 đã giúp cho các -ten đó tồn tại. Ban hội thẩm lập luận rằng, để chứng minh vi phạm của Argentina, EC phải chứng minh được: (i) có sự tồn tại của các -ten, (ii) các -ten đó liên quan đến biện pháp áp dụng của quốc gia bị kiện, (iii) có hạn chế xuất khẩu, và (iv) có mối liên hệ nhân quả trực tiếp giữa các -ten và hạn chế xuất khẩu. Tuy nhiên, EC đã không chứng minh được những yêu cầu này. Không những thế, Ban hội thẩm còn cho rằng rằng, theo quy định của Điều XI Hiệp định GATT, quốc gia thành viên không có nghĩa vụ phải điều tra và ngăn chặn các các -ten hoạt động như những hàng rào tư ngăn cản xuất khẩu. Điều đó có nghĩa các hành vi hạn chế cạnh tranh của doanh nghiệp không liên quan đến các biện pháp của chính phủ, trừ trường hợp thuộc nhóm hành vi bắt buộc ngăn chặn như đã trình bày ở Mục 2 của bài viết này, hầu như sẽ không chịu sự điều chỉnh của pháp luật WTO về cạnh tranh hiện hành.

Ba vụ tranh chấp nêu trên không hoàn toàn là tranh chấp về cạnh tranh bởi chúng không dựa vào những quy định pháp lý về cạnh tranh của WTO. Tuy nhiên, chúng hỗ trợ cho việc hình thành thẩm quyền pháp lý của cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO trong lĩnh vực cạnh tranh. Vụ tranh chấp Mexico – Telecoms là vụ tranh chấp về cạnh tranh đầu tiên và duy nhất cho tới nay, xuất phát từ khiếu nại về hành vi vi phạm các quy định pháp lý của WTO về cạnh tranh.

3.2. Tranh chấp Mexico – Telecoms

Theo quy định của Quy chế về cung cấp dịch vụ viễn thông đường dài của Mexico (Quy chế ILD), tất các các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ điện thoại quốc tế phải áp dụng một mức cước kết nối thống nhất. Doanh nghiệp có thị phần lớn nhất đối với các cuộc gọi quốc tế chiều đi từ Mexico tớiquốc gia khác, trên thực tế luôn là Telmex – doanh nghiệp độc quyền trước đây – được trao quyền đàm phán cước kết nối đó. Ngoài ra, Quy chế ILD còn bắt buộc lưu lượng các cuộc gọi quốc tếchiều về (từ nước ngoài đến Mexico) phải được phân bổ giữa các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ theo tỷ lệ thị phần lưu lượng cuộc gọi quốc tế chiều đi (từ Mexico ra nước ngoài) mà mỗi doanh nghiệp nắm giữ.

AT&T và MCI là hai doanh nghiệp viễn thông của Mỹ, đã khiếu nại lên Đại diện Thương mạiMỹ rằng, với các -ten giá cước kết nối do Telmex cầm đầu, họ phải trả cước kết nối cuộc gọi từ Mỹ đến Mexico cho các doanh nghiệp Mexico quá cao, dẫn đến bị hạn chế thâm nhập vào thị trường Mexico. Mỹ sau đó đã khởi kiện Mexico ra WTO. Hai trong số ba khiếu nại mà Mỹ đưa ra, trên cơ sở Biểu cam kết cụ thể về thương mại dịch vụ của Mexico, cùng Tài liệu tham chiếu và Phụ lục về viễn thông, là:

Thứ nhất, Quy chế ILD của Mexico không bảo đảm rằng Telmex, nhà cung cấp dịch vụ chính, cung cấp dịch vụ kết nối với các doanh nghiệp viễn thông của Mỹ với mức giá hợp lý, dựa trên chí phí. Điều này không phù hợp với nghĩa vụ của Mexico theo quy định của Phần 2.1 và 2.2 của Tài liệu tham chiếu. Tức Mexico vi phạm quy định đảm bảo cạnh tranh công bằng của WTO;

Thứ hai, Mexico, thông qua Quy chế ILD, không áp dụng các biện pháp ngăn chặn việc Telmex thực hiện các hành vi hạn chế cạnh tranh. Điều này trái với nghĩa vụ của Mexico được quy định tại Phần 1.1 của Tài liệu tham chiếu. Tức Mexico vi phạm quy định bắt buộc của WTO về ngăn chặn các hành vi hạn chế cạnh tranh của doanh nghiệp.

Về khiếu nại thứ nhất:

Áp dụng phương thức kiểm tra khả năng thay thế về cầu theo pháp luật cạnh tranh của cácquốc gia, Ban hội thẩm đã xác định thị trường liên quan trong vụ việc này là thị trường cuộc gọi từ Mỹ về Mexico. Về khả năng Telmex ảnh hưởng lớn tới các điều kiện tham gia thị trường, Ban hội thẩm cho rằng, Telmex, trên thực tế, đã được trao quyền đàm phán cước kết nối cho toàn bộ thị trường liên quan, nên nó có khả năng gây ảnh hưởng lớn đến thị trường, đặc biệt đối với giá cước kết nối chiều về Mexico. Và việc Telmex áp đặt mức giá cước kết nối chiều về thống nhất cho các đối thủ cạnh tranh khác thể hiện hành vi Telmex sử dụng “vị thế đặc biệt trên thị trường” mà doanh nghiệp này được hưởng từ Quy chế ILD. Do đó, Ban hội thẩm kết luận Telmex là nhà cung cấp dịch vụ chính theo quy định của Tài liệu tham chiếu.

Đối với vấn đề giá cước kết nối dựa trên chi phí, Ban hội thẩm giải thích đây là giá cước kết nối được tính toán trên cơ sở chi phí thực tế cung cấp dịch vụ. Vì vậy, Ban hội thẩm đã không đồng ývới lập luận của Mexico rằng mức giá phải tính tới cả “tình trạng ngành công nghiệp viễn thông củaquốc gia thành viên WTO; phạm vi phủ sóng và chất lượng của mạng viễn thông; việc thu hồi vốn đầu tư”, bởi vì những yếu tố mà Mexico nêu ra không liên quan tới chi phí thực tế.

Do Mexico không có phản ứng về cách thức tính chi phí cung cấp dịch vụ kết nối và tính giá cưới kết nối chiều về Mexico mà Mỹ trình bày, cũng như không cung cấp cho Ban hội thẩm cách thức tính của mình theo yêu cầu, Ban hội thẩm, theo quy định của Điều 11 Quy chế giải quyết tranh chấp của WTO (DSU), đã xem xét vấn đề dựa trên cách thức tính chi phí của Mỹ. Ban hội thẩm so sánh và thấy mức giá cước kết nối chiều về Mexico do Telmex đàm phán với đối tác của Mỹ cao hơn: (i) 77% so với giá cước kết nối nội địa tại Mexico, (ii) 22%-323% giá cước cuộc gọi không hợp pháp theo pháp luật Mexico (do không trả cước kết nối chiều về) từ nước ngoài vào Mexico, và (iii) 48% tới 667% giá cước kết nối chiều về từ các quốc gia khác đến Mexico.

Không những thế, như đã giới thiệu, Quy chế ILD bắt buộc các cuộc gọi quốc tế chiều về phải được phân bổ giữa các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ theo tỷ lệ thị phần lưu lượng cuộc gọiquốc tế chiều đi mà mỗi doanh nghiệp nắm giữ. Trong trường hợp một doanh nghiệp nhận lưu lượng các cuộc gọi quốc tế chiều về vượt quá chỉ tiêu, nó có nghĩa vụ bồi thường cho doanh nghiệp không nhận đủ lưu lượng các cuộc gọi chiều về theo chỉ tiêu. Ban hội thẩm cho rằng, việc bồi thường tài chính như vậy chỉ có thể diễn ra nếu doanh nghiệp nhận lưu lượng các cuộc gọi quốc tế chiều về vượt quá chỉ tiêu có lợi nhuận từ việc thu cước kết nối chiều về sau khi trừ đi toàn bộ các chi phí kết nối và khoản tiền bồi thường cho doanh nghiệp chưa nhận đủ chỉ tiêu. Điều này càng thấy rõ cước kết nối chiều về Mexico từ Mỹ do Telmex đàm phán không dựa trên chi phí thực tế.

Như vậy, Mexico đã không thực hiện cam kết của mình theo Phần 2.2 (b) của Tài liệu tham chiếu vì không bảo đảm rằng nhà cung cấp dịch vụ chính của Mexico, tức Telmex, cung cấp dịch vụ kết nối với các doanh nghiệp của Mỹ với mức giá cước kết nối dựa trên chi phí.

Về khiếu nại thứ hai:

Liên quan đến khái niệm “hành vi hạn chế cạnh tranh”, Ban hội thẩm nhận định rằng, các hành vi hạn chế cạnh tranh bị cấm là khác nhau giữa các quốc gia thành viên, nhưng chúng luôn bao hàm các -ten, tức những thoả thuận hạn chế cạnh tranh giữa các đối thủ cạnh tranh, như thoả thuận ấn định giá, hay phân chia thị trường. Chính vì vậy, mặc dù Phần 1.2 của Tài liệu tham chiếu chỉ liệt kê 3 nhóm hành vi hạn chế cạnh tranh, Ban hội thẩm cho rằng khái niệm “hành vi hạn chế hạn chế cạnh tranh” ở quy định này gồm cả những thoả thuận ấn định giá và phân chia thị trường của các doanh nghiệp ở cả cấp độ quốc gia lẫn quốc tế.

Giải thích của Ban hội thẩm về thuật ngữ “hành vi hạn chế cạnh tranh” đã bị chỉ trích, bị cho là tạo ra những nghĩa vụ mới ngoài ý muốn của các quốc gia thành viên WTO, và trái với Điều 3.2 DSU (theo đó việc diễn giải của Ban hội thẩm không được bổ sung hoặc giảm bớt những quyền và nghĩa vụ đã được quy định trong các hiệp định của WTO). Cụ thể, Marsden khẳng định rằng, không một thành viên ký kết nào của Tài liệu tham chiếu đồng ý rằng việc cấm các -ten là một cam kết trong khuôn khổ WTO, vì thế, chính Ban hội thẩm đã đưa thêm việc cấm các -ten vào danh mục cam kết trong Tài liệu tham chiếu đó. Ông ta cho rằng “khi các nhà đàm phán thương mại không thành công trong việc đạt được một thoả thuận, Ban hội thẩm sẽ tạo ra những cam kết mới để mở cửa thị trường”.

Tuy nhiên, theo chúng tôi, Ban hội thẩm đã đúng khi họ giải thích dựa trên ngôn từ mở (phải bao gồm), và dựa vào mục đích ngăn chặn hành vi hạn chế cạnh tranh của Tài liệu tham chiếu, cũng như dựa vào thực tiễn quốc gia và quốc tế để đi đến kết luận rằng, danh sách 3 nhóm hành vi liệt kêtrong Phần 1.2 của Tài liệu tham chiếu là không đầy đủ, cần phải bao hàm cả những thoả thuận về ấn định giá và phia chia thị trường. Vì vậy, việc diễn giải của Ban hội thẩm trong vụ tranh chấp này là phù hợp với DSU.

Một vấn đề phát sinh là liệu hành vi được thực hiện theo quy định trong pháp luật của mộtquốc gia thành viên có thể bị coi là một hành vi hạn chế cạnh tranh. Theo pháp luật cạnh tranh của nhiều quốc gia, hành vi của một doanh nghiệp tuân thủ các yêu cầu pháp lý đặc thù có thể được miễn trừ, không bị coi là vi phạm pháp luật cạnh tranh quốc gia. Nhưng Cơ quan phúc thẩm của WTO đã từng thừa nhận rằng, pháp luật WTO không thể được giải thích một cách tách biệt khỏi hệ thống công pháp quốc tế. Trong khi đó, Điều 27 Công ước Viên về Luật Điều ước quốc tế khẳng định “bên ký kết không thể viện dẫn các quy định của pháp luật quốc gia mình để biện hộ cho việc không thực hiện điều ước quốc tế”. Do đó, Ban hội thẩm trong vụ việc này khẳng định một hành vi thực hiện theo yêu cầu của chính phủ vẫn có thể bị coi là hành vi hạn chế cạnh tranh và bị cấm bởi pháp luật WTO.

Từ đó, Ban hội thẩm cho rằng, hệ thống giá cước kết nối chiều về thống nhất theo quy định của Quy chế ILD, do Telmex đàm phán và được áp dụng cho tất cả các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ của Mexico, có ảnh hưởng tương tự như thoả thuận ấn định giá (các -ten về giá); và việc phân bổ lưu lượng các cuộc gọi chiều về theo tỷ lệ thị phần lưu lượng các cuộc gọi chiều đi giữa các doanh nghiệp, cùng với thoả thuận đền bù nếu một doanh nghiệp nhận lưu lượng cuộc gọi chiều về vượt quá chỉ tiêu phân bổ, tương tự như một thoả thuận phân chia thị trường giữa các doanh nghiệp đó. Hậu quả là hành vi của Telmex, nhà cung cấp dịch vụ chính, trong hai thoả thuận này, là hành vi hạn chế cạnh tranh theo quy định của Phần 1 của Tài liệu tham chiếu. Điều đó có nghĩa là, Mexico áp dụngQuy chế ILD, hợp thức hóa các hành vi hạn chế cạnh tranh của nhà cung cấp dịch vụ chính. Vì vậy, Ban hội thẩm đã kết luận Mexico đã không áp dụng những biện pháp hợp lý để ngăn chặn các hành vi hạn chế cạnh tranh, vi phạm quy định tại Phần 1 Tài liệu tham chiếu.

4. Kinh nghiệm cho Việt Nam

Từ các vụ tranh chấp đã trình bày, kết luận có thể rút ra là, mặc dù cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO không được xây dựng để giải quyết tranh chấp giữa các doanh nghiệp, nhất là tranh chấp về hành vi hạn chế cạnh tranh như tranh chấp giữa AT &T và Telmex, cơ chế này vẫn có thể trở thành một sự lựa chọn khả thi cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, nó chỉ có thể được vận dụng có hiệu quả khi một hay một số doanh nghiệp cảm thấy bị cản trở gia nhập thị trường nước ngoài có thể chứng minh được rằng, hành vi hạn chế cạnh tranh của doanh nghiệp nước sở tại có liên quan đến các biện pháp (hành động hay không hành động) của một chính phủ nước đó, và doanh nghiệp cảm thấy bị thiệt hại có đủ khả năng thuyết phục chính phủ của nước mình khởi kiện chính phủ nước sở tại ra trước WTO.

Ngoài ra, qua vụ Mexico – Telecoms, có thể thấy khái niệm “hành vi hạn chế cạnh tranh” được Ban hội thẩm giải thích rất rộng mặc dù tại thời điểm hiện nay, các quy định pháp lý của WTO về cạnh tranh còn rất hạn chế. Điều này có thể khiến các hành vi kinh doanh hiện hành của các doanh nghiệp hoạt động trên thị trường viễn thông của các quốc gia đang phát triển, cụ thể là Việt Nam, có thể rơi vào nội hàm của khái niệm này, và vì thế có thể bị khiếu nại trên cơ sở quy định của Tài liệu tham chiếu.

Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên WTO. Theo Biểu cam kết cụ thể về thương mạidịch vụ của Việt Nam, Việt Nam cam kết mở cửa thị trường viễn thông cho các doanh nghiệp nước ngoài theo lộ trình và tuân thủ quy định tại Tài liệu tham chiếu đính kèm. Việt Nam cũng đã cam kết tương tự như vậy với Mỹ trong Hiệp định thương mại Việt – Mỹ (BTA) có hiệu lực từ tháng 12/2001. Nhằm thực hiện những cam kết trong BTA cũng như chuẩn bị sẵn sàng cho việc gia nhập WTO, Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh ngành viễn thông để phù hợp với quy định của BTA và WTO. Thị trường viễn thông Việt Nam từ chỗ chỉ có một doanh nghiệp độc quyền (Tổng Công ty Bưu chính viễn thông Việt Nam – VNPT) đến nay đã có nhiều doanh nghiệp tham gia.Tuy nhiên, quy định của Bộ Bưu chính – viễn thông (BCVT) về cước kết nối cuộc gọi quốc tếchiều về Việt Nam trước đây và thậm chí hiện nay, có thể vi phạm quy định của Tài liệu tham chiếu.

Cụ thể, trước đây, theo Quyết định số 29/2005/QĐ-BBCVT ngày 25/8/2005 của Bộ BCVT, các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ điện thoại quốc tế được chủ động đàm phán, thoả thuận với cácđối tác nước ngoài mức cước kết nối chiều về Việt Nam, nhưng không được thấp hơn mức sàn định hướng, tức cước kết nối chiều về tối thiểu, do Bộ quy định là 0,17 USD/phút. Không những thế, các doanh nghiệp này được Bộ BCVT phân bổ hạn mức lưu lượng các cuộc gọi quốc tế chiều về Việt Nam. Nếu một doanh nghiệp nhận lưu lượng các cuộc gọi quốc tế chiều về vượt quá hạn mức, doanh nghiệp đó phải trả cước kết nối bổ sung đối với phần lưu lượng điện thoại quốc tế chiều về vượt hạn mức đó.

Có thể thấy, Quyết định số 29/2005/QĐ-BBCVT của Việt Nam có bản chất tương tự như Quy chế ILD của Mexico. Dựa trên quy định mức cước kết nối cuộc gọi quốc tế chiều về tối thiểu và hệ thống hạn mức lưu lượng cuộc gọi quốc tế chiều về cho từng doanh nghiệp, VNPT và các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ khác đã thiết lập một các -ten về giá và phân chia thị trường giữa các đối thủ cạnh tranh. Nếu doanh nghiệp cung cấp dịch vụ, ngoại trừ VNPT, giảm cước kết nối chiều về so vớimức cước mà VNPT đã đàm phán với đối tác nước ngoài của VNPT, doanh nghiệp đó có thể thu hútđối tác nước ngoài và nhận được nhiều cuộc gọi quốc tế chiều về hơn. Tuy nhiên, họ thường không mặn mà trong việc này bởi nỗ lực tăng lưu lượng cuộc gọi chiều về đã bị hạn chế bởi hạn mức được Bộ BCVT phân bổ. Nếu vượt quá hạn mức phân bổ, doanh nghiệp đó phải trả cước kết nối bổ sung, mà thực chất là phải trả tiền phạt đối với lưu lượng điện thoại quốc tế chiều về vượt hạn mức. Trongkhi đó, VNPT không có lý do gì để giảm giá cước kết nối chiều về bởi doanh nghiệp này không sợ cạnh tranh về giá từ phía các đối thủ cạnh tranh khác.

Ngày 17/01/2006, Bộ BCVT đã ban hành Quyết định số 04/2006/QĐ-BBCVT thay thế Quyết định số 29/2005/QĐ-BBCVT. Theo quy định mới, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ điện thoạiquốc tế tự xác định và đăng ký với Bộ BCVT mức sàn giá cước kết nối cuộc gọi chiều về. Trên cơ sở mức sàn đó, doanh nghiệp được chủ động đàm phán, thỏa thuận mức giá cước kết nối cuộc gọi quốctế chiều về Việt Nam với các đối tác nước ngoài với điều kiện mức giá cước thoả thuận không thấp hơn mức sàn đã đăng ký. Ngoài ra, nếu doanh nghiệp có tổng lưu lượng cuộc gọi quốc tế chiều về Việt Nam theo quí vượt mức 39% tổng lưu lượng của thị trườngcuộc gọi quốc tế chiều về Việt Nam, doanh nghiệp đó có trách nhiệm đóng góp vào Quỹ dịch vụ viễn thông công ích Việt Nam phần cước kết nối bổ sung là 0,17 USD/phút đối với phần lưu lượng vượt mức.

Rõ ràng, bản Quyết định này, trong bối cảnh độc quyền nhóm về cung ứng dịch vụ viễn thôngquốc tế tại Việt Nam, không hề làm thay đổi bản chất cạnh tranh trong việc nhận các cuộc gọi quốc tếchiều về. Nó vẫn tiếp tục bảo đảm rằng, cước kết nối chiều về mà doanh nghiệp cung cấp của Việt Nam đàm phán và áp dụng với đối tác nước ngoài sẽ không thấp hơn 0,17 USD/phút. Nó ngầm giúp cho các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ của Việt Nam tiếp tục và tham gia duy trì các -ten về giá cước kết nối chiều về, trong đó VNPT vẫn là doanh nghiệp định giá và các doanh nghiệp khác vẫn chỉ là những người chấp nhận giá. Chính vì vậy, mức cước kết nối chiều về Việt Nam vẫn tiếp tục được giữ ở mức rất cao.

Như vậy, so sánh với phán quyết của Ban hội thẩm trong vụ Mexico – Telecoms, có thể thấy, Việt Nam, ở một mức độ nhất định, chưa duy trì những biện pháp cần thiết để ngăn cấm việc các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông quốc tế của Việt Nam thực hiện hay tiếp tục duy trì các hành vi hạn chế hạn chế cạnh tranh. Điều này vi phạm Tài liệu tham chiếu theo quy định của pháp luậtWTO và Hiệp định thương mại Việt – Mỹ.

Trong khi đó, nhiều doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông trong nước vẫn đang quan ngại về các hành vi hạn chế cạnh tranh của VNPT trên thị trường viễn thông nội địa. Đã có nhiều vụ tranh chấp chưa được giải quyết thấu đáo giữa Viettel, EVN Telecom và VNPT từ năm 2004 đến nay liên quan tới vấn đề kết nối mạng. Viettel và EVN Telecom thường khiếu nại việc VNPT từ chối kết nối mạng và áp dụng những biện pháp kỹ thuật để cản trở việc cung ứng dịch vụ của các đối thủ cạnh tranh với VNPT. Nếu những vấn đề này không được giải quyết thấu đáo và nhanh chóng dưới góc độ pháp luật cạnh tranh, các quốc gia thành viên của WTO có thể trong một tương lai gần sẽ khởi kiện Việt Nam vi phạm quy định của Phần 5 Phụ lục về thông tin viễn thông về yêu cầu bảo đảm tiếp cận và sử dụng dịch vụ hệ thống viễn thông công cộng với những điều kiện và điều khoản hợp lý, không phân biệt đối xử.

Như vậy, dưới góc độ cạnh tranh và thông qua các vụ tranh chấp liên quan đến cạnh tranh của WTO, có thể thấy rằng, Quyết định số 04/2006/QĐ-BBCVT, trong chừng mực nhất định, cùng vớinhững hành vi hạn chế cạnh tranh khác hiện hành trong ngành viễn thông Việt Nam là không phù hợpvới quy định của Tài liệu tham chiếu và Phụ lục về thông tin viễn thông của WTO. Nếu những quy định đó không được sửa đổi, Việt Nam sẽ phải đối mặt với những nguy cơ bị các quốc gia thành viên khác khởi kiện ra WTO.

Ngoài ra, với xu hướng ngày càng có nhiều tranh chấp giữa các quốc gia thành viên có liên quan đến hành vi hạn chế cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trước WTO, cùng với yêu cầu loại bỏ các hàng rào tư cản trở thương mại quốc tế, quá trình đàm phán giữa các quốc gia để xây dựng và hoàn thiện pháp luật cạnh tranh trong khuôn khổ WTO tất yếu sẽ được nối lại. Do đó, Việt Nam cần chủ động tham gia quá trình này, trên cả phương diện song phương và đa phương, nhằm ngăn chặn các hành vi hạn chế cạnh tranh xuyên quốc gia có ảnh hưởng xấu đến thị trường Việt Nam. Đặc biệt, Việt Nam phải thực thi tốt pháp luật cạnh tranh của mình để thiết lập môi trường cạnh tranh công bằng, phù hợp với các quy định pháp lý hiện tại của WTO vÒ c¹nh tranh.

[1] Theo nghiên cứu của F. Jenny, lợi ích mà các nước đang phát triển thu được thông qua việc giảm thuế quan và ưu đãi thuế quan trong lĩnh vực nông nghiệp hàng năm khoảng 13, 4 tỷ USD. Trong khi đó, các các -ten (cartel) quốc tế, thông qua việc liên kết nâng giá bán sản phẩm tại các nước đang phát triển, đã thu được khoảng 20-25 tỷ USD lợi nhuận độc quyền. Xem F. Jenny, “Competition, Trade and Development before and after Cancun, trong T. Hwang & C. Chen (eds.), The Future Development of Competition Framework, Kluwer Law International, 2004, tr. 19-20.

SOURCE: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP SỐ 91, THÁNG 2 NĂM 2007 - NGUYỄN THANH TÚ

Trích dẫn từ:http://www.nclp.org.vn

(MKLAW FIRM: Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ có giá trị tham khảo và có thể một số thông tin pháp lý đã hết hiệu lực tại thời điểm hiện tại vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)

>> Xem thêm:  Dịch vụ luật sư tư vấn luật đầu tư nước ngoài Uy tín, Chuyên nghiệp

4. Các khía cạnh pháp lý của quá trình gia nhập WTO

Giới thiệu: Trong quá trình đàm phán bất kỳ điều ước quốc tế nào, bên cạnh các cân nhắc về chính trị quyết định sự cần thiết và mục tiêu của điều ước, các khía cạnh pháp lý có tầm quan trọng đặc biệt. Đối với các nước theo cách tiếp cận “nhất nguyên” đối với các điều ước quốc tế, tức là các điều ước quốc tế đã ký kết có thể được áp dụng trực tiếp trong hệ thống luật pháp trong nước thì các điều ước quốc tế là một nguồn luật quan trọng.

Dù một Thành viên WTO có cách tiếp cận pháp lý như thế nào đối với với các điều ước quốc tế mà Thành viên này tham gia, WTO coi việc thực hiện các nghĩa vụ trong WTO là yếu tố có tầm quan trọng quyết định, thể hiện ở quy định "Mỗi Thành viên sẽ đảm bảo việc các luật, quy định và thủ tục hành chính tuân thủ với các nghĩa vụ của Thành viên đó…”126.

Theo Luật Đàm phán, ký kết và gia nhập các Điều ước quốc tế của Việt Nam năm 2005 (“Luật Điều ước”) thì các điều ước quốc tế mà Việt Nam là Thành viên được thừa nhận là có hiệu lực pháp lý để áp dụng trực tiếp trong nội luật nếu như các cơ quan có thẩm quyền quyết định áp dụng trực tiếp và sẽ được ưu tiên áp dụng trong trường hợp luật trong nước quy định khác127. Do đó, không thể hiểu hết tác động pháp lý của việc trở thành Thành viên WTO cũng như các cam kết trong Tổ chức này nếu như không biết rõ hiệu lực pháp lý của các cam kết và cách thức các cam kết này được thực thi trong nội luật. Một công cụ pháp lý quan trọng đối với WTO là Nghị quyết số 71/2006/QH11 ngày 29/11/2006 của Quốc hội về việc phê chuẩn Nghị định thư gia nhập Hiệp định WTO của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (Nghị quyết phê chuẩn số 71). Một yếu tố nữa cũng quan trọng là năm 2001 Việt Nam đã trở thành Thành viên của Công ước Viên năm 1969 về Điều ước quốc tế, Công ước được thừa nhận là cơ sở pháp luật và hướng dẫn diễn giải tất cả các quy tắc và cam kết trong WTO128; do đó, Việt Nam phải thực thi các nghĩa vụ và cam kết của mình phù hợp với các quy tắc của WTO như được diễn giải theo các quy tắc của Công ước Viên.

Nghiên cứu này nhằm phân tích tác động của các khía cạnh pháp lý trong quá trình gia nhập WTO của Việt Nam thông qua rà soát các cam kết WTO liên quan tới lĩnh vực pháp lý129, như thực hiện các điều ước quốc tế (kể cả các cam kết WTO) thông qua quy định pháp luật trong nước, áp dụng thống nhất và minh bạch hóa chính sách (công bố luật, nhận xét của công chúng và công văn).

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trong trường hợp có thể, nghiên cứu này đã nỗ lực để so sánh các cam kết của Việt Nam với các cam kết của Trung Quốc. Ở phần cuối, nghiên cứu đưa ra nhận xét và khuyến nghị để thực thi hiệu quả các cam kết cũng như tận dụng cơ hội và vượt qua thách thức từ việc thực hiện này.

1. Thông tin chung

1.1. Các khía cạnh pháp luật trong quá trình đàm phán gia nhập WTO của Việt Nam

Mặc dù việc gia nhập WTO có thể được nhìn nhận từ nhiều khía cạnh khác nhau, đối với các luật sư thì nội dung cơ bản của việc trở thành Thành viên của WTO là thúc đẩy sự hài hòa cơ chế thương mại của các Thành viên WTO. Nhưng không may là các vấn đề pháp luật thường chỉ được giải quyết vào giai đoạn cuối cùng của các cuộc đàm phán và các nhà đàm phán thường đánh giá thấp hoặc hiểu nhầm các khía cạnh pháp lý của các cuộc đàm phán, những người thường là các chuyên gia thương mại và tập trung chủ yếu vào các khía cạnh chính sách thương mại của các cuộc đàm phán. Do đó, các kết quả đạt được đôi khi không được thể hiện bằng ngôn ngữ phù hợp, dẫn tới những khó khăn không cần thiết cho việc thực thi sau này cũng như các hậu quả không mong muốn.

Một điều thông thường là các nghĩa vụ trong các điều ước quốc tế đang được thực hiện vào thời điểm điều ước có hiệu lực130, nhưng điều ước lại dành cho các Thành viên quyền quyết định thực thi các nghĩa vụ này như thế nào131. Tất cả những yếu tố này dẫn tới thực tiễn đa dạng, chậm trễ và thậm chí không thực hiện các nghĩa vụ trong các điều ước quốc tế mặc dù đã có nguyên tắc pháp lý pacta sunt sevanda (điều ước phải được thực hiện một cách nghiêm túc). Do đó, một số Thành viên WTO có quan điểm theo hướng đánh giá sự việc các Thành viên WTO khác chậm trễ và không thực hiện các nghĩa vụ của họ khi thực hiện nghiêm túc các nghĩa vụ WTO của các nước này (điều này trái với các quy tắc của DSU cấm các Thành viên đơn phương đánh giá về hành vi bị coi là vi phạm WTO). Trong bối cảnh này, các khía cạnh pháp lý của quá trình thực thi đã trở thành trọng tâm trong các cuộc đàm phán gia nhập WTO của Việt Nam. Các Thành viên WTO đã yêu cầu Việt Nam chứng minh Việt Nam sẽ thực thi như thế nào và khi nào tất cả các cam kết WTO trong hệ thống pháp luật trong nước và thậm chí yêu cầu Việt Nam thực thi một số cam kết trước khi gia nhập

Ngoài ra, Việt Nam đã bị yêu cầu đưa ra Chương trình xây dựng pháp luật để thực thi các Hiệp định của WTO trong các phiên cuối của Ban công tác. Chương trình này đã được điều chỉnh liên tục cho tới tận những phiên đàm phán cuối cùng để thể hiện kết quả các cuộc đàm phán và diễn biến của hệ thống pháp luật. Khi Việt Nam trở thành Thành viên của WTO, Chương trình xây dựng pháp luật cuối cùng bao gồm 26 luật và nghị định đã được thực hiện đầy đủ, trừ Luật Thực thi phán quyết của tòa án, Luật này đã được trình ra Quốc hội và theo dự kiến sẽ sớm được thông qua.

Liên quan tới các cuộc đàm phán WTO, các cam kết liên quan trực tiếp tới toàn bộ hệ thống pháp lý – thực thi các điều ước quốc tế (kể cả cam kết WTO) trong nội luật, áp dụng thống nhất các văn bản pháp luật và minh bạch hóa luật pháp (công bố luật, nhận xét của công chúng và công văn) – (sau đây gọi là “các vấn đề pháp lý chung và minh bạch hóa”), các cuộc đàm phán thường rất khó khăn và trải rộng. Yếu tố then chốt để hiểu các cam kết WTO được thực thi trong nội luật như thế nào là xem xét khuôn khổ pháp luật chung đối với các điều ước quốc tế. Đầu tiên, Việt Nam được yêu cầu cung cấp các quy định pháp lý về các điều ước quốc tế và sau đó trình bày xem các cam kết WTO sẽ được thực thi hiệu quả như thế nào trong nội luật. Trong gần 11 năm đàm phán gia nhập WTO, Việt Nam đã dựa vào ba văn bản pháp luật chính – Pháp lệnh 1989 về Ký kết và thực hiện các Điều ước quốc tế, Pháp lệnh 1998 về Ký kết và thực thi các Điều ước quốc tế và Luật Điều ước năm 2005. Nghị định thư gia nhập của Việt Nam chứa các cam kết viề việc các Hiệp định và cam kết WTO sẽ được thực hiện như thế nào trong hệ thống pháp luật của Việt Nam.

Để áp dụng thống nhất và minh bạch hóa các quy định pháp luật cùng với các quy tắc pháp lý chung trong các Hiệp định của WTO, các Thành viên WTO đã yêu cầu Việt Nam cam kết thêm. Các cuộc đàm phán thực sự đã đề cập tới cả các thay đổi pháp lý cụ thể và việc các cơ quan và quan chức chính phủ thực thi thực sự các văn bản pháp luật này. Do đó, Luật Ban hành các văn bản pháp luật được bổ sung vào năm 2002 và một số văn bản hướng dẫn thực thi đã được ban hành. Bên cạnh đó, Luật Ban hành các văn bản pháp luật của Hội đồng Nhân dân và Ủy ban Nhân dân cũng được thông qua vào năm 2004. Để đảm bảo thực thi thống nhất nguyên tắc pháp luật, các cuộc đàm phán đã dẫn tới cải cách hệ thống pháp lý về quyền khiếu nại. Tất cả những thay đổi này diễn ra trong quá trình đàm phán, khi mà các cam kết WTO chưa có hiệu lực.

Do Việt Nam đã thực thi Hiệp định BTA giữa Việt Nam và Hoa Kỳ kể từ năm 2001, Hiệp định này chứa nhiều quy tắc pháp lý tương tự như các quy tắc pháp lý của WTO liên quan tới thực hiện thống nhất các văn bản pháp luật, minh bạch hóa và quyền khiếu nại132, hầu hết các cam kết WTO về nhng vấn đề này không phải là mới đối với Việt Nam. Theo nguyên tắc đối xử tối huệ quốc (MFN) của WTO, thì về lý thuyết những gì Việt Nam đã cam kết trong BTA sẽ phải dành cho các Thành viên WTO khác. Do đó, các Thành viên WTO muốn Việt Nam cam kết nhiều hơn trong BTA. Điều này giải thích tại sao lại có một số cam kết WTO cộng liên quan tới các vấn đề pháp lý chung và minh bạch hóa trong Nghị định thư gia nhập (ví dụ như quyền khiếu nại, nhận xét của công chúng, công bố trên các trang thông tin điện tử các văn bản pháp luật, cơ chế đảm bảo thực thi thống nhất các quy tắc WTO của chính quyền địa phương, v.v…).

Nói tóm lại, các khía cạnh pháp lý là một trong số các vấn đề quan trọng nhất trong đàm phán gia nhập WTO và là trọng tâm của các Thành viên WTO. Điều này dẫn tới việc Việt Nam thận trọng hơn về tác động pháp lý của các quy tắc và cam kết trong WTO đồng thời thực hiện các cải cách pháp lý trong nước phù hợp với tiến trình đàm phán gia nhập WTO. Do nhiều chương trình cải cách pháp luật khác nhau đã diễn ra tại Việt Nam, sẽ rất khó để nghiên cứu đầy đủ các khía cạnh pháp lý của tiến trình gia nhập WTO nếu không nắm rõ khuôn khổ pháp luật trong nước liên quan tới các vấn đề mà các cam kết WTO điều chỉnh. Rất nhiều thay đổi và cải cách pháp luật gần đây đã được thiết kế để thực hiện các Hiệp định và cam kết trong WTO; do đó, Việt Nam không phải thực hiện các khía cạnh pháp lý trong WTO từ con số không. Khoảng 70% các quy tắc và cam kết trong WTO đã được đưa vào hệ thống pháp luật hiện hành nhờ những chương trình cải cách pháp lý gần đây nhằm thúc đẩy tiến trình gia nhập WTO. 30% các cam kết WTO còn lại đang được thực hiện thông qua áp dụng trực tiếp hoặc chuyển cam kết vào nội luật133. Như chỉ ra dưới đây, Việt Nam đã đưa ra một số cam kết WTO cộng về các vấn đề pháp luật chung và minh bạch hóa. Việc chứng minh khả năng khả năng thực thi hiệu quả các cam kết trên thực tế được các Thành viên WTO coi là điều kiện tiên quyết để Việt Nam gia nhập WTO. Nhiều nhà quan sát đã nhận xét rằng nếu không có các chương trình cải cách pháp lý gần đây thì Việt Nam khó có thể gia nhập WTO vào đầu năm 2007134.

1.2. Các cam kết WTO liên quan tới các vấn đề pháp lý chung và minh bạch hóa

Cần phải đề cập tầm quan trọng pháp lý của Quyết định của Đại Hội đồng ngày 7 tháng 11 năm 2006 về việc nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam gia nhập WTO (Nghị định thư gia nhập)135. Đầu tiên, Việt Nam đã gia nhập WTO theo Điều XII của Hiệp định với “các điều kiện và điều khoản quy định tại Nghị định thư gia nhập đi kèm với Quyết định này". Điều này có nghĩa Nghị định thư là công cụ pháp lý cuối cùng và đầy đủ, bao gồm, trực tiếp hay tham chiếu tới, tất cả quyền, nghĩa vụ và cam kết của Việt Nam trong WTO. Thứ hai, do đó, nước gia nhập phải chấp nhận Nghị định thư gia nhập (các đoạn 1 và 8 của Nghị định thư gia nhập)136. Thứ ba, các điều kiện và điều khoản gia nhập của Việt Nam được đề cập trong Nghị đinh thư gia nhập gồm ba phần: (i) các điều kiện và điều khoản trong Hiệp định WTO cùng các sửa đổi và diễn giải chính thức; (ii) các điều kiện và điều khoản trong Nghị định thư, bao gồm “các cam kết được liệt kê trong đoạn 527 của Báo cáo Ban công tác” – là một phần không tách rời của Hiệp định WTO; và (iii) các điều kiện và điều khoản đề cập trong các Biểu và Phụ lục của Nghị định thư gia nhập.

1.2.1 Các vấn đề pháp lý chung

a) Thực thi các điều ước quốc tế, kể cả các cam kết WTO

Mối quan hệ giữa các điều ước quốc tế và nội luật của Việt Nam và thực thi các điều ước quốc tế trong nội luật được đề cập trong nhiều đoạn của Báo cáo của Ban công tác:

- Đoạn 112 đề cập tới thẩm quyền của Chủ tịch nước trong việc phê chuẩn hoặc đồng ý tham gia các Công ước quốc tế, trừ trường hợp cần trình Quốc hội phê duyệt.

- Đoạn 113 thảo luận trách nhiệm của Chính phủ trong việc quản lý thống nhất chính sách đối ngoại, đàm phán và ký kết các điều ước quốc tế.

- Đoạn 118 mô tả Luật về Điều ước quốc tế 2005 là Luật đặc biệt về các vấn đề điều ước và thảo luận các quy tắc pháp lý về nội dung và hình thức trong các điều ước quốc tế. Đoạn này dẫn tới kết luật rằng Nghị định thư về việc Việt Nam gia nhập WTO phải được Quốc hội hoặc Chủ tịch nước thông qua. Theo Luật về Điều ước quốc tế 2005 thì tất cả các điều ước quốc tế phải được công bố.

- Đoạn 119 chứa một cam kết rõ ràng của Việt Nam về việc các Công ước quốc tế và các nghĩa vụ WTO sẽ được thực hiện như thế nào, có bốn cam kết chính. Thứ nhất, Quốc hội sẽ phê chuẩn Nghị định thư gia nhập, mặc dù Luật về Điều ước quốc tế quy định rằng các điều ước quốc tế có thể được Quốc hội hoặc Chủ tịch nước thông qua. Thứ hai, trong quá trình tiến hành phê chuẩn Nghị định thư về việc gia nhập WTO, Quốc hội sẽ quyết định xem các cam kết WTO sẽ được thực thi như thế nào thông qua áp dụng trực tiếp (tự áp dụng) và/hoặc thông qua chuyển các cam kết WTO vào nội luật (điều chỉnh các văn bản pháp luật hiện hành hoặc ban hành các văn bản pháp luật mới của Việt Nam). Thứ ba, trong trường hợp có sự khác biệt giữa các văn bản quy phạm pháp luật trong nước và cam kết WTO về cùng một vấn đề thì cam kết WTO sẽ được ưu tiên áp dụng. Cuối cùng, việc xây dựng các văn bản pháp luật trong nước sẽ không cản trở việc thực thi cam kết WTO.

- Đoạn 479 cho biết Nghị định thư gia nhập được phê chuẩn sẽ là cơ sở pháp lý để ban hành các văn bản pháp luật thực hiện cam kết WTO.

Ngoài ra, Điều XVI.4 của Hiệp định WTO quy định rằng giống như bất kỳ Thành viên WTO nào khác, Việt Nam phải đảm bảo các văn bản pháp luật, quy định và thủ tục hành chính của mình tuân thủ các nghĩa vụ trong WTO. Yêu cầu này đã được Cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO làm rõ rằng Việt Nam không được có các văn bản pháp luật, quy định hoặc thủ tục hành chính vi phạm, theo quy định hoặc trên thực tế, các nghĩa vụ của mình.

b) Áp dụng luật pháp một cách thống nhất

Việc áp dụng thống nhất các văn bản pháp luật không chỉ là yếu tố quan trọng đối với sự thống nhất của hệ thống pháp luật trong nước mà còn để thực hiện hiệu quả điều ước quốc tế. Đó là lý do tại sao các Thành viên WTO đã nhấn mạnh tầm quan trọng của yếu tố này trong suốt quá trình đàm phán gia nhập. Cơ quan lập pháp là Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội có thẩm quyền diễn giải và giám sát việc thực hiện Hiến pháp, luật và các điều ước quốc tế và một số văn bản pháp quy khác137. Các văn bản pháp luật và quy định của Việt Nam (Ở Việt Nam được gọi là “các văn bản pháp quy”) được phân thành các nhóm khác nhau, căn cứ vào trình tự pháp lý chặt chẽ (từ trên xuống dưới). Có các nguyên tắc pháp lý quan trọng được đưa ra để đảm bảo việc áp dụng pháp luật một cách thống nhất, đòi hỏi các văn bản pháp luật và quy định ở cấp dưới phải phù hợp với văn bản pháp luật và quy định cấp cao hơn, nếu không sẽ bị vô hiệu hoặc rút lại. Nguyên tắc ban hành sau sẽ được áp dụng trong trường hợp có khác biệt giữa luật hoặc quy định ở cùng cấp138.

Các vấn đề liên quan tới việc trì hoãn ban hành các quy định thực thi đã được đề cập trong Báo cáo của Ban công tác và Việt Nam đã đồng ý đẩy nhanh tiến trình này để đảm bảo các văn bản pháp luật của mình có thể được áp dụng trực tiếp. Ngoài ra, cam kết theo hướng áp dụng các văn bản pháp luật một cách thống nhất cũng được thể hiện tại một số đoạn liên quan tới hệ thống tòa án và các cơ chế giải quyết tranh chấp khác, mô tả cách thức thực thi các văn bản pháp luật, các quyết định của trọng tài và tòa án cũng như quyền cá nhân, bao gồm quyền kháng án tại tòa án về các quyết định liên quan tới WTO139.

Sựt thống nhât của luật pháp trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam được đảm bảo thông qua quy tắc pháp lý “các cơ quan địa phương… phải tuân theo các văn bản pháp luật ở cấp Trung ương” và các văn bản pháp quy của các cơ quan địa phương phải phù hợp với các văn bản pháp luật và quy định do các cơ quan Trung ương ban hành. Để giải quyết mâu thuẫn trong các văn bản pháp quy, Việt Nam duy trì một cơ chế xác định và vô hiệu hóa bất kỳ mâu thuẫn nào. Một trong số các cam kết mạnh mẽ liên quan tới áp dụng thống nhất các văn bản pháp luật và cam kết WTO được chỉ ra tại đoạn 134 của Báo cáo Ban công tác: “các điều khoản của Hiệp định WTO sẽ được áp dụng một cách thống nhất trên lãnh thổ hải quan của Việt Nam…"140.

Ngoài ra, các cam kết mới về minh bạch hóa, quyền kháng án, rà soát tư pháp, thực thi chặt chẽ các văn bản pháp luật, đặc biệt liên quan tới các vấn đề quyền sở hữu trí tuệ và thi hành phán quyết của tòa án, v.v… như được đề cập trong Báo cáo của Ban công tác chắc chắn sẽ hỗ trợ việc áp dụng thống nhất các văn bản pháp luật. Ví dụ, để biết liệu một văn bản pháp luật có được áp dụng thống nhất hay không, cần phải biết văn bản pháp luật này quy định cái gì và làm cách nào có thể lấy được văn bản này. Các cam kết minh bạch hóa trong WTO đòi hỏi tất cả các văn bản pháp luật và quy định phải được công bố trước khi có hiệu lực. Nếu có nghi ngờ về việc áp dụng thống nhất, các bên có thể thực hiện quyền khiếu nại và rà soát phán quyết của tòa án để đảm bảo thống nhất. Liên quan tới thực thi quyền sở hữu trí tuệ, có nhiều biện pháp và hình thức để thực thi các quy tắc pháp lý về quyền sở hữu trí tuệ mô tả trong Báo cáo của Ban công tác: các thủ tục và chế tài dân sự; các biện pháp đặc biệt ở biên giới và các thủ tục hình sự141. Rõ ràng, một cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ mới sẽ góp phần thực thi pháp luật thống nhất hơn. Việc sửa đổi Bộ luật Thực thi phán quyết của tòa án đã được đưa vào Chương trình xây dựng pháp luật của Việt Nam để thực thi cam kết WTO và được kỳ vọng sẽ cải thiện hệ thống thực thi phán quyết hiện nay, và từ đó sẽ thúc đẩy việc tuân thủ pháp luật và áp dụng thống nhất các văn bản pháp luật.

Các cam kết khác về tính độc lập của cơ quan quản lý trong các ngành dịch vụ, tại các tòa án và cơ quan xét xử khác chắc chắn sẽ đóng góp tích cực vào việc áp dụng thống nhất pháp luật142.

Bên cạnh đó cũng có các điều khoản của WTO mà Việt Nam đã chấp nhận trong cam kết cả gói của mình, liên quan tới việc áp dụng thống nhất các văn bản pháp luật. Điều X của Hiệp định GATT 1994 đã đề ra các nghĩa vụ rõ ràng cho Việt Nam “quản lý một cách thống nhất, khách quan và hợp lý các luật, quy định và phán quyết…”. Các điều khoản tương tự cũng có thể được tìm thấy trong các Hiệp định khác của WTO như GATS, TRIPs… Cần phải nhớ rằng trong cam kết chung của mình, Việt Nam cũng chấp nhận chịu sự điều chỉnh của cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO, một chức năng chính để đảm bảo các cam kết và nghĩa vụ của các Thành viên sẽ được tôn trọng.

c) Sự phù hợp của pháp luật trong nước với cam kết WTO

Do việc áp dụng thống nhất các văn bản pháp luật liên quan tới sự phù hợp giữa nội luật và cam kết WTO, rất nhiều cam kết của Việt Nam trong WTO để đảm bảo áp dụng thống nhất luật pháp cũng liên quan tới sự phù hợp của nội luật với các cam kết của WTO. Điều này đặc biệt đúng khi các cam kết WTO đã được chuyển vào nội luật.

Nghĩa vụ chính của bất kỳ Thành viên WTO nào khi đề cập tới sự phù hợp giữa nội luật và cam kết WTO là Điều XVI.4 của Hiệp định WTO:

"Mỗi Thành viên sẽ đảm bảo các văn bản pháp luật, quy định và thủ tục hành chính tuân thủ nghĩa vụ của mình..”.

Quy tắc pháp lý này rất phù hợp với nguyên tắc pháp lý quan trọng trong luật quốc tế là "pacta sunt servanda" và không có bên nào có thể “áp dụng các điều khoản trong nội luật để biện hộ cho việc không thực hiện điều ước"143.

Trong Báo cáo của Ban công tác, có một số đoạn đề cập tới các cam kết của Việt Nam áp dụng thống nhất tất cả các quy định và cam kết trong WTO trên lãnh thổ Việt Nam.

Đoạn 134 khẳng định cam kết của Việt Nam trong việc áp dụng Hiệp định WTO “một cách thống nhất trên toàn bộ lãnh thổ hải quan, kể cả tại những khu vực liên quan đến buôn bán biên mậu, đặc khu kinh tế và các khu vực khác có áp dụng cơ chế đặc biệt về thuế quan, thuế và các quy định khác… các luật, các quy định và các biện pháp khác, bao gồm cả các quy định của chính quyền địa phương, phải tuân thủ các nghĩa vụ của Việt Nam..”. . Cam kết đã chỉ rõ rằng các văn bản pháp luật và quy định trong nước phải phù hợp với các cam kết WTO. Các khu kinh tế hoặc thương mại đặc biệt mới thành lập và chính quyền cấp cơ sở phải áp dụng cam kết này. Đoạn 134 còn đi xa hơn, đòi hỏi Việt Nam phải thiết lập một cơ chế rất đặc biệt để đảm bảo sự phù hợp giữa các biện pháp của chính quyền địa phương với các nghĩa vụ của WTO: các cơ quan trong nước phải thực thi các nghĩa vụ WTO nếu như phát hiện một biện pháp không phù hợp “mà không đòi hỏi bên bị ảnh hưởng nộp đơn kiện ra tòa án"144.

Một lần nữa, các cam kết về minh bạch hóa, quyền khiếu nại và rà soát pháp lý, v.v… như được thảo luận ở phần trên là để đảm bảo sự phù hợp giữa pháp luật trong nước và các cam kết WTO. Cam kết của Việt Nam trong việc xác định cách thức giải quyết sự khác biệt giữa luật Việt Nam và các nghĩa vụ trong WTO (thông qua áp dụng trực tiếp luật hoặc điều chỉnh các văn bản pháp luật liên quan khi Nghị định thư gia nhập được phê chuẩn) và các nghĩa vụ khác trong Luật về Điều ước quốc tế là đảm bảo cho sự phù hợp giữa nội luật và các cam kết WTO.

Cuối cùng, nếu các biện pháp không phù hợp với WTO không được điều chỉnh hợp lý thì biện pháp này có thể bị kiện ra cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO. Tới tháng 01 năm 2007 đã có hơn 300 biện pháp trong nước của các Thành viên WTO bị kiện ra Cơ chế giải quyêt tranh chấp này.

d) Trung Quốc: một sự so sánh tốt

Thử so sánh, để trở thành một Thành viên của WTO, Trung quốc đã đưa ra nhiều cam kết về các vấn đề pháp lý chung tương tự như Việt Nam145. Giống như Việt Nam, Trung Quốc cam kết thực hiện đầy đủ các quy tắc của WTO và đã chấp nhận một số cam kết pháp lý bổ sung quy định tại Nghị định thư gia nhập và Báo cáo của Ban công tác. Các cam kết này bao gồm cam kết:

“Áp dụng trên toàn lãnh thổ hải quan Trung Quốc, kể cả các khu vực biên mậu và các vùng tự trị của dân tộc thiểu số, các đặc khu kinh tế, thành phố duyên hải mở, các khu phát triển kỹ thuật và các khu vực khác có áp dụng cơ chế đặc biệt về thuế quan, thuế nội địa và các quy định khác… "146.

Bên cạnh đó, giống như Việt Nam, Trung Quốc cam kết áp dụng thống nhất tất cả các văn bản pháp luật, quy định và các biện pháp khác của Chính quyền Trung ương và địa phương; đảm bảo phù hợp với nghĩa vụ trong WTO và duy rì cơ chế xử lý đối với việc áp dụng không thống nhất các quy tắc liên quan tới thương mại147.

Trung Quốc đã đưa ra cam kết tương tự như Việt Nam liên quan tới quyền khiếu nại và rà soát pháp lý.

1.2.2. Minh bạch hóa

Minh bạch hóa là một trong những từ chính trong luật thương mại quốc tế hiện đại. Rất khó, nếu không nói là không thể, để đưa ra các nhận định chính xác hoặc các quyết định kinh doanh tốt khi không có thông tin đầy đủ. Các thảo luận ở phần trên đã cho thấy tầm quan trọng của minh bạch hóa và cơ chế hiện tại để chứng minh việc tuân thủ với nghĩa vụ minh bạch hóa. Do tầm quan trọng của vấn đề này, minh bạch hóa là một chủ đề nổi bật trong quá trình đàm phán gia nhập WTO của Việt Nam. Các quy tắc liên quan đã được đưa vào một phần riêng trong Báo cáo của Ban công tác và trong nhiều đoạn của Báo cáo của Ban công tác về các lĩnh vực khác nhau (thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ, TRIPs, các Hiệp định thương mại khu vực, v.v…). Dưới đây, nghiên cứu chỉ thảo luận ba lĩnh vực của minh bạch hóa là nhận xét của công chúng về dự thảo văn bản pháp luật và quy định, công bố luật và việc sử dụng công văn để đưa ra chính sách và quy định. Do các cam kết trong Báo cáo của Ban công tác đi xa hơn các quy tắc chung của WTO về minh bạch hóa, sẽ là hợp lý khi chỉ thảo luận các cam kết này, trừ khi có lý do khác.

a) Nhận xét của công chúng đối với dự thảo các văn bản pháp quy

Về cơ bản, các Thành viên WTO không có nghĩa vụ phải lấy ý kiến của công chúng trong quá trình chuẩn bị, dự thảo các văn bản pháp luật và quy định hoặc các biện pháp áp dụng chung khác, trừ đối với các biện pháp TBT. Tuy nhiên, Báo cáo của Ban công tác của Việt Nam chứa nhiều đoạn mô tả thảo luận và cam kết về nhận xét của công chúng đối với dự thảo các văn bản pháp quy liên quan tới thương mại148.

Các cam kết chi tiết và đầy đủ nhất của Việt Nam về nhận xét của công chúng được đưa vào các đoạn 510 – 514 và đoạn 518 trong Báo cáo của Ban công tác. Các đoạn này quy định dự thảo luật và các văn bản pháp quy liên quan tới thương mại phải được công bố để công chúng nhận xét thông qua nhiều cách thức và phương tiện khác nhau, kể cả công bố dự thảo trên trang thông tin điện tử (web) để công chúng góp ý, với một số ngoại lệ nhất định. Ý kiến góp ý của công chúng phải được tính tới trong quá trình thông qua dự thảo.

Việt Nam đã đưa ra các cam kết rất mạnh mẽ về nhận xét của công chúng:

- Kể từ ngày gia nhập, bất kỳ dự thảo luật, văn bản hoặc các biện pháp khác liên quan tới WTO do Quốc hội phê chuẩn phải dành ít nhất 60 ngày để công chúng nhận xét.

- Các cơ quan chính phủ cần xem xét các nhận xét đã nhận được.

Các cam kết về nhận xét của công chúng, giống như các cam kết khác về minh bạch hóa, cũng cũng có các ngoại lệ liên quan tới tình trạng khẩn cấp hoặc an ninh quốc gia hoặc khi công bố dự thảo luận để công chúng nhận xét sẽ cản trở việc thực thi luật.

b) Công bố các văn bản pháp luật

Luật pháp của Việt Nam yêu cầu phải công bố luật, quy định và các biện pháp áp dụng chung có chứa các quy phạm pháp luật (văn bản quy phạm pháp luật). Việc công bố luật là một nghĩa vụ chung của WTO, áp dụng đối với tất cả các Thành viên và được quy định trong nhiều Hiệp định như Hiệp định GATT 1994, GATS, TRIPs, v.v… Tuy nhiên, các cam kết của Việt Nam về vấn đề này trong Báo cáo của Ban công tác là sâu rộng, cụ thể hơn:

- Việt Nam cam kết áp dụng đầy đủ các quy định của WTO về việc công bố các văn bản pháp luật kể từ ngày gia nhập WTO (đoạn 518);

- Không có văn bản pháp quy nào có hiệu lực và được thực thi trước khi được công bố;

- Việc công bố được thực hiện trên các tạp chí và trang thông tin điện tử được chỉ định;

- Thông tin công bố phải bao gồm tên cơ quan quản lý và ngày có hiệu lực;

- Trong lĩnh vực dịch vụ, thông tin công bố phải bao gồm phạm vi chung của các dịch vụ hoặc hoạt động bị ảnh hưởng và Việt Nam sẽ công bố danh sách các cơ quan chính phủ chịu trách nhiệm cho phép, thông qua hoặc điều tiết dịch vụ cũng như tất cả các thủ tục và điều kiện cấp phép;

- Bên cạnh đó, rất nhiều đoạn trong Báo cáo của Ban công tác đề cập tới nghĩa vụ phải công bố dự thảo các văn bản pháp quy để công chúng nhận xét.

c) Sử dụng công văn

Việc sử dụng công văn tại Việt Nam đã khiến nhiều Thành viên lưu ý do công văn được sử dụng một cách không minh bạch149. Do đó, các Thành viên đã đề nghị Việt Nam không sử dụng công văn như là văn bản ban hành chính sách hoặc sử dụng công văn phù hợp với yêu cầu minh bạch hóa của WTO.

Việt Nam đã xác nhận rằng theo quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam thì công văn không được coi là văn bản pháp quy; do đó, công văn không được sử dụng để đề ra chính sách áp dụng chung. Do đó, các cơ quan và nhân viên chính phủ không thể dựa vào công văn để đưa ra quyết định do công văn không phải là nguồn luật. Tuy nhiên, theo quan điểm của các Thành viên, việc sử dụng các công văn vẫn gây nhiều vấn đề cho các doanh nghiệp. Trả lời yêu cầu của các Thành viên, Việt Nam cam kết sẽ sử dụng “công văn” rõ ràng hơn và phù hợp hơn với các quy định của WTO.

d) So sánh với Trung Quốc

Để trở thành một Thành viên của WTO, giống như Việt Nam, Trung Quốc đã chấp nhận nhiều cam kết liên quan tới minh bạch hóa như thực hiện đầy đủ tất cả các quy tắc có liên quan của WTO về minh bạch hóa và đưa ra cam kết bổ sung trong Nghị định thư gia nhập và Báo cáo của Ban công tác. Các cam kết này bao gồm việc công bố tất cả các luật, văn bản và các biện pháp khác liên quan tới WTO trước khi thực thi các văn bản này; các nghĩa vụ liên quan tới việc các doanh nghiệp, cá nhân nhận xét, góp ý cho các dự thảo văn bản pháp luật; và thành lập điểm hỏi đáp để cung cấp thông tin150.

1.3. So sánh cam kết trong WTO và cam kết trong các thỏa thuận hội nhập kinh tế quốc tế khác về các vấn đề pháp lý chung và minh bạch hóa

Các nghĩa vụ pháp lý chung và minh bạch hóa trong các hiệp định quốc tế không phải là nội dung mới đối với Việt Nam, đặc biệt kể từ khi đàm phán và ký kết Hiệp định BTA. BTA có một chương riêng (Chương VI: Các điều khoản liên quan tới minh bạch hóa và quyền khiếu nại) bên cạnh các điều khoản liên quan trong các chương khác. Có một số điều khoản trong các hiệp định liên quan tới thương mại gần đây của ASEAN cũng đưa ra các nghĩa vụ minh bạch hóa. Trong khuôn khổ APEC, minh bạch hóa đang được thảo luận nhưng mang tính chất tự nguyện và không ràng buộc các bên. ASEAN và một số đối tác cũng đang thảo luận với một số đối tác về các Hiệp định thương mại tự do trong đó có thể bao gồm các quy tắc về minh bạch hóa.

Tuy nhiên, cho tới nay chỉ có các quy tắc về các vấn đề pháp lý chung và minh bạch hóa trong BTA là có tác động thực sự tới Việt Nam, dẫn tới những thay đổi trong nội luật để tuân thủ BTA. Do đó, nghiên cứu chỉ tập trung thảo luận các quy tắc minh bạch hóa trong BTA.

Về cơ bản, BTA có các quy tắc liên quan tới các vấn đề pháp lý chung và minh bạch hóa tương tự như các quy tắc của GATT Điều X, GATS Điều III và VI, TRIPS. Theo BTA, Việt Nam có nghĩa vụ :

- Công bố tất cả luật, quy định và các thủ tục hành chính áp dụng chung liên quan tới BTA trước khi các văn bản, thủ tục này có hiệu lực; thông tin công bố bao gồm ngày có hiệu lực, sản phẩm bị ảnh hưởng và cơ quan chịu trách nhiệm;

- Lấy ý kiến của công chúng “trong phạm vi có thể” trong quá trình soạn thảo luật, quy định và các thủ tục hành chính liên quan tới BTA;

- Chỉ định một tạp chí chính thức để công bố tất cả các luật, quy định và các thủ

tục hành chính liên quan tới BTA;

- Thực hiện tất cả luật, quy định và các thủ tục hành chính áp dụng chung liên quan tới BTA “một cách thống nhất, khách quan và hợp lý”;

- Đảm bảo quyền khiếu nại tới các cơ quan xét xử hành chính và tư pháp nhằm yêu cầu xem xét và khắc phục nhanh chóng các hành vi hành chính không thống nhất.

- Thực thi nghiêm túc quyền sở hữu trí tuệ như quy định trong Hiệp định TRIPs;

- Áp dụng các quy tắc tương tự GATS về quy định trong nước và minh bạch hóa.

1.4. Tác động của các cam kết gia nhập WTO về các vấn đề pháp lý chung và minh bạch hóa đối với Chính phủ, các doanh nghiệp và toàn thể xã hội

Thuật ngữ “tác động” trong Chương này có nghĩa đặc biệt và hẹp, đề cập tới việc các cam kết liên quan tới Chính phủ, doanh nghiệp và toàn thể xã hội như thế nào. Các tác động khác đã được đề cập tới trong các chương khác nhau của tài liệu này.

Việt Nam đã đưa ra nhiều cam kết gia nhập về các vấn đề pháp luật chung và minh bạch hóa, một số cam kết này cao hơn các quy tắc chung của WTO. Do đó, cũng dễ hiểu tại sao các cam kết này sẽ có các tác động khác nhau đối với các bên liên quan tại Việt Nam: Chính phủ, doanh nghiệp và toàn xã hội.

1.4.1. Tác động đối với Chính phủ

Chính phủ (theo nghĩa rộng) là Thành viên của WTO; do đó đã cam kết đối với tất cả các nghĩa vụ trong WTO và sẽ phải thực hiện các cam kết này. Theo nghĩa đó, tất cả các cam kết gia nhập về các vấn đề pháp lý chung và minh bạch hóa đều liên quan tới Chính phủ.

i) Trách nhiệm thực hiện nghiêm túc các cam kết gia nhập về các vấn đề pháp lý chung và minh bạch hóa là do Chính phủ gánh vác

Rõ ràng các văn bản pháp luật, quy định và các biện pháp áp dụng chung trong nước phải được cải cách để phù hợp với các cam kết gia nhập của Việt Nam về các vấn đề pháp lý chung và minh bạch hóa. Do phm vi cam kết là rất rộng và sâu, các chương trình cải cách pháp lý trong nước có thể được thực hiện tại các cấp chính quyền khác nhau.

ii) Cải cách pháp lý để đưa nội luật phù hợp với các cam kết gia nhập về các vấn đề pháp lý chung và minh bạch hóa chỉ là một phần của công việc: phần khó khăn hơn là phải thay đổi thái độ, thói quen và thực tiễn của các cơ quan và quan chức chính phủ

Ở một chừng mực đáng kể, những cải cách pháp lý hiện nay đã đáp ứng các cam kết WTO và do đó không còn nhiều công việc lập pháp phải thực hiện. Tuy nhiên, như thực tế đã chỉ ra, cần phải mất thêm nhiều thời gian, nỗ lực, đầu tư và quyết tâm để áp dụng các luật, quy định và thủ tục hành chính phù hợp hoàn toàn với các cam kết WTO. Các bước này liên quan tới nỗ lực và cải cách quan trọng khác, bao gồm những thay đổi về cơ cấu của các cơ quan chính phủ, cải thiện chất lượng của các công chức và chánh án, những người trước đây được đào tạo và làm việc trong một môi trường khác.

iii) Cần có đầu tư đầy đủ để thực thi các cam kết gia nhập về các vấn đề pháp luật chung và minh bạch hóa

Rõ ràng những thay đổi và cải cách cần thiết để thực thi các cam kết WTO về các vấn đề pháp lý chung và minh bạch hóa sẽ gây tốn kém cho Chính phủ. Các cải cách khác, đặc biệt là các cải cách được đưa ra để thay đổi thái độ và phương thức làm việc của các công chức và chánh án cũng rất tốn kém.

iv) Thách thức là làm cách nào để tận dụng các cam kết gia nhập về các vấn đề pháp lý chung và minh bạch hóa để đạt được các mục tiêu phát triển của Việt Nam

Việt Nam đã bắt đầu thực hiện các chương trình cải cách mạnh mẽ, bao gồm cải cách pháp lý, tư pháp và hành chính. Để đạt được hiệu quả và hiệu suất, các chương trình cải cách liên quan tới WTO cần gắn với cải cách và phối hợp chặt chẽ với các nỗ lực khác. Điều này nói thì dễ nhưng làm rất khó.

v) Thận trọng: điều gì sẽ xảy ra nếu không thực hiện các cam kết gia nhập về các vấn đề pháp lý chung và minh bạch hóa

Một trong số các lợi ích mà Việt Nam thu được từ việc gia nhập WTO là được sử dụng cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO. Tuy nhiên, cần thận trọng, vấn đề có thể được xem xét từ một góc độ khác – các Thành viên WTO khác có thể giám sát chặt chẽ Việt Nam để xem Việt Nam có tuân thủ đầy đủ các nghĩa vụ và cam kết của mình hay không. Việc Việt Nam không thực hiện đầy đủ bất kỳ cam kết hoặc nghĩa vụ nào đều có thể dẫn tới việc bị kiện ra WTO.

1.4.2. Tác động đối với các doanh nghiệp trong nước

Các doanh nghiệp trong nước đón nhận việc Việt Nam gia nhập WTO với thái độ và cảm giác khác nhau do mức độ nhận thức chưa cao cũng như thiếu hiểu biết đầy đủ về

bản chất của việc gia nhập WTO và các tác động của việc này, nếu có. Đối với các doanh nghiệp đã có định hướng chiến lược hoặc kế hoạch xuất khẩu, việc gia nhập dường như hứa hẹn và sẽ đem lại nhiều cơ hội hơn. Mặt khác, đối với các doanh nghiệp chỉ hoạt động trên thị trường nội địa thì gia nhập WTO sẽ dẫn tới nhiều thách thức hơn cơ hội do phải chia sẻ thị trường với các đối thủ cạnh tranh nước ngoài.

Cần phải nhấn mạnh rằng các doanh nghiệp là những đối tượng chính và được gọi là “người lính trên thương trường” trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. WTO là một hệ thống thương mại đa phương, điều chỉnh thương mại do các doanh nghiệp thực hiện (mặc dù Chính phủ đôi khi cũng tham gia vào các hoạt động thương mại, đặc biệt là thông qua các doanh nghiệp nhà nước). Do đó, trọng tâm của Chính phủ trong quá trình gia nhập là tạo ra một môi trường thuận lợi hơn cho doanh nghiệp và các hoạt động kinh doanh. Theo nghĩa đó, các cam kết gia nhập WTO sẽ đem lại tác động to lớn đối với doanh nghiệp.

i) Thay đổi quy mô thị trường: quy mô thị trường sẽ mang tính toàn cầu; các khuôn khổ pháp lý và quản lý giống nhau tại tất cả các Thành viên WTO

Hiện nay, các doanh nghiệp Việt Nam có thể tiếp cận dễ dàng thị trường toàn cầu. Các doanh nghiệp cần nhận ra rằng họ cũng sẽ chịu điều chỉnh bởi các quy định pháp luật nước ngoài, các quy định có thể có những yếu tố tương tự như cam kết của Việt Nam về các vấn đề pháp luật chung và minh bạch hóa. Do đó, nắm được quy tắc của trò chơi sẽ là yếu tố không thể tránh được cho các doanh nghiệp.

ii) Thay đổi cạnh tranh: các doanh nghiệp trong nước phải cạnh tranh với “người ngoài” hiểu biết pháp lý hơn mình

Một trong số những điểm yếu nhất của các doanh nghiệp Việt Nam là mức độ nhận thức và hiểu biết pháp luật rất thấp, thậm chí không hiểu biết pháp luật. Điều này chắc chắn sẽ tác động tiêu cực tới năng lực cạnh tranh với các đối thủ nước ngoài, những người thường tìm hiểu các quy tắc pháp lý liên quan trước khi đưa ra quyết định kinh doanh. Rất khó có thể tưởng tượng một doanh nghiệp có thể cạnh tranh hiệu quả mà không hiểu biết quy tắc của cuộc chơi. Điều này sẽ khiến các doanh nghiệp Việt Nam gặp nhiều khó khăn hơn trong cạnh tranh.

iii) Thay đổi môi trường pháp lý: hệ thống pháp luật trong nước đã được thay đổi để phù hợp với các cam kết WTO với một tốc độ nhanh chưa từng có – các doanh nghiệp cần được cập nhật các quy tắc thương mại mới này

Trong thời đại hiện nay, các doanh nghiệp cần cập nhật các thay đổi trong môi trường pháp lý vốn xảy ra hàng ngày tại Việt Nam. Việc thực thi các cam kết WTO chắc chắn sẽ làm tăng tốc thay đổi pháp lý tại Việt Nam, ít nhất trong tương lai gần, dẫn tới nhiều áp lực cho các doanh nghiệp Việt Nam.

iv) Làm cách nào tận dụng các quy tắc của WTO về các quy tắc pháp lý chung và minh bạch hóa trên thị trường nước ngoài và Việt Nam?

Thật không may, các cam kết WTO là các nghĩa vụ quốc tế. Theo đó, các cam kết này không nhất thiết phải áp dụng cho các doanh nghiệp trong nước. Đây là một câu hỏi về mặt chính sách: liệu Việt Nam có nên dành đối xử “với các doanh nghiệp nước ngoài” cho các doanh nghiệp Việt Nam hay không? Theo nghĩa đó, các cam kết WTO về các vấn đề pháp lý chung và minh bạch hóa có tác động rõ ràng đối với doanh nghiệp.

Mặt khác, muốn hiểu đầy đủ các cam kết gia nhập WTO của Việt Nam có liên quan đòi hỏi phải quen với các cam kết tương ứng và/hoặc các quy định trong nước của các Thành viên WTO khác. Điều này tùy thuộc vào doanh nghiệp trong việc tiếp cận và tận dụng các quy tắc liên quan.

v) Làm cách nào giải quyết vấn đề của doanh nghiệp theo các quy tắc của WTO?

Về mặt trong nước, nếu câu hỏi chính sách đề cập ở trên (áp dụng cam kết WTO cho các doanh nghiệp trong nước) được giải quyết theo hướng có lợi cho các doanh nghiệp, các doanh nghiệp sẽ có nhiều cơ hội hơn trong việc giải quyết các vấn đề của mình: quyền được khiếu nại các quyết định và hành vi hành chính và có thể yêu cầu rà soát tư pháp đối với các quyết định hành chính.

Bên cạnh đó, trên các thị trường nước ngoài, các doanh nghiệp Việt Nam được quyền hưởng các cam kết của các Thành viên khác phù hợp với WTO.

Ngoài ra, nếu các doanh nghiệp Việt Nam được các Thành viên WTO đối xử bất bình đẳng, họ có thể yêu cầu Chính phủ Việt Nam thực hiện một số bước để giải quyết vấn đề, kể cả việc sử dụng cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO.

1.4.3. Tác động đối với toàn xã hội

Chắc chắn Việt Nam coi gia nhập WTO là để phục vụ cho các mục tiêu kinh tế – xã hôi của mình; nếu không Việt Nam đã không nỗ lực tới mức vậy để trở thành Thành viên WTO. Cảm nhận chung của người dân, hầu hết họ là người tiêu dùng, về việc gia nhập WTO là tích cực. Cảm nhận này gắn với những tiến bộ của Việt Nam hướng tới một thị trường cởi mở và tự do hơn và các cải cách trong nước khác. Tuy nhiên, tuỳ thuộc vào công việc và vị trí của mỗi người trong xã hội, thái độ và cảm nhận về việc gia nhập WTO có thể khác nhau. Do đó, khó có thể khái quát tất cả tác động của việc gia nhập WTO tới toàn xã hội. Dưới đây là tóm tắt các tác động có thể xảy ra từ các cam kết về các vấn đề pháp lý chung và minh bạch hóa đối với toàn xã hội.

Tất cả các tác động đề cập ở trên đối với Chính phủ và các doanh nghiệp cũng đúng với toàn xã hội do Chính phủ và cộng đồng doanh nghiệp là thành phần của xã hội.

i) Nhiều cải cách trong nước dẫn tới nhiều nỗ lực và đầu tư hơn

Rõ ràng để thực hiện các cam kết WTO, xã hội Việt Nam cần trải qua nhiều thay đổi hơn nữa, những thay đổi này chắc chắn sẽ đòi hòi nhiều nỗ lực và đầu tư hơn. Trong khi các nguồn lực là luôn có hạn, thậm chí là khan hiếm đối với Việt Nam, nhưng vẫn phải chia sẻ cho việc thực hiện các quy định pháp lý của WTO. Đây là một công việc khó khăn.

ii) Người tiêu dùng có thu được lợi ích?

Mọi người đều là người tiêu dùng từ một góc độ nào đó, toàn xã hội có thể được coi là một nhóm người tiêu dùng. Đã có các học thuyết, nghiên cứu và lý thuyết chỉ ra rằng người tiêu dùng thông thường được hưởng lợi, ít nhất về mặt kinh tế, từ việc mở cửa và tự do hóa thương mại. Do đó, các cam kết WTO về các vấn đề pháp luật chung và minh bạch hóa sẽ đem lại lợi ích kinh tế cho toàn xã hội.

iii) Các yếu tố phi thương mại: làm cách nào để bảo tồn bản sắc và văn hóa dân tộc? các tác động môi trường

Phát triển bền vững là một mục tiêu cao quý của bất kỳ một nước nào, tuy nhiên trên thực tế dường như khó thực hiện được mục tiêu này. Rõ ràng, các cam kết gia nhập WTO đem lại nhiều tác động không mong muốn mà Việt Nam cần phải đối mặt. Liệu xã hội có thể gìn giữ được văn hóa và phong tục khi mở cửa cho các sản phẩm, dịch vụ và các doanh nghiệp nước ngoài hay không? Xã hội dường như phải chịu thêm nhiều sức ép để bảo môi trường trong sạch và lành mạnh không chỉ cho thế hệ hôm nay mà còn cho các thế hệ mai sau.

iv) Xã hội minh bạch và pháp trị sẽ đem lại lợi ích cho tất cả mọi người

Xây dựng một quốc gia minh bạch, xã hội chủ nghĩa theo pháp trị là một trong số các mục tiêu của đất nước. Theo nghĩa đó, các cam kết WTO về các vấn đề pháp lý chung và minh bạch hóa sẽ góp phần thực hiện mục tiêu này. Việc thực thi có hiệu quả các cam kết WTO sẽ thúc đẩy việc thực hiện mong ước của người dân nói chung – xây dựng một xã hội minh bạch và theo pháp trị

v) Giấc mơ: “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh"

Việc thực hiện đầy đủ các cam kết trong WTO và xử lý hợp lý các tác động của việc gia nhập đối với Chính phủ, doanh nghiệp và toàn thể xã hội sẽ thúc đẩy việc thực hiện mục tiêu dài hạn của Việt Nam là xây dựng đất nước dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh.

2. Kết luận và khuyến nghị

Các cam kết gia nhập WTO của Việt Nam về các vấn đề pháp lý chung và minh bạch hóa vừa rộng vừa cụ thể. Các cam kết này cao hơn các quy tắc liên quan trong các Hiệp định của WTO và tương tự như các cam kết WTO của Trung Quốc và gần giống với cam kết của Việt Nam trong BTA. Có các tác động thực tế và tiềm năng khác nhau đối với các bên liên quan: Chính phủ, doanh nghiệp và toàn xã hội. Phân tích và thảo luận ở phần trên về cam kết đối với các vấn đề pháp lý chung và minh bạch hóa đã cho thấy có nhiều việc phải làm để thực thi hiệu quả các cam kết này và xử lý tốt tác động mà các cam kết này có thể đem lại. Có thể nói rằng mặc dù các cam kết có thể được xem xét từ nhiều góc độ khác nhau nhưng tất cả các cam kết về các vấn đề pháp lý chung và minh bạch hóa là phù hợp với các nỗ lực cải cách trong nước để xây

dựng một xã hội xã hội chủ nghĩa trên cơ sở pháp trị và dân chủ. Điều này có nghĩa là các cam kết WTO trong các lĩnh vực này sẽ thúc đẩy cải cách trong nước nhanh hơn và sâu hơn. Tuy nhiên, tự do hóa thương mại không phải là không có cái giá của nó; có chi phí, khó khăn và thách thức gắn với việc thực hiện các cam kết WTO của Việt Nam.

Trong bối cảnh này, một số đề xuất và khuyến nghị được đưa ra để thực thi hiệu quả các cam kết WTO về các vấn đề pháp lý chung và minh bạch hóa để tận dụng các lợi ích của cam kết và giảm thiểu rủi ro có thể xảy ra:

2.1. . Đối với Chính phủ

Việc thực thi hiệu quả các cam kết WTO phụ thuộc phần lớn vào tầm nhìn và kế hoạch của Chính phủ về việc sẽ thực hiện các cam kết như thế nào (mặc dù việc thực hiện cam kết là vấn đề không phải bàn cãi). Do đó, cần có một tầm nhìn rõ ràng, đầy đủ và chi tiết và cần đưa ra một kế hoạch được thiết kế phù hợp. Kế hoạch này cần đưa ra các công việc cho tất cả các cấp chính quyền và đảm bảo sự đồng bộ với các nỗ lực cải cách khác trong nước (hành chính, pháp lý và tư pháp). Kế hoạch cần bao gồm các biện pháp sau:

- Các biện pháp về lập pháp: rà soát các văn bản pháp lý, quy định và các biện pháp áp dụng chung hiện hành để tìm ra các điểm không phù hợp với các quy tắc và cam kết trong WTO. Dựa trên kết quả rà soát, cần đưa ra các đề xuất pháp lý cụ thể. Điều quan trọng là các cam kết cần được áp dụng một cách khả thi đối với tất cả các đối tượng: sản phẩm, dịch vụ, tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước;

- Phát triển nguồn nhân lực: Cần xây dựng các chương trình giáo dục và đào tạo liên quan tới WTO. Việc này cần làm song song với các cải cách hành chính cần thiết trong cơ cấu của Chính phủ, dịch vụ công và các thủ tục hành chính;

- Xây dựng sự đồng thuận thông qua phổ biến thông tin về WTO một cách hiệu quả hơn.

2.2. Đối với doanh nghiệp

Các doanh nghiệp nếu được trang bị đầy đủ thông tin và kiến thức về WTO thì sẽ học hỏi nhanh chóng để cạnh tranh trong môi trường mới. Do đó, cần thực hiện các biện pháp sau:

- Các chương trình nâng cao nhận thức cụ thể về WTO cần được xây dựng cho doanh nghiệp và vì doanh nghiệp. Ở đây, bên cạnh hướng dẫn và thông tin từ Chính phủ, các hiệp hội doanh nghiệp đóng một vai trò quan trọng. Tuy nhiên sẽ không đạt được hiệu quả nếu như các doanh nghiệp không tích cực và chủ động;

- Các doanh nghiệp cần tăng cường năng lực (thông qua nhiều phương tiện khác nhau như phát triển nguồn nhân lực, sử dụng luật sư, cập nhật thông tin, v.v…) để tận dụng các quy tắc pháp lý mới (đưa ra ý kiến về việc dự thảo luật và quy định, có phản ứng hợp lý khi bị tác động trên cả thị trường trong nước và thị trường nước ngoài ).

2.3. Đối với xã hội

Tất cả các bên liên quan và các nhóm có lợi ích đều cần phải được tham vấn để có được nhận thức chung về việc thực hiện các cam kết WTO. Do đó, cần thiết lập một cơ chế vận hành tốt để xử lý các luồng thông tin ba chiều:

- Từ Chính phủ tới xã hội (trên xuống dưới);

- Từ xã hội tới Chính phủ (dưới lên ); và

- Giữa các bên liên quan và các nhóm có lợi ích (ngang).

Do có một số tác động phi thương mại (ví dụ như văn hóa, đạo đức, môi trường) mà các cam kết WTO có thể đem lại, cần có các biện pháp tự vệ về mặt xã hội và đánh giá rủi ro.

Chú thích:

126 Điều XVI.4, Hiệp định WTO

127 Điều 6 của Luật Điều ước

128 Xem Thỏa thuận về giải quyết tranh chấp của WTO

129 Nghiên cứu này đề cập tới các cam kết liên quan trực tiếp tới toàn bộ hệ thống pháp lý.

130 Xem Điều 28 của Công ước Viên về Luật Điều ước liên quan tới việc không áp dụng hồi tố các điều ước

131 Xem Điều XVI.4 của Hiệp định WTO

132 Xem Chương VI về minh bạch hóa và quyền khiếu nại và các điều khoản liên quan trong BTA

133 Xem Nghị quyết phê chuẩn số 71

134 Xem thông tin về gia nhập WTO của Việt Nam tại www.wto.org và www.ustr.gov

135 Xem http://www.wto.org/english/thewto_e/acc_e/completeacc_e.htm#vnm

136 Có nhiều quan điểm khác nhau về việc Việt Nam phải chấp nhận gì để được gia nhập WTO trong quá trình chuẩn bị phê chuẩn

137 Các đoạn 111 và 112 trong Báo cáo của Ban công tác

138 Đoạn 115 trong Báo cáo của Ban công tác

139 Các đoạn 120 – 130 trong Báo cáo của Ban công tác

140 Xem các đoạn 132 và 134 trong Báo cáo của Ban công tác

141 Xem các đoạn 443- 471 trong Báo cáo của Ban công tác

142 Xem các đoạn 120, 123, 135 và 508 trong Báo cáo của Ban công tác

143 Xem các điều 26 và 27 của Công ước Viên về Luật đối với Điều ước

144 Xem đoạn 339 trong Báo cáo của Ban công tác để biết rõ hơn về việc Việt Nam sẽ đảm bảo tuân thủ trong các khu vực thương mại và kinh tế khác nhau như thế nào.

145 Xem Nghị định thư về việc gia nhập của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, tài liệu WT/L/432 đăng tên www.wto.org

146 Supra, Phần I.2(A).1

147 Supra, Phần I.2(A). 2-4

148 Xem các đoạn 489, 508, 510-514, 518

149 Xem các đoạn 516 và 517

150 Nghị định thư gia nhập của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, tài liệu WT/L/432, Phần I.2(C) đăng tên www.wto.org

SOURCE: VIỆT NAM GIA NHẬP TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI – GIẢI THÍCH CÁC ĐIỀU KIỆN GIA NHẬP. MUTRAP II (DỰ ÁN HỖ TRỢ THƯƠNG MẠI ĐA BIÊN). NHÀ XUẤT BẢN LAO ĐỘNG – XÃ HỘI HÀ NỘI – 2008

Trích dẫn từ: CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ BỘ CÔNG THƯƠNG - PETER NARAY & NGUYỄN KHÁNH NGỌC

(MKLAW FIRM: Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ có giá trị tham khảo và có thể một số thông tin pháp lý đã hết hiệu lực tại thời điểm hiện tại vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)

>> Xem thêm:  Cơ chế phối hợp giải quyết thủ tục đăng ký đầu tư và đăng ký doanh nghiệp đối với nhà đầu tư nước ngoài

5. Sự phát triển của ngành nhà đất trung quốc và tác động WTO

Năm 1978 Trung Quốc bắt đầu thực hiện cải cách mở cửa nền kinh tế. Những quan điểm như thương mại hoá nhà ở và quyền về bất động sản nhà đất đã được các nhà lý luận đưa ra. Năm 1990 "Quỹ tích tụ nhà ở" đư ợc thành lập ở Thư ợng Hải. Giai đoạn từ 1987 đến 1991 là giai đoạn khởi đầu của thị trư ờng bất động sản Trung Quốc.

I. Sự phát triển của ngành nhà đất Trung Quốc

1. Khái quát:

Năm 1992, Trung Quốc thực hiện chính sách cải cách nhà ở, "Quỹ tích tụ nhà ở" cũng được triển khai trên diện rộng. Ngành bất động sản nhà đất của Trung Quốc trong giai đoạn này phát triển rất nhanh, tuy nhiên ở một số thị trường địa phương bắt đầu xuất hiện những yếu tố không bền vững, một số nơi có hiện tượng phát triển bong bóng trong lĩnh vực bất động sản. Vào cuối năm 1993, Chính phủ Trung Quốc đã đưa ra thực hiện "chính sách kinh tế vĩ mô", mà hậu quả của chính sách này là tốc độ tăng trư ởng đầu tư trong lĩnh vực bất động sản của Trung Quốc bị suy giảm dần. Thị trường bất động sản nhà đất sau đó phát triển rất chậm.

Sự tiếp tục cải cách sâu rộng chính sách nhà ở, trong bối cảnh thu nhập của ngư ời dân không ngừng tăng lên, đã khiến cho mức độ tiêu thụ nhà ở trở thành điểm nóng kinh tế ở Trung Quốc. Sau năm 1998, hệ thống cũ "phân phối nhà ở" đã bị bãi bỏ, và Trung Quốc chuyển sang thực hiện "hệ thống bán nhà" (người dân mua nhà từ thị trường). Ngành bất động sản nhà đất Trung Quốc đã bư ớc vào giai đoạn phát triển nhanh và vững chắc, nhanh chóng trở thành một ngành kinh tế chủ lực của nền kinh tế quốc dân.

Sự phát triển của ngành nhà đất trung quốc và tác động WTO

Luật sư tư vấn luật đầu tư nước ngoài trực tuyến gọi: 1900.6162

Từ năm 2003, giá cả trên thị trường bất động sản Trung Quốc tăng nhanh chóng, thậm chí tăng trư ởng quá nóng. Để kiểm soát tình hình, Chính phủ Trung Quốc một lần nữa đã ban hành những chính sách để điều tiết ngành này.

2. Thị trường bất động sản nhà đất Trung Quốc

Đối với các doanh nghiệp nước ngoài thì việc kinh doanh ở Trung Quốc là rất khó khăn. Bên cạnh những rào cản về ngôn ngữ và văn hoá, nhiều doanh nghiệp nước ngoài còn phải đối mặt với nhiều trở ngại khác như hệ thống các quy định và pháp luật chư a thực sự minh bạch, hệ thống thuế quá phức tạp và các cơ quan công quyền mang đậm tính chất quan liêu, mặc dù Trung Quốc đã đạt đư ợc bư ớc tiến lớn kể từ khi mở cửa ra thế giới bên ngoài từ cuối thập niên 1970 và chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước đã gần 30 năm. 10 năm trư ớc đây, có lẽ rất ít người dân Trung Quốc nghĩ đến việc sở hữu một ngôi nhà. Hiện nay, với tỷ lệ sở hữu nhà đã đạt đến trên 60% ở các đô thị, Trung Quốc đã chứng tỏ là một quốc gia thành công nhất thế giới trong việc phát triển thị trường xây dựng nhà ở tư nhân trong một thời gian ngắn như vậy.

2.1. Thị trư ờng bất động sản nhà đất và sự phát triển kinh tế.

Ngay sau khi nước CHND Trung Hoa mới đư ợc thành lập năm 1949, hầu hết các thửa ruộng của tư nhân hoặc thuộc sở hữu tư nhân đều đư ợc tập thể hoá đưa vào hợp tác xã. Sở hữu tư nhân về nhà ở trong các đô thị gần như bị xoá bỏ. Nhằm thúc đẩy tiến trình công nghiệp hoá, Chính phủ Trung Quốc trong các thập niên 1960 và 1970 đã nỗ lực đầu tư. Một phần lớn sản lư ợng kinh tế của đất nư ớc do chính phủ sắp xếp và quản lý. Chính phủ đề ra mục tiêu sản xuất, quản lý giá và phân phối các nguồn lực cho toàn bộ nền kinh tế. Do đó, đến năm 1978, gần 3/4 sản lư ợng công nghiệp là do các doanh nghiệp Nhà nư ớc sản xuất (SOEs) trên cơ sở các chỉ tiêu sản ư ợng kế hoạch hoá tập trung. Các doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp vốn đầu tư nư ớc ngoài hầu như không tồn tại. Một trong những mục tiêu chính của Chính phủ Trung Quốc khi đó là xây dựng một nền kinh tế độc lập tự cường.

Vào cuối thập niên 1970, Chính phủ Trung Quốc vào cuối thời kỳ lãnh đạo của Đặng Tiểu Bình hy vọng việc mở cửa thị trư ờng theo lộ trình và thực hiện cải cách kinh tế sẽ đẩy nhanh đáng kể tốc độ tăng trư ởng kinh tế và nâng cao mức sống của nhân dân. Từ đó đến nay, quy mô nền kinh tế Trung Quốc đã phát triển gấp trên 10 lần. Trong giai đoạn 1979 ư1999, GDP của Trung Quốc tăng trư ởng bình quân 9,7%/năm và GDP năm 2000 đã vư ợt con số 1000 tỷ USD (8,8 nghìn tỷ NDT) lần đầu tiên trong lịch sử. Hai yếu tố cơ bản góp phần làm cho nền kinh tế Trung Quốc tăng trư ởng vượt bậc đó là: đầu tư vốn lớn (từ tiền tiết kiệm trong nư ớc và đầu tư nư ớc ngoài) và tăng năng suất lao động. Công cuộc cải cách kinh tế đã mang lại hiệu quả cao hơn cho nền kinh tế, nâng cao sản lư ợng và tăng cư ờng các nguồn lực đầu tư . Bên cạnh đó, khu vực kinh tế tư nhân, bao gồm các doanh nghiệp bán tư nhân của xã, của thị trấn và các công ty tư nhân và các hộ nông dân đều có thể đóng góp cho sự phát triển nhanh của nền kinh tế Trung Quốc. Các doanh nghiệp tư nhân từ chỗ hầu như chư a có gì vào năm 1979 đến nay đã tạo ra trên 60% GDP của Trung Quốc. Sau một Hội nghị đư ợc tổ chức vào tháng 8/1999, các nhà lãnh đạo của Trung Quốc đã cam kết đư a tỷ lệ nói trên lên 75% vào năm 2002. Hiện nay, trên 177 triệu dân của Trung Quốc trong độ tuổi lao động (từ 18ư60 tuổi) đang làm việc trong các công ty tư nhân hoặc có một phần vốn góp của tư nhân so với 122 triệu ngư ời làm việc trong các doanh nghiệp nhà nư ớc. Nếu chỉ tính quy mô GDP thì Trung Quốc đã vư ợt xa Nhật Bản và trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới chỉ sau Mỹ.

Mặc dù nền kinh tế Trung Quốc phát triển rất nhanh trong những năm gần đây, như ng tư ơng lai của sự phát triển đó vẫn sẽ phụ thuộc nhiều vào năng lực và ý chí của Chính phủ trong việc giải quyết những thách thức phía trư ớc. Hiện tại, gần 1/3 sản lượng công nghiệp của Trung Quốc là của các doanh nghiệp nhà nư ớc, trong đó có nhiều doanh nghiệp đang làm ăn thua lỗ và cần sự hỗ trợ của Nhà nư ớc thông qua hệ thống ngân hàng. Việc cơ cấu lại các ngành nghề truyền thống và giải thể hoặc bán các doanh nghiệp thua lỗ sẽ khiến cho hàng trăm ngàn lao động mất việc làm. Để đáp ứng sự phát triển, Chính phủ Trung Quốc cần phải duy trì đư ờng lối đảm bảo ổn định chính trị trong khi vẫn tiếp tục cải cách kinh tế. ….

TRUNG TÂM TIN HỌC – BỘ XÂY DỰNG

SOURCE: CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ BỘ XÂY DỰNG

>> Xem thêm:  Cơ chế trao đổi thông tin về doanh nghiệp giữa Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp và Hệ thống thông tin thuế