1. Các thỏa thuận loại bỏ các rào cản phi thuế quan trong ASEAN, APEC và WTO

Việc thành lập Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (AFTA) năm 1992 đã đưa ASEAN vượt ra khỏi khuôn khổ của một Thoả thuận Ưu đãi Thương mại thành một hình thức hội nhập sâu hơn. Hiệp định ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT) yêu cầu các Quốc gia Thành viên phải loại bỏ các hạn chế định lượng đối với những sản phẩm quy định trong Chương trình CEPT ngay sau khi cắt giảm thuế quan, và tập trung loại bỏ các Rào cản Phi Thuế quan khác trong giai đoạn 5 năm sau khi các sản phẩm này được cắt giảm thuế quan:

A. Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN)

Mục tiêu

Theo Hiệp định ASEAN – CEPT, các Rào cản Phi Thuế quan được định nghĩa là các biện pháp ngăn cấm hoặc hạn chế một cách có hiệu quả việc nhập khẩu hoặc xuất khẩu hàng hoá. Lộ trình Hội nhập của ASEAN quy định chi tiết rằng các Rào cản Phi Thuế quan cần phải được loại bỏ vào năm 2010 đối với ASEAN – 6 và năm 2015/2018 đối với các nước CLMV (Campuchia, Lào, Myanma và Việt Nam).

Chương trình và các cam kết

ASEAN phân loại các biện pháp phi thuế quan thành: (i) Các rào cản kỹ thuật đối với thương mại (TBT); (ii) Các biện pháp kiểm dịch động thực vật (SPS); (iii) các biện pháp an ninh và môi trường; (iv) các quy trình thủ tục cấp phép nhập khẩu và/hoặc các biện pháp hành chính. Qui trình loại bỏ các Rào cản Phi Thuế quan về cơ bản đã được thống nhất, bao gồm việc (a) xác minh thông tin về các Rào cản Phi Thuế quan, (b) sắp xếp thứ tự ưu tiên các sản phẩm và các Rào cản Phi Thuế quan, (c) thiết lập một chương trình công tác, và (d) nhận nhiệm vụ từ các Bộ trưởng Kinh tế ASEAN giao thực thi chương trình công tác.

Một chương trình công tác đã được thiết lập chủ yếu bao gồm việc xác minh và thông báo chéo về các Rào cản Phi Thuế quan, thiết lập cơ sở dữ liệu, và rà soát các định nghĩa hoạt động về các Rào cản Phi Thuế quan được thông qua bởi Hệ thống Mã hoá về các Biện pháp Kiểm soát Thương mại của UNCTAD. Mô hình của chương trình này dựa trên các tiêu chí đã được thông qua tại Cuộc họp lần thứ 19 của Hội đồng AFTA năm 2005, cụ thể như sau:

Các thỏa thuận loại bỏ các rào cản phi thuế quan trong ASEAN, APEC và WTO

Luật sư tư vấn luật Đất đai qua điện thoại gọi số: 1900.6162

(i) Các Biện pháp Phi Thuế quan không minh bạch, có tính phân biệt đối xử khi áp dụng, không có cơ sở khoa học và trong khi có thể áp dụng một biện pháp thay thế ít cản trở thương mại hơn, thì phải được loại bỏ ngay (hộp màu đỏ).

(ii) Các Biện pháp Phi Thuế quan có tính minh bạch, nhưng có tính phân biệt đối xử khi áp dụng, làm vô hiệu hoá hoặc giảm thiểu một số lợi ích hoặc nghĩa vụ của quốc gia, làm ảnh hưởng đến các sản phẩm thương mại thường xuyên trong khu vực hoặc thuộc 9 ngành ưu tiên, không thể chứng minh hoặc xác định rõ là một rào cản, thì phải được đưa ra đàm phán (hộp màu hổ phách).

(iii) Các Biện pháp Phi Thuế quan có tính minh bạch, không phân biệt đối xử khi áp dụng, không có các biện pháp thay thế, có cơ sở khoa học, được áp dụng vì sức khoẻ cộng đồng và an toàn công cộng hoặc tôn giáo hoặc các lý do an ninh quốc gia, phù hợp với WTO và hợp lý, ví dụ như các quy định về kiểm dịch động thực vật và môi trường, thì được thừa nhận và có thể được duy trì (hộp màu xanh).

Cơ sở dữ liệu ASEAN về các Biện pháp Phi Thuế quan đã được thiết lập từ những thông báo chính thức của các Quốc gia Thành viên gửi Ban Thư ký ASEAN. Mỗi Quốc gia Thành viên gửi một danh sách các Biện pháp Phi Thuế quan áp dụng đối với hàng hoá nhập khẩu vào quốc gia đó theo mã HS và phân loại Biện pháp Phi Thuế quan, trong đó mô tả biện pháp phi thuế quan và nguồn gốc/thời điểm xác định biện pháp phi thuế quan.

Những quy định về thể chế:

Các quyết định về các Biện pháp Phi Thuế quan chủ yếu liên quan đến: (1) các quy trình thông báo và thông báo chéo giữa các bên; (2) việc thiết lập cơ sở dự liệu; (3) sự rà soát các định nghĩa và tiêu chí hoạt động; (4) sự xác minh và chứng minh của các thành viên về các Biện pháp Phi Thuế quan; (5) việc phân loại các Biện pháp Phi Thuế quan thành các rào cản kỹ thuật đối với thương mại, các biện pháp kiểm dịch động thực vật, các biện pháp an ninh và môi trường, các quy trình thủ tục cấp phép nhập khẩu và/hoặc các biện pháp hành chính khác; (6) cơ chế giải quyết khiếu nại; và (7) việc thiết kế chương trình công tác nhằm loại bỏ các Biện pháp Phi Thuế quan “không hợp lý và không cần thiết”.

Hội nghị Bộ trưởng Kinh tế ASEAN (AEM) đóng vai trò chính: trong việc đề ra các khuyến nghị để các chính phủ xem xét; trong việc rà soát quá trình phối hợp và thực thi các chương trình và dự án hợp tác kinh tế đã được thống nhất; và trao đổi quan điểm và tham vấn về các kế hoạch và chính sách quốc gia nhằm hài hoà hoá trong khu vực. Các quyết định được đưa ra thông qua quá trình đàm phán và đồng thuận giữa các Quốc gia Thành viên.

Uỷ ban Điều phối Thực thi Kế hoạch CEPT của AFTA (CCCA) là cơ quan trong ASEAN chịu trách nhiệm về chương trình công tác nhằm loại bỏ các Rào cản Phi Thuế quan với vai trò xác định biện pháp nào là rào cản thương mại. Các nhóm công tác tương ứng có liên quan như Uỷ ban Tham vấn ASEAN về Tiêu chuẩn và Chất lượng (ACCSQ) phụ trách các rào cản kỹ thuật đối với thương mại, các nhóm công tác trong Hội nghị các Quan chức Cấp cao trực thuộc các Bộ trưởng ASEAN về Nông nghiệp và Lâm nghiệp (SOM-AMAF) phụ trách các vấn đề kiểm dịch động thực vật và/hoặc Uỷ ban các Chuyên gia về các Vấn đề Hải quan (ECCM) phụ trách các vấn đề hải quan.

B. Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương (APEC)

Mục tiêu

APEC hoạt động theo hướng thiết lập các nền kinh tế nội địa hiệu quả và thúc đẩy tăng trưởng trong khu vực thông qua cắt giảm thuế quan và các rào cản thương mại khác.

Chương trình và các cam kết

Các Kế hoạch Hành động Tập thể (CAP) và Kế hoạch Hành động Quốc gia (IAP) là những phương tiện để các nền kinh tế thành viên theo đuổi chương trình nghị sự thương mại và đầu tư tự do. Các CAP chi tiết hoá các hành động tập thể thường niên của tất cả các nền kinh tế thành viên APEC trong 15 lĩnh vực, bao gồm cả vấn đề loại bỏ các biện pháp phi thuế quan, và để đề ra các hành động và mục tiêu hướng tới thương mại và đầu tư tự do, cũng như giám sát và báo cáo tiến độ. Uỷ ban Thương mại và Đầu tư (CTI) rà soát và hoàn thiện các CAP nhằm đảm bảo tính hiệu quả của chúng và hỗ trợ APEC đạt được các mục tiêu của mình.

Các Kế hoạch Hành động Quốc gia (IAP) là biên bản các hành động do các nền kinh tế thành viên thực thi nhằm đạt được những mục tiêu mà họ đề ra. Thời gian biểu và mục tiêu được đề ra và các hành động được thực thi trên cơ sở tự nguyện và không ràng buộc. Hàng năm các nền kinh tế thành viên tự nguyện chịu sự rà soát IAP của họ theo một cơ chế Rà soát Định kỳ (Peer Review) gồm một nhóm rà soát chính thức xem xét IAP của từng nền kinh tế tự nguyện.

Những quy định về thể chế:

APEC là một nhóm liên kết liên chính phủ hoạt động trên cơ sở các cam kết không ràng buộc, đối thoại mở và tôn trọng ngang bằng quan điểm của tất cả các thành viên. Các quyết định được đưa ra trong APEC trên cơ sở đồng thuận và các cam kết được thực hiện trên cơ sở tự nguyện.

Nhóm Tiếp cận Thị trường (MAG) trực thuộc Uỷ ban Thương mại và Đầu tư (CTI) chịu trách nhiệm thiết lập các CAP và đối chiếu các Biện pháp Phi Thuế quan đã được thông báo để Tự do hoá Tự nguyện theo Ngành Sớm (EVSL). Nhóm đã phân tích các thông báo về các Biện pháp Phi Thuế quan thông qua việc xác định các khía cạnh được quan tâm như các vấn đề về minh bạch hoá, tính đồng nhất, và tính có thể dự đoán được. Sau đó, kết quả đã được đưa vào qui trình xác định các lĩnh vực để thực thi các sáng kiến về thuận lợi hoá thương mại, hoặc nhằm thiết lập và thống nhất thực thi các thực tiễn hành chính tốt nhất.

APEC cũng đã thông qua các Tiêu chuẩn về Minh bạch hoá đối với các Biện pháp Thuế quan và Phi thuế quan vào tháng 1 năm 2005, theo đó mỗi nền kinh tế cho phép tất cả các bên quan tâm tiếp cận thông tin về các luật lệ, quy định, quy trình và thủ tục hành chính của mình về thuế và các Rào cản Phi Thuế quan thông qua các phương tiện truyền thông phổ cập và đảm bảo rằng các Biện pháp Phi Thuế quan được thực thi một cách minh bạch. Các thành viên cung cấp cho Ban Thư ký các đường dẫn tới các trang web của chính phủ, cung cấp thông tin về những quy định nhập khẩu cho trang web về Quy định Nhập khẩu của MAG, và bao gồm tất cả các quy tắc và quy trình thủ tục và các điểm hỏi đáp trong các Kế hoạch Hành động Quốc gia điện tử (e-IAP).

C. Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)

Mục tiêu

WTO là một cơ quan quốc tế áp dụng các quy tắc thương mại để thúc đẩy lưu chuyển thương mại giữa các quốc gia, thông qua các hiệp định ràng buộc các chính phủ giới hạn những chính sách thương mại của họ trong phạm vi quy định. Những hiệp định này là kết quả của các vòng đàm phán, và tuân thủ các nguyên tắc cơ bản về không phân biệt đối xử (đối xử tối huệ quốc – MFN và đối xử quốc gia – NT), tự do hoá thương mại hơn nữa, tính có thể dự đoán được và minh bạch, cạnh tranh lành mạnh, và phát triển và cải cách kinh tế. Những khác biệt được giải quyết thông qua các quy trình thủ tục dựa trên một nền tảng pháp lý đã được thống nhất.

Tiếp cận thị trường trong khuôn khổ WTO bao hàm toàn bộ các quy định do chính phủ đặt ra theo đó một sản phẩm có thể được nhập khẩu vào một quốc gia trên cơ sở các điều kiện không phân biệt đối xử. Các biện pháp phi thuế quan bao gồm tất cả các biện pháp ngoài thuế quan được sử dụng để bảo vệ ngành công nghiệp nội địa. Trong khi việc cắt giảm hoặc loại bỏ thuế quan được thực hiện thông qua các cam kết cụ thể, các biện pháp phi thuế quan được giải quyết thông qua thiết lập các quy tắc và luật lệ nhằm hạn chế tác động cản trở thương mại của chúng.

Chương trình và các cam kết

Các Hiệp định quy định cụ thể các cam kết của từng quốc gia liên tục cắt giảm các rào cản thương mại bao gồm các biện pháp thuế quan và phi thuế quan. Các Hiệp định yêu cầu các chính phủ minh bạch hoá chính sách thương mại của mình bằng cách thường xuyên thông báo WTO về các luật lệ đã có hiệu lực thực thi và các biện pháp đã được thực hiện. Một hiệp định về Cơ chế Rà soát Chính sách Thương mại quy định bắt buộc các thành viên WTO thực hiện rà soát chính sách thương mại thường xuyên đối với từng quốc gia.

Các quy trình thủ tục pháp lý quan liêu quốc gia khác có thể gây cản trở thương mại phải chịu sự điều tiết theo các quy định của WTO thông qua các Hiệp định về:

· Các Quy trình Thủ tục Cấp phép Nhập khẩu

· Quy tắc Xuất xứ

· Trị giá Hải quan

· Kiểm tra Trước khi xếp

· Các Biện pháp Đầu tư liên quan đến Thương mại

· Các Biện pháp Kiểm dịch Động Thực vật

· Các Rào cản kỹ thuật đối với Thương mại

· Chống bán phá giá

· Trợ cấp và các biện pháp trả đũa

· Các biện pháp tự vệ

Những quy định về thể chế:

WTO là một tổ chức được dẫn dắt bởi các thành viên và dựa trên cơ sở đồng thuận. Tất cả các quyết định quan trọng được đưa ra trên cơ sở đồng thuận, được thực hiện bởi toàn thể các thành viên, thông qua các hội đồng và uỷ ban khác nhau. Hội nghị Bộ trưởng quyết định tất cả các vấn đề thuộc bất cứ hiệp định thương mại đa phương nào. Các luật lệ áp đặt quy tắc đối với các chính sách của các quốc gia là kết quả của quá trình đàm phán. Các luật lệ được toàn thể các thành viên thông qua và thực thi bởi chính các thành viên theo các quy trình thống nhất, bao gồm khả năng thực thi các biện pháp trừng phạt thương mại.

SOURCE: CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ BỘ CÔNG THƯƠNG

(MKLAW FIRM: Bài viết được đăng tải nhằm mục đích nghiên cứu, giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ có giá trị tham khảo và có thể một số thông tin pháp lý đã hết hiệu lực tại thời điểm hiện tại vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)

---------------------------------------------------------

THAM KHẢO MỘT SỐ DỊCH VỤ TƯ VẤN LUẬT:

1. Tư vấn tách thửa đất đai;

2. Tư vấn pháp luật đất đai;

3. Tư vấn cấp lại sổ đỏ bị mất;

4. Tư vấn mua bán, chuyển nhượng đất đai;

5. Tư vấn đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;

6. Tư vấn cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do trúng đấu giá;

>> Xem thêm:  Sự khác nhau giữa biện pháp thuế chống bán phá giá và biện pháp thuế đối kháng theo quy định của WTO

2. Tài liệu giải thích biểu cam kết cụ thể về thương mại dịch vụ (WTO)

Đàm phán mở cửa thị trường dịch vụ trong khuôn khổ đàm phán gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) được tiến hành theo các nguyên tắc của Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS).

Dựa trên những nguyên tắc này, các quốc gia hay vùng lãnh thổ chưa là Thành viên WTO tiến hành đàm phán mở cửa thị trường với các Thành viên WTO căn cứ theo yêu cầu đàm phán mà các Thành viên này đưa ra. Kết quả đàm phán cuối cùng được thể hiện trong Biểu cam kết cụ thể về thương mại dịch vụ (xin gọi tắt là Biểu cam kết dịch vụ).

1. Nội dung của Biểu cam kết dịch vụ

Biểu cam kết dịch vụ gồm 3 phần: cam kết chung, cam kết cụ thể và danh mục các biện pháp miễn trừ đối xử tối huệ quốc (MFN).

Phần cam kết chung bao gồm các cam kết được áp dụng chung cho tất cả các ngành và phân ngành dịch vụ đưa vào Biểu cam kết dịch vụ. Phần này chủ yếu đề cập tới những vấn đề kinh tế - thương mại tổng quát như các quy định về chế độ đầu tư, hình thức thành lập doanh nghiệp, thuê đất, các biện pháp về thuế, trợ cấp cho doanh nghiệp trong nước v.v…

Phần cam kết cụ thể bao gồm các cam kết được áp dụng cho từng dịch vụ đưa vào Biểu cam kết dịch vụ. Mỗi dịch vụ đưa ra trong Biểu cam kết như dịch vụ viễn thông, dịch vụ bảo hiểm, dịch vụ ngân hàng, dịch vụ vận tải, v..v sẽ có nội dung cam kết cụ thể áp dụng riêng cho dịch vụ đó. Nội dung cam kết thể hiện mức độ mở cửa thị trường đối với từng dịch vụ và mức độ đối xử quốc gia dành cho nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài trong dịch vụ đó.

Danh mục các biện pháp miễn trừ đối xử tối huệ quốc liệt kê các biện pháp được duy trì để bảo lưu việc vi phạm nguyên tắc MFN đối với những dịch vụ có duy trì biện pháp miễn trừ. Theo quy định của GATS, một thành viên được vi phạm nguyên tắc MFN nếu thành viên đó đưa biện pháp vi phạm vào danh mục các biện pháp miễn trừ đối xử tối huệ quốc và được các Thành viên WTO chấp thuận.

Tài liệu giải thích biểu cam kết cụ thể về thương mại dịch vụ (WTO)

Luật sư tư vấn luật đầu tư nước ngoài trực tuyến gọi: 1900.6162

2. Cấu trúc của Biểu cam kết dịch vụ

Biểu cam kết dịch vụ gồm 4 cột: i) cột mô tả ngành/phân ngành; ii) cột hạn chế về tiếp cận thị trường; iii) cột hạn chế về đối xử quốc gia và iv) cột cam kết bổ sung.

Cột mô tả ngành/phân ngành thể hiện tên dịch vụ cụ thể được đưa vào cam kết. Theo danh mục phân loại ngành dịch vụ của Ban Thư ký WTO, có tất cả 11 ngành[1] và 155 phân ngành[2] dịch vụ được các Thành viên WTO tiến hành đàm phán. Mỗi ngành hoặc phân ngành trong danh mục phân loại được xác định tương ứng với mã số của Bảng phân loại sản phẩm trung tâm (CPC). Kiểu xác định này cũng tương tự như xác định mã phân loại hàng hoá (HS) trong biểu thuế xuất nhập khẩu. Ví dụ, một thành viên muốn đưa ra một bản chào hoặc một cam kết đối với phân ngành dịch vụ bảo hiểm nhân thọ. Trong danh mục của Ban thư ký WTO (W/120), dịch vụ này thuộc phần có tiêu đề chung gọi là "Dịch vụ bảo hiểm". Thông qua việc tham chiếu đến CPC, dịch vụ bảo hiểm nhân thọ có số phân loại CPC tương ứng là 8129. Do đó, trong Biểu cam kết dịch vụ bảo hiểm nhân thọ sẽ được ghi là dịch vụ bảo hiểm nhân thọ (CPC 8129).

Cột hạn chế về tiếp cận thị trường liệt kê các biện pháp duy trì đối với các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài. GATS quy định 6 loại biện pháp hạn chế bao gồm: 1) hạn chế về số lượng nhà cung cấp dịch vụ; 2) hạn chế về tổng giá trị của các giao dịch hoặc tài sản; 3) hạn chế về tổng số hoạt động dịch vụ hoặc số lượng dịch vụ cung cấp; 4) hạn chế về số lượng lao động; 5) hạn chế hình thức thành lập doanh nghiệp; 6) hạn chế góp vốn của nước ngoài. Biểu cam kết nào liệt kê càng nhiều biện pháp nói trên thì mức độ mở cửa thị trường cho các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài càng hẹp.

Cột hạn chế về đối xử quốc gia liệt kê các biện pháp nhằm duy trì sự phân biệt đối xử giữa nhà cung cấp dịch vụ trong nước với nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài. Biểu cam kết nào liệt kê càng nhiều biện pháp trong cột hạn chế về đối xử quốc gia thì sự phân biệt đối xử giữa các nhà cung cấp dịch vụ trong nước với các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài càng lớn.

Cột cam kết bổ sung liệt kê các biện pháp ảnh hưởng đến hoạt động cung cấp và tiêu dùng dịch vụ nhưng không thuộc về hạn chế tiếp cận thị trường hay hạn chế về đối xử quốc gia. Cột này mô tả những quy định liên quan đến trình độ, tiêu chuẩn kỹ thuật, các yêu cầu hoặc thủ tục về việc cấp phép v.v…

3. Phương pháp "chọn - bỏ" và "chọn - cho":

Phương pháp "chọn - bỏ" (negative approach) là cam kết theo dạng "được làm tất cả những gì không bị hạn chế". Phương pháp "chọn - cho" (positive approach) là cam kết theo dạng "chỉ được làm những gì được phép làm".

WTO sử dụng phương pháp chọn - cho khi xác định phạm vi cam kết, tức là các dịch vụ được đưa vào Biểu cam kết dịch vụ. Theo đó, bên cam kết chỉ cam kết mở cửa thị trường cho các dịch vụ xuất hiện trong Biểu. Với những dịch vụ không xuất hiện trong Biểu, bên cam kết không có nghĩa vụ nào cả. Trong trường hợp của Việt Nam, những dịch vụ như quản lý bất động sản, in ấn, xuất bản v..v không xuất hiện trong Biểu cam kết dịch vụ. Điều đó có nghĩa là Việt Nam không cam kết gì cho những ngành này, ngoại trừ nghĩa vụ áp dụng các quy tắc chung của GATS.

Phương pháp chọn - bỏ được sử dụng khi đưa ra cam kết đối với các dịch vụ được đưa vào Biểu. Theo đó, bên cam kết sẽ liệt kê toàn bộ các biện pháp hạn chế áp dụng cho dịch vụ có liên quan. Ngoài các biện pháp này, sẽ không áp dụng bất kỳ biện pháp hạn chế nào khác. Nguyên tắc là như vậy nhưng một vài Thành viên WTO, khi đi vào từng ngành cụ thể, thỉnh thoảng vẫn áp dụng phương pháp chọn - cho. Vì vậy, hai cụm từ "không hạn chế, ngoại trừ" và "chưa cam kết, ngoại trừ" (được giải thích dưới đây) thường được đưa thêm vào Biểu để khẳng định phương pháp tiếp cận tại một phương thức cung cấp dịch vụ nào đó là chọn - bỏ hay chọn - cho.

4. Các phương thức cung cấp dịch vụ

GATS quy định 4 phương thức cung cấp dịch vụ, bao gồm: 1) cung cấp qua biên giới; 2) tiêu dùng ngoài lãnh thổ; 3) hiện diện thương mại; 4) hiện diện thể nhân.

Phương thức cung cấp qua biên giới (gọi tắt là Phương thức 1) là phương thức theo đó dịch vụ được cung cấp từ lãnh thổ của một Thành viên này sang lãnh thổ của một Thành viên khác, tức là không có sự di chuyển của người cung cấp và người tiêu thụ dịch vụ sang lãnh thổ của nhau. Ví dụ, các dịch vụ tư vấn có thể cung cấp theo phương thức này.

Phương thức tiêu dùng ngoài lãnh thổ (gọi tắt là Phương thức 2) là phương thức theo đó người tiêu dùng của một Thành viên di chuyển sang lãnh thổ của một Thành viên khác để tiêu dùng dịch vụ. Ví dụ, khách du lịch nước ngoài sang Việt Nam.

Phương thức hiện diện thương mại (gọi tắt là Phương thức 3) là phương thức theo đó nhà cung cấp dịch vụ của một Thành viên thiết lập các hình thức hiện diện như công ty 100% vốn nước ngoài, công ty liên doanh, chi nhánh v.v…trên lãnh thổ của một Thành viên khác để cung cấp dịch vụ. Ví dụ, ngân hàng Hoa Kỳ thành lập chi nhánh để kinh doanh tại Việt Nam.

Phương thức hiện diện thể nhân (gọi tắt là Phương thức 4) là phương thức theo đó thể nhân cung cấp dịch vụ của một Thành viên di chuyển sang lãnh thổ của một Thành viên khác để cung cấp dịch vụ. Ví dụ, các nghệ sĩ nước ngoài sang Việt Nam biểu diễn nghệ thuật.

Cam kết được đưa ra cho từng phương thức từ 1 đến 4 trong hai cột hạn chế về tiếp cận thị trường và hạn chế về đối xử quốc gia.

4. Mức độ cam kết

Do các điều kiện được sử dụng trong Biểu cam kết của mỗi Thành viên sẽ tạo ra các cam kết có tính ràng buộc pháp lý nên cần chính xác trong việc thể hiện có hay không có các hạn chế về tiếp cận thị trường và về đối xử quốc gia. Phụ thuộc vào mức độ hạn chế mà mỗi Thành viên có thể đưa ra, thường có bốn trường hợp sau:

Cam kết toàn bộ

Các Thành viên không đưa ra bất cứ hạn chế nào về tiếp cận thị trường hay đối xử quốc gia đối với một hoặc nhiều dịch vụ hay đối với một hoặc nhiều phương thức cung cấp dịch vụ. Khi đó, các Thành viên sẽ thể hiện trong Biểu cam kết của mình cụm từ “Không hạn chế” vào các cột và phương thức cung cấp dịch vụ thích hợp. Tuy vậy, các hạn chế được liệt kê trong phần cam kết chung vẫn được áp dụng.

Cam kết kèm theo những hạn chế

Các Thành viên chấp nhận mở cửa thị trường cho một hoặc nhiều ngành dịch vụ nhưng liệt kê tại các cột tương ứng của Biểu cam kết các biện pháp hạn chế áp dụng cho nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài. Khi đó, các Thành viên sẽ thể hiện trong Biểu cam kết của mình các cụm từ như “Không hạn chế, ngoại trừ ….” hoặc “Chưa cam kết, ngoại trừ….”. Xuất phát từ nguyên tắc chọn - bỏ, nếu chỉ liệt kê biện pháp mà không kèm theo một trong hai cụm từ trên thì đương nhiên hiểu là "Không hạn chế, ngoại trừ ..".

Không cam kết

Các Thành viên có thể duy trì khả năng đưa ra mọi biện pháp hạn chế tiếp cận thị trường và đối xử quốc gia đối với một hoặc nhiều phương thức cung cấp dịch vụ cụ thể. Khi đó, các Thành viên sẽ thể hiện trong Biểu cam kết cụm từ “Chưa cam kết”. Trong trường hợp này, các cam kết liệt kê trong phần cam kết chung vẫn được áp dụng.

Không cam kết vì không có tính khả thi kỹ thuật

Trong một số trường hợp, một phương thức cung cấp dịch vụ có thể là không khả thi về mặt kỹ thuật. Ví dụ, dịch vụ xây nhà cung cấp qua biên giới. Khi đó, các Thành viên sẽ thể hiện cụm từ “Chưa cam kết" nhưng ghi chú là "do không khả thi về mặt kỹ thuật"./.

-----------------

[1] 11 ngành dịch vụ được phân loại theo GATS gồm: 1) dịch vụ kinh doanh; 2) dịch vụ thông tin; 3) dịch vụ xây dựng; 4) dịch vụ phân phối; 5) dịch vụ giáo dục; 6) dịch vụ môi trường; 7) dịch vụ tài chính; 8) dịch vụ y tế; 9) dịch vụ du lịch; 10) dịch vụ văn hoá giải trí; 11) dịch vụ vận tải.

[2] Mỗi ngành trong số 11 ngành dịch vụ chia nhỏ thành các hoạt động dịch vụ cấu thành được gọi là các phân ngành dịch vụ. Phụ thuộc vào tính chất và đặc điểm của mình, mỗi ngành dịch vụ có thể có ít hay nhiều phân ngành dịch vụ.

CÔNG TY LUẬT MINH KHUÊ biên tập

>> Xem thêm:  Hồ sơ năng lực và nhân sự Công ty Luật Minh Khuê

3. Một số đánh giá về sự tác động của việc gia nhập WTO với pháp luật Việt Nam trong lĩnh vực quyền SHTT

Việc xem xét và đánh giá những tác động của việc gia nhập WTO trong lĩnh vực quyền sở hữu trí tuệ không nên chỉ giới hạn trong phạm vi các văn bản quy phạm pháp luật. Vì vậy, trong phần này, bài viết sẽ đề cập tới khái niệm “pháp luật” theo nghĩa rộng.

“Pháp luật” theo nghĩa rộng ở đây không chỉ giới hạn ở những văn bản quy phạm pháp luật mà còn bao gồm cả những vấn đề liên quan đến việc thực thi, áp dụng pháp luật và cả những vấn đề về mặt thể chế. 1. Đối với công tác xây dựng pháp luật Như đã nói ở trên, nếu nhìn nhận tác động của việc gia nhập WTO đối với hệ thống pháp luật Việt Nam về quyền sở hữu trí tuệ tại một thời điểm nhất định hoặc sau khi Việt Nam gia nhập WTO thì sẽ là một sự đánh giá thiếu chính xác.

Việc xem xét và đánh giá này cần được đặt trong cả quá trình đàm phán gia nhập WTO, bởi vì, Việt Nam không có bất kỳ một giai đoạn chuyển tiếp nào trong việc thực hiện các cam kết của mình về quyền sở hữu trí tuệ. Điều đó buộc Việt Nam cần phải chuẩn bị đầy đủ cơ sở pháp lý cho việc thực thi quyền sở hữu trí tuệ phù hợp với yêu cầu của WTO tại thời điểm gia nhập. Trong cả quá trình này, pháp luật về sở hữu trí tuệ của Việt Nam đã có rất nhiều thay đổi. Từ những pháp lệnh được ban hành cuối những năm 80 đến việc pháp điển hóa các quy định về quyền sở hữu trí tuệ vào Bộ luật Dân sự năm 1995 cùng với một loạt các văn bản dưới luật được ban hành để hướng dẫn thi hành phần thứ 6 Bộ luật Dân sự năm 1995. Tại thời điểm đó, các văn bản dưới luật này được ban hành không chỉ với mục đích đảm bảo thi hành các quy định của Bộ luật Dân sự năm 1995 mà còn từng bước chuyển hóa các quy định của các điều ước quốc tế về sở hữu trí tuệ vào pháp luật trong nước, từng bước đảm bảo sự phù hợp của pháp luật Việt Nam với các điều ước quốc tế này. Để chuẩn bị cho việc gia nhập WTO, Việt Nam đã có bước tiến lớn trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ bằng việc ban hành Luật Sở hữu trí tuệ (bao gồm 6 phần, 18 chương, 222 điều). Đây là một văn bản luật đầu tiên của Việt Nam quy định cụ thể, đầy đủ, chi tiết nhất các vấn đề liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ.

Một số đánh giá về sự tác động của việc gia nhập WTO với pháp luật Việt Nam trong lĩnh vực quyền SHTT

Luật sư tư vấn Luật sở hữu Trí tuệ qua điện thoại (24/7) gọi số: 1900.6162

Việc ban hành Luật Sở hữu trí tuệ đánh dấu một bước phát triển mới trong hệ thống pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ của Việt Nam. Đồng thời đây cũng là một dấu hiệu thể hiện rõ sự tác động của quá trình hội nhập quốc tế nói chung và quá trình đàm phán gia nhập WTO nói riêng tới pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ của Việt Nam. Như vậy, việc gia nhập WTO đã buộc chúng ta phải có sự hoàn thiện pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ theo các chuẩn mực quốc tế chung. Chính điều này đã giúp Việt Nam hoàn thiện được khuôn khổ pháp lý trong lĩnh vực quyền sở hữu trí tuệ thời gian qua. 2. Đối với việc thực thi quyền sở hữu trí tuệ Trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, việc hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật mới chỉ là một phần của công việc. Việc thực hiện các quy định của pháp luật trên thực tế hay công tác bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ mới là một vấn đề rất phức tạp, đặc biệt là đối với những nước đang phát triển như Việt Nam. Trên thực tế, việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ là một vấn đề rất bức xúc mà các nước luôn đặt ra đối với Việt Nam trong suốt thời gian qua. Cũng chính vì vậy, khi Việt Nam gia nhập WTO đây sẽ là vấn đề sẽ được các nước phát triển trong WTO đặc biệt lưu ý đối với Việt Nam, đồng thời những tranh chấp trong lĩnh vực này sẽ rất khó tranh khỏi đối với Việt Nam khi chúng ta thực thi không đầy đủ, hiệu quả việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. Vì vậy, đối với các cơ quan Nhà nước, việc thực thi quyền sở hữu trí tuệ sẽ là khó khăn lớn nhất ra khi Việt Nam gia nhập WTO. Những khó khăn này bắt nguồn từ một số nguyên nhân chính là: Cán bộ trong hệ thống các cơ quan thực thi còn thiếu về số lượng và năng lực chuyên môn chưa đáp ứng nhu cầu; Chưa phát huy đúng mức việc áp dụng các biện pháp chế tài về dân sự, còn lạm dụng các chế tài về hành chính; Toà án chưa phát huy được vai trò của mình trong việc xét xử vụ tranh chấp, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, hiệu quả của công tác xét xử còn thấp do trình độ nghiệp vụ chuyên môn về sở hữu trí tuệ của thẩm phán chưa đáp ứng được yêu cầu, Toà án thiếu các thẩm phán có chuyên môn sâu về sở hữu trí tuệ; Mối quan hệ phối hợp giữa các cơ quan thực thi quyền sở hữu trí tuệ còn hạn chế; Hiểu biết và tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ của người dân, các doanh nghiệp và tổ chức cong thấp. Để vượt qua được những khó khăn này, Việt Nam cần phải nỗ lực trong việc: Nâng cao chất lượng của đội ngũ cán bộ liên quan đến việc thực thi quyền sở hữu trí tuệ. Đồng thời các cơ quan Nhà nước cần phải thay đổi tư duy và thói quen làm việc đối với những trường hợp liên quan đến việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. Chẳng hạn như giảm bớt việc lạm dụng các biện pháp hành chính, nâng cao tiến độ, chất lượng, rút ngắn thời gian trong việc giải quyết các vấn đề liê n quan đến việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ; Công tác xây dựng pháp luật và chính sách về sở hữu trí tuệ sẽ được các tầng lớp trong xã hội cũng như các thành viên của WTO xem xét kỹ lưỡng, điều đó đòi hỏi các cơ quan Nhà nước có liên quan phải nỗ lực rất lớn để thoả mãn những yêu cầu cao hơn được đặt ra đối với công tác pháp chế và chính sách, trong khi đội ngũ chuyên gia được đào tạo chuyên ngành về pháp luật sở hữu trí tuệ còn rất thiếu, và cơ hội đào tạo còn hạn hẹp. Việc bắt đầu gia nhập một môi trường kinh doanh có khuôn khổ pháp lý chặt chẽ, nghiêm khắc trong lúc các doanh nghiệp Việt Nam còn chưa có đủ các hiểu biết cần thiết về những quy tắc sở hữu trí tuệ cần phải tuân thủ sẽ dẫn đến một số lượng nhất định các xung đột về sở hữu trí tuệ xảy ra, buộc các cơ quan Nhà nước phải có trách nhiệm tham gia nghiên cứu, giải quyết. Công tác pháp chế, thực thi và giải quyết khiếu nại sẽ khó khăn và nặng nhọc hơn, trong khi các cơ quan giải quyết tranh chấp liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ còn rất thiếu kinh nghiệm và kiến thức chuyên môn về giải quyết tranh chấp về sở hữu trí tuệ trong khuôn khổ WTO và Hội đồng TRIPS. Tăng cường công tác tuyên truyền phổ biến kiến thức về pháp luật sở hữu trí tuệ, đào tạo, tư vấn hỗ trợ các đối tượng có liên quan đến hệ thống sở hữu trí tuệ. Đồng thời, công tác thông tin sở hữu trí tuệ phải được đổi mới và nâng cấp để thoả mãn yêu cầu của những người sử dụng thông tin và của xã hội. Đây là một điều kiện bắt buộc nhằm thực hiện đúng và đầy đủ chức năng của hệ thống sở hữu trí tuệ đối với sự phát triển văn hoá - kinh tế – xã hội của đất nước. Nâng cao chất lượng của hoạt động phối hợp giữa các cơ quan quản lý và thực thi sở hữu trí tuệ sẽ trong khi đây vẫn là một điểm yếu của hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước nói chung. Tăng cường hoạt động hợp tác quốc tế về sở hữu trí tuệ.

Bây giờ, nội dung này đã trở thành yêu cầu bắt buộc nhằm giải quyết thoả đáng các vấn đề đã vượt ra khỏi biên giới quốc gia. Đồng thời đây là điều kiện không thể thiếu nhằm hướng đến sự phát triển ổn định, bền vững. Trước mắt Việt Nam sẽ phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức như trên nhưng bên cạnh đó chúng ta sẽ được hưởng những thuận lợi nhất định từ việc thực thi hiệu quả quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam đó là: Một chế độ bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đầy đủ tại Việt Nam sẽ tạo môi trường pháp lý tin cậy để thu hút việc đầu tư, đưa các sản phẩm trí tuệ vào thị trường Việt Nam. Cơ hội hợp tác quốc tế song phương và đa phương trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, bao gồm cả hoạt động trợ giúp kỹ thuật trong khuôn khổ WTO và Hiệp định TRIPS sẽ được mở rộng, giúp cho Việt Nam có thêm những nguồn lực quan trọng, cả về tài chính và kiến thức chuyên gia nhằm hỗ trợ Việt Nam giải quyết các vấn đề nội tại của hệ thống sở hữu trí tuệ cũng như các vấn đề liên quan đến hội nhập. Việc tuân thủ các nghĩa vụ quốc tế sẽ làm cho hệ thống pháp luật và thực thi về sở hữu trí tuệ của Việt Nam trở nên tiệm cận với các xu hướng và thông lệ quốc tế. Điều này sẽ tạo thuận lợi cho việc giải quyết các yêu cầu của người nộp đơn trong nước và quốc tế, do quy trình nghiệp vụ được chuẩn mực hoá, các khác biệt giữa tập quán trong nước và quốc tế dần dần được thu hẹp hoặc xoá bỏ. Sự minh bạch trong các quyết định của các cơ quan quản lý Nhà nước bảo đảm. Thực thi quyền sở hữu trí tuệ theo các yêu cầu của WTO không phải là một công việc dễ dàng đối với Việt Nam. Điều đó có thể được thấy rất rõ qua kinh nghiệm của Trung Quốc. Chính vì vậy, trước những thách thức cũng như những thuận lợi mà việc gia nhập WTO đem lại, chúng ta cần phải nỗ lực rất lớn, không chỉ từ các cơ quan Nhà nước mà còn từ các cá nhân, tổ chức để vượt qua được những khó khăn và thách thức này.

Nguồn:
wto.nciec.gov.vn

(MKLAW FIRM: Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ có giá trị tham khảo và có thể một số thông tin pháp lý đã hết hiệu lực tại thời điểm hiện tại vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)

>> Xem thêm:  Dịch vụ hợp pháp hóa lãnh sự - Lãnh sự hóa tài liệu

4. Cam kết của Việt Nam về nhượng quyền thương mại (franchise) trong WTO

Trong thời kỳ hội nhập kinh tế sâu và rộng như hiện nay, rất nhiều công ty nước ngoài thâm nhập vào thị trường Việt Nam thông qua hình thức nhượng quyền thương mại (Franchise).

Theo hình thức nhượng quyền thương mại, doanh nghiệp nhượng quyền sẽ trao cho bên nhận quyền quyền kinh doanh, sử dụng mô hình, kỹ thuật kinh doanh, sản xuất hay dịch vụ của công ty mình, trên thương hiệu của mình. Đổi lại, doanh nghiệp nhận quyền phải trả cho bên nhượng quyền một khoản chi phí sử dụng bản quyền hay chiếc khấu % doanh thu trong khoảng thời gian do hai bên thỏa thuận. Thông thường, các chi phí đầu tư cơ sở hạ tầng, nhân lực do bên nhận quyền đảm nhiệm, doanh nghiệp nhượng quyền chỉ chuyển giao mô hình kinh doanh, hỗ trợ về thương hiệu, quảng bá…

Việt Nam trong những năm gần đây có những điều kiện rất thuận lợi cho hoạt động kinh doanh với tốc độ tăng trưởng GDP bình quân trên 8%, một quốc gia có dân số trên 85 triệu người, tình hình kinh tế ổn định, nhà nước khuyến khích đầu tư, sức mua của thị trường được đánh giá là rất cao trên thế giới. Hơn nữa, Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên thứ 150 của WTO, mở ra nhiều cơ hội cho các nhà kinh doanh cả trong và ngoài nước. Trong bối cảnh như vậy, rõ ràng việc quyết định lựa chọn hình thức kinh doanh nào đảm bảo cho nhà đầu tư có được hiệu quả tốt nhất về sử dụng vốn, phát triển nhanh thị trường, mở rộng nhanh thị phần và kiểm soát được hệ thống nhằm tạo được tiếng nói đối với thị trường này là điều rất được quan tâm. Rõ ràng, hình thức nhượng quyền thương mại sẽ là một sự lựa chọn cho cả nhà nhượng quyền và nhà nhận quyền và hình thức kinh doanh này sẽ phát triển mạnh tại Việt Nam trong những năm tới.

>> Luật sư tư vấn Luật sở hữu Trí tuệ qua điện thoại (24/7) gọi số: 1900.6162

Theo bảng phân loại (CPC) của WTO, nhượng quyền thương mại được xếp vào nhóm các dịch vụ phân phối. Theo đó, khi gia nhập WTO, Việt Nam có những cam kết chung dành cho nhóm dịch vụ này cũng như cam kết dành riêng cho dịch vụ nhượng quyền thương mại.

Trong cam kết chung về phạm vi sản phẩm, Việt Nam loại ra ngoài cam kết những sản phẩm “nhạy cảm” như: thuốc lá và xì gà; sách, báo, và tạp chí; vật phẩm đã ghi hình; kim loại quý và đá quý; dược phẩm (không bao gồm các sản phẩm bổ dưỡng phi dược phẩm dưới dạng viên nén, viên con nhộng hoặc bột); thuốc nổ; dầu thô và dầu đã qua chế biến; gạo, đường mía và đường củ cải. Như vậy, các doanh nghiệp nước ngoài sẽ không được thực hiện việc nhượng quyền thương mại cho các doanh nghiệp khác tại Việt Nam đối với các sản phẩm đã nêu trên.

Ngoài ra, các cam kết dành riêng cho dịch vụ nhượng quyền thương mại khá “mở” dành cho các nhà đầu tư nước ngoài. Khi gia nhập WTO, Việt Nam đã cam kết không hạn chế cung cấp dịch vụ nhượng quyền thương mại qua phương thức cung cấp qua biên giới. Trong trường hợp hiện diện thương mại, công ty nước ngoài phải thành lập liên doanh với đối tác Việt Nam và tỷ lệ vốn góp của phía nước ngoài không được vượt quá 49%. Kể từ ngày 1/1/2008, hạn chế vốn góp 49% đã được bãi bỏ. Và kể từ ngày 1/1/2009, sẽ không còn hạn chế. Sau 03 năm kể từ ngày gia nhập, sẽ cho phép thành lập chi nhánh, với điều kiện trưởng chi nhanh phải là người thường trú tại Việt Nam.

Như vậy, vào thời điểm này, các hạn chế đối với hiện diện thương mại của các doanh nghiệp nước ngoài trong dịch vụ nhượng quyền thương mại hầu như đã được gỡ bỏ. Các doanh nghiệp có thể thành lập các hiện diện thương mại với 100% vốn của mình và sẽ tiếp tục được mở chi nhánh vào năm 2010 với điều kiện trưởng chi nhánh là người thường trú tại Việt Nam.

Có thể thấy, cam kết của Việt Nam trong WTO là phù hợp với định hướng phát triển ngành phân phối, trong đó có dịch vụ nhượng quyền thương mại. Các nhà đầu tư nước ngoài chắc chắn sẽ tận dụng những thuận lợi này để phát triển thương hiệu cũng như công việc kinh doanh của mình. Điều này sẽ thúc đẩy đáng kể nền kinh tế nước ta nhưng cũng là thách thức cho các doanh nghiệp Việt Nam nếu không vào cuộc ngay từ bây giờ.

Liên hệ sử dụng dịch vụ đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ tại Việt Nam:

Quý khách hàng có nhu cầu sử dụng dịch vụ vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi: CÔNG TY LUẬT TNHH MINH KHUÊ

Điện thoại yêu cầu dịch vụ luật sư tư vấn luật Sở hữu trí tuệ, gọi: 1900.6162

Gửi thư tư vấn hoặc yêu cầu dịch vụ qua Email: [email protected]

Rất mong nhận được sự hợp tác cùng Quý khách hàng!

>> Xem thêm:  Tư vấn về nhượng quyền thương mại, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ

5. Một số loại tội phạm mới, có xu hướng gia tăng khi Việt Nam gia nhập WTO

Hội nhập kinh tế quốc tế, gia nhập WTO là bộ phận quan trọng trong đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta, nhằm mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, nắm bắt, tận dụng thời cơ, thúc đẩy sự phát triển về mọi mặt, trong đó trọng tâm là lĩnh vực kinh tế. Bên cạnh đó, việc gia nhập WTO cũng đặt ra những thách thức đối với nền kinh tế đất nước, đòi hỏi sự đổi mới, thích nghi của cơ quan hữu quan và doanh nghiệp trong các hoạt động quản lý, sản xuất, kinh doanh...

Qua thực tiễn diễn biến tình hình tội phạm của nước ta trong những năm gần đây và thực tiễn tình hình tội phạm ở một số nước trên thế giới, có thể nhận thấy trong thời gian tới sẽ phải đối mặt với những khó khăn, thách thức sau đây:

Tội phạm sử dụng công nghệ cao làm phương tiện tấn công các cơ sở dữ liệu của máy tính, hoặc mạng máy tính tạo và lan truyền, phát tán virus, đột nhập trái phép cơ sở dữ liệu máy tính, ăn cắp dữ liệu thông tin. Dùng công nghệ cao thực hiện hành vi lừa đảo qua thanh toán trên mạng ngân hàng, trộm cước bưu chính viễn thông .v.v... Loại tội phạm này sẽ kéo theo một số loại tội phạm trong lĩnh vực tài chính ngân hàng nhằm chiếm đoạt tiền thông qua hệ thống thanh toán điện tử, đột nhập vào hệ thống cơ sở dữ liệu ngân hàng phá vỡ hệ thống bảo mật để ăn cắp dữ liệu về chủ sở hữu thẻ thanh toán nội địa, quốc tế, tội phạm trong lĩnh vực thị trường chứng khoán…

.Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi:  1900.6162

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162


Tội phạm rửa tiền sẽ triệt để lợi dụng kẽ hở trong kiểm soát các khoản tiền chuyển qua ngân hàng với số lượng lớn và không rõ nguồn gốc để hợp pháp hoá tiền, tài sản do phạm tội mà có từ các hoạt động buôn lậu, tham nhũng, buôn ma túy, vũ khí... thông qua các hoạt động đầu tư từ nước ngoài vào Việt Nam hoặc từ Việt Nam ra nước ngoài.

Các tội xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ. Trong thời gian tới vi phạm trong bản quyền tác giả về văn hoá nghệ thuật, xâm phạm bản quyền phần mềm, tội phạm sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng nhái từ nước ngoài vào trong nước gia tăng, sẽ xuất hiện tội phạm sản xuất buôn bán hàng giả từ trong nước ra nước ngoài.

Các tội phạm về môi trường. Các ngành công nghiệp, khai khoáng, sản xuất hàng hóa sẽ có điều kiện phát triển, song chúng ta cũng sẽ phải đối mặt với một thách thức đó là các hành vi gây ô nhiễm, huỷ hoại, khai thác cạn kiệt tài nguyên môi trường, vi phạm các chế độ bảo vệ, đặc biệt đối với các hành vi vận chuyển chất thải, chất phóng xạ trái phép qua biên giới…

Tội phạm có tổ chức, xuyên quốc gia sẽ xuất hiện với quy mô, phương thức, thủ đoạn, tính chất hành vi ngày càng phức tạp và đa dạng. Tội phạm là người nước ngoài sẽ lợi dụng những hạn chế của ta do thiếu kinh nghiệm, còn yếu kém về quản lý kinh tế, luật pháp quốc tế, non kém về khoa học - kỹ thuật hoặc lợi dụng những cán bộ thoái hóa biến chất ký hợp đồng kinh tế với nước ngoài gây lãng phí, thiệt hại kinh tế.

Tội phạm trốn thuế có thể diễn ra ở mọi lúc, mọi nơi nếu công tác quản lý, kiểm tra, giám sát các hoạt động xuất nhập khẩu, đầu tư, chứng khoán, sản xuất kinh doanh... lỏng lẻo, xuất hiện hành vi trốn thuế mới là hành vi trốn thuế thu nhập cá nhân. Tội phạm buôn lậu và gian lận thương mại tồn tại và sẽ phát triển với hình thức tinh vi hơn hoạt động mang tính quốc tế, có sự thông đồng giữa trong và ngoài nước với mức độ cao và chặt chẽ hơn từ khâu sản xuất đến vận chuyển và tiêu thụ. Sẽ xuất hiện loại tội phạm buôn lậu trong nội địa, vận chuyển hàng hóa từ khu chế xuất hoặc lợi dụng cơ chế tạm nhập tái xuất để tuồn hàng hóa ra thị trường nội địa.

Tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em sẽ diễn ra phức tạp, thủ đoạn ngày càng tinh vi (môi giới nhận con nuôi, kết hôn lấy chồng nước ngoài, xuất khẩu lao động, thậm chí cưỡng ép, bắt cóc phụ nữ, trẻ em…). Tội phạm buôn bán ma tuý vẫn tiếp tục gia tăng và diễn biến khó lường. Xu thế ma tuý gắn liền với tội phạm có tổ chức, băng nhóm hoạt động theo kiểu xã hội đen như đã từng xảy ra ở nhiều nước trên thế giới.

Ngoài ra, gia nhập WTO chúng ta còn phải đối mặt với một loại tội phạm nguy hiểm, có thể ảnh hưởng đến sự thống nhất, phát triển của đất nước là tội phạm về an ninh quốc gia. Các thế lực thù địch vẫn liên tục chống phá với nhiều phương thức, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt hòng nhanh chóng xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, xoá bỏ chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Sự cạnh tranh khốc liệt về kinh tế sẽ kéo theo những nhân tố mất ổn định về chính trị –xã hội, an ninh, chủ quyền quốc gia có nguy cơ bị xâm hại, quyền tự quyết dân tộc đặt ra dưới nhiều áp lực.

Để có thể hạn chế, ngăn chặn các loại tội phạm trên, các cơ quan chức năng cần nghiên cứu, làm rõ hiện tượng tội phạm phi truyền thống, tội phạm mới nảy sinh trong xu thế hội nhập để chủ động nắm chắc diễn biến tình hình. Rà soát, xây dựng, bổ sung hệ thống pháp luật phù hợp và tương thích với xu thế hội nhập, kẽ hở, tạo các mâu thuẫn hoặc xung đột về pháp luật mà tội phạm có thể lợi dụng. Đề xuất cấp có thẩm quyền thành lập các đơn vị chuyên trách đấu tranh chống tội phạm đáp ứng yêu cầu đấu tranh trong tình hình mới, đặc biệt là để đấu tranh chống tội phạm buôn bán người, tội phạm sử dụng công nghệ cao, tội phạm khủng bố. Tập trung đẩy mạnh các đề án thuộc chương trình quốc gia phòng, chống tội phạm, tăng cường hợp tác quốc tế, gắn an ninh với quốc phòng và đối ngoại, đón lõng, xây dựng và triển khai phương án phòng, chống tội phạm trong các lĩnh vực kinh tế, môi trường, công nghệ cao.

(MKLAW FIRM: Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ có giá trị tham khảo vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)

>> Xem thêm:  Tư vấn thủ tục Đăng ký thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn