Trong các tội phạm có nạn nhân, nạn nhân luôn giữ vai trò quan trọng trong cơ chế hành vi phạm tội. Trước hết, những hành vi, xử sự có lỗi của nạn nhân như hành vi mất cảnh giác, hành vi vi phạm đạo đức, thuần plýg, mĩ tục... hành vi gây gổ, vi phạm pháp luật hay hành vi phạm tội là những yếu tố tác động làm phát sinh hành vi phạm tội. Ngay cả những trường hợp nạn nhân hoàn toàn không có lỗi (hoàn toàn không có những hành vi cử chỉ kích thích làm phát sinh hành vi phạm tội) nhung vì nạn nhân ở trong những điều kiện, hoàn cảnh nhất định nên dễ trở thành nạn nhân của tội phạm như làm những công việc có nguy cơ dễ bị hành vi phạm tội xâm hại (nghề “xe ôm”, lái xe taxi, nghề kinh doanh vàng bạc...); cư trú ở những nơi vắng vè hoặc thuộc gia đình giàu có... Đánh giá một cách toàn diện các yếu tổ có vai trò quan trọng từ phía nạn nhân trong việc thúc đẩy làm hình thành ý định phạm tội cũng như thúc đẩy việc thực hiện hành vi phạm tội, cũng như tìm hiểu đặc trưng của các nhóm người có nguy cơ cao trở thành nạn nhân của tội phạm có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dụng những định hướng cũng như các biện pháp phòng ngừa.

- Nghiên cứu nạn nhân giúp cho việc xây dựng và thực hiện tốt các chính sách hình sự, chính sách xã hội. Trước hết, nghiên cứu nạn nhân của tội phạm giúp cho việc hoàn thiện các văn bàn pháp luật cũng như các chính sách hình sự, chính sách xã hội để tăng cường bảo vệ cũng như trợ giúp nạn nhân của tội phạm và gia đình họ nhằm đảm bảo sự hợp tác tích cực của họ với các cơ quan tư pháp hình sự cũng như trợ giúp cho họ sớm ổn định cuộc sống. Nghiên cứu nạn nhân của tội phạm cho phép xác định phạm vi chính xác những người được coi là nạn nhân của tội phạm, từ đó có chính sách đê phân loại nạn nhân làm căn cứ xây dựng các chính sách bồi thường và trợ giúp nạn nhân phù hợp. Nghiên cứu nạn nhân của tội phạm giúp cho việc xác định chính xác các loại thiệt hại mà nạn nhân phải gánh chịu. Từ đó có thể xấy dựng được những định mức phù hợp làm căn cứ định hướng cho việc bồi thường và trợ giúp cho nạn nhân của tội phạm.

1. Các yếu tố có vai trò làm gia tăng nguy cơ trở thành nạn nhân của tội phạm ?

Trong cơ chế hành vi phạm tội, nạn nhân có thể có vai trò rất quan trọng làm gia tăng nguy cơ trở thành nạn nhân của tội phạm. Tội phạm học luôn đặt ra nhiệm vụ tìm hiểu, giải thích vai trò của những yếu tố thúc đẩy một người trở thành nạn nhân của tội phạm để từ đó xây dựng các định hướng, các biện pháp phòng ngừa nguy cơ trờ thành nạn nhân, tránh rủi ro cho con người. Có nhiều yếu tố có vai trò quan trọng làm gia tăng nguy cơ trở thành nạn nhân của tội phạm, trong đó có các yếu tố thuộc về cá nhân của nạn nhân và cả các yếu tố thuộc về khách quan (môi trường sống) của nạn nhân.

>> Các yếu tố thuộc về cá nhân con người trong việc thúc đẩy nguy cơ trở thành nạn nhân của tội phạm:

Trong các yếu tố thuộc về cá nhân con người có vai trò tác động, thúc đẩy làm gia tăng nguy cơ trở thành nạn nhân của tội phạm, trước hết phải kể đến những đặc điểm tâm, sinh lý của nạn nhân. Các đặc điểm tâm, sinh lý của con người đóng vai trò đáng kể trong việc tạo điều kiện thúc đẩy quá trình trở thành nạn nhân của tội phạm. Các đặc điểm tâm, sinh lý của con người trước hết tác động đến việc thực hiện hành vi của họ thể hiện thông qua lời nói, cừ chỉ hay hành động. Chính những lời nói, cử chỉ hay hành động này trong những tình huống cụ thể đã góp phần kích thích, thúc đẩy làm phát sinh hành vi phạm tội. Các đặc điểm tâm, sinh lý có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy quá trình phát sinh tội phạm hết phải kể đến những đặc điểm sinh học di truyền như khí chất nóng nảy, cục cằn, thô lỗ hay sự dâm đãng, háo sắc... Do khí chất nóng nảy, cục cằn, thô lỗ, khả năng tự kiềm chế kém nên một số người trong các mối quan hệ xã hội, nhất là khi gặp các tình huống không thuận lợi trong cuộc sống đã có các hành vi, xử sự không chỉ không làm hài lòng người khác mà còn làm nảy sinh những sự phản kháng ở họ. Trong những tình huống nhạy cảm như khi bị tắc đường, khi bị va chạm trong giao thông, khi phải xếp hàng chờ một dịch vụ nào đó... chỉ cần những lời nói, cử chỉ không đúng mực, văng tục, chửi thề... sẽ làm kích động người khác và nếu những người này cũng là những người nóng nảy, thiếu kiềm chế thì tất yếu sẽ làm phát sinh hành vi phạm tội.

Bên cạnh đó, những phẩm chất tâm lý lệch lạc như lòng tham, sự ích kỉ thậm chí coi thường các chuẩn mực xã hội, các giá trị. đạo đức, quá đề cao giá trị đồng tiền, coi thường tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm của người khác, thậm chí cả thói quen hưởng thụ, lười nhác, sự háo sắc... đặt trong những tình huống tiêu cực cụ thể cũng dễ làm phát sinh các hành vi, cử chỉ, lời nói thúc đẩy sự hình thành ý định phạm tội cũng như thúc đẩy việc thực hiện tội phạm ở những người khác. Một số người do quá hám lợi đã dễ dàng bị những người khác thực hiện các hành vi lừa đảo như dụ mua hàng giả với giá rẻ, rủ đi làm ăn ở thành phố, biên giới rồi lừa bán cho các ổ mại dâm... Hành vi lén lút quan hệ bất chính có thể bị những người khác lợi dụng để cưỡng đoạt, trộm cáp hay cưóp tài sản. Một số đặc điểm tâm lý khác như tâm lý tự tin, quá dễ dãi đối với sự an toàn của bản thân cũng như tâm lý thiếu sự đề cao cảnh giác đối với việc bảo vệ tài sản của mình hay tâm lý thích phô trương tài sản... cũng đóng vai trò đáng kể trong quá trình phát sinh tội phạm. Những đặc điểm tâm lý này dẫn đến các hành vi, xử sự mất cảnh giác như: không gửi phương tiện giao thông tại các điểm trông giữ, không khoá cửa nhà, không khoá các phưong tiện giao thông cẩn thận, vận chuyển nhiều tiền, vàng bằng xe máy mà không có người bảo vệ, vừa tham gia giao thông vừa nghe điện thoại hoặc phụ nữ đi một mình ở những nơi vắng vẻ, phụ nữ đeo nhiều đồ trang sức khi đi ngoài đường, cho trẻ em đeo đồ trang sức đắt tiền, sử dụng những phương tiện, đồ đạc như xe đạp, điện thoại đắt tiền... Tất cả những hành vi, xử sự như vậy chính là các nguyên nhân thúc đẩy sự hình thành ý định phạm tội cũng như thúc đẩy việc thực hiện tội phạm ở những người khác. Nói cách khác, những hành vi, xử sự như vậy làm gia tăng đáng kể nguy cơ trở thành nạn nhân của tội phạm ở những nhóm người này.

Ngoài yếu tố tâm lý, yếu tố sinh học cũng có vai trò thúc đẩy việc phát sinh và thực hiện hành vi phạm tội. Đó là các đặc điểm đặc thù như độ tuổi, giới tính hay sức khoẻ. Nạn nhân học xác định một số nhóm người có những đặc điểm hạn chế về khả năng tự bảo vệ, do đó đã kích thích sự hình thành ý định phạm tội mà điển hình là các nhóm phụ nữ, trẻ em, người già, người khuyết tật hay người mắc bệnh tâm thần.

Lối sống của một người hay nhóm người trong nhiều trường hợp cũng là nguyên nhân quan trọng thúc đẩy quá trình trở thành nạn nhân của tội phạm.

>> Xem thêm:  Phòng ngừa nguy cơ trở thành nạn nhân của tội phạm như thế nào ?

Lối sống (Lifestyle) là cách mà các cá nhân sắp đặt thời gian của họ cho các hoạt động lao động, nghề nghiệp cũng như các hoạt động vui chơi giải trí ương thời gian rảnh rỗi. Lối sống được hình thành từ sự tổng họp ảnh hưởng của tất cả các yếu tố và hình thành một nếp sinh hoạt ở mỗi người hay một nhóm người. Lối sống được thể hiện trong cuộc sống hàng ngày thông qua các hành vi, xử sự như cách đi lại, ăn nói, đối xử. plýg cách làm việc, vui chơi giải trí, thú tiêu khiển... Mỗi nhóm người trong xã hội có lối sống đặc trưng của mình. Có rất nhiều lối sống tưởng chừng vô hại nhưng trong sự kết hợp với những điều kiện khác như động cơ, mục đích của người phạm tội cũng như đặt trong những hoàn cảnh và khả năng tự bào vệ là những yếu tổ rất quan trọng làm tăng nguy cơ bị hành vi phạm tội xâm hại. Trong những điều kiện thời gian và không gian nhất định và trong các mối quan hệ nhất định với những người có nhiều khả năng phạm tội, những lối sống và những thói quen nhất định là những yếu tố quan trọng trong cơ chế hành vi phạm tội. Ví dụ, lối sống khép mình khiến nhiều người không có đủ kinh nghiệm sống cũng như những hiểu biết xã hội, kinh nghiệm giao tiếp cần thiết. Điều này làm cho họ dễ bị lợi dụng và trở thành nhóm người có nguy cơ cao bị tội phạm xâm hại.

Lối sống còn được thể hiện thông qua thói quen xử sự hằng ngày của con người (rountine activities). Đó là những hoạt động tái diễn, lặp đi, lặp lại hằng ngày trong đời sống thường nhật hay cách hành xừ thịnh hành hàng ngày trong công việc, nghỉ ngơi, vui chơi giải trí, quan hệ xã hội... Theo nghiên cứu của Cohen và Felson (1979), một số thói quen trong cuộc sống hoặc một số hành vi thịnh hành do những đặc điểm riêng của nó đã tạo ra những yếu tố rất thuận lợi làm phát sinh tội phạm. Điều tra nạn nhân của Walklate năm 1992 cho thấy hầu hết các hành vi phạm tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ đều xảy ra ở nơi công cộng, rất ít các hành vi phạm tội xảy ra tại nơi ở của cá nhân. Điều đó cho thấy những thói quen vui chơi giải trí cuối tuần ở những nơi công cộng như quán bar, nhà hàng, quán karaoke, sàn nhảy... cùng với thói quen uống nhiều rượu bia đã làm gia tăng đáng kể nguy cơ trờ thành nạn nhân của tội phạm. Mỗi nhóm, loại tội thường được đặc trưng bởi những lối sống đặc thù của nạn nhân. Các vụ án hiếp dâm thường được đặc trưng bởi ngoại hình và thói quen ăn mặc khêu gợi, hành vi, lời nói thể hiện sự dễ dãi, khiêu khích, sự thiếu thận trọng đối với an toàn cá nhân của nạn nhân như đi một mình ở noi vắng vẻ, đi chơi một mình cùng những người không quen biết đến những nơi xa lạ... Các vụ án về các tội xâm phạm sở hữu thường đặc trưng bởi tính khoe khoang, thích phô trương tài sản hay sự thiếu thận trọng, mất cảnh giác trong việc bảo vệ tài sản, nhất là những tài sản nhỏ gọn, có giá trị cao và dễ trộm cắp, cướp như tiền, vàng, kim khí quý, đá quý hoặc những loại tài sản dễ lấy như xe ô tô, xe máy, máy tính xách tay... Các tội phạm vi phạm an toàn giao thông thường đặc trưng bởi sự cẩu thả, thói quen ít kiểm tra, quan sát hoàn cảnh xung quanh hoặc thói quen không tuân thủ các quy định bảo đảm an toàn giao thông của nạn nhân.

Lối sống và thói quen xử sự của con người luôn chịu ảnh hường sâu sắc bởi sự biến đổi của nền kinh tế-xã hội. Ở nước ta những năm gần đây, do tác động của nền kinh tế thị trường, con người ngày càng tách khỏi gia đình vì việc học tập cũng như làm ăn sinh sống. Sự tách bạch đó tuy tạo cho con người sự độc lập trong cuộc sống nhưng nó cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro và khả năng thúc đẩy nguy cơ trở thành nạn nhân của tội phạm. Những rủi ro này không chỉ xảy ra đối với những người xa gia đình mà cả đối với những người còn lại trong gia đình, nhất là khi gia đình chỉ còn lại trẻ em và người già thì khả năng tự bảo vệ khỏi sự xâm hại của hành vi phạm tội là rất thấp. Đời sống công nghiệp với những thay đổi nhanh chóng, cộng với sự phát triển của ngành công nghiệp giải trí đã tạo ra sự thay đổi lớn trong đời sống xã hội. Nhiều lối sống và thói quen mới được hình thành trong các tầng lớp dân cư. Đáng chú ý là xuất hiện ngày càng nhiều những lối sống và thói quen là những yếu tố vô cùng thuận lợi tạo ra nguy cơ trở thành nạn nhân của tội phạm. Thói quen và lối sống thịnh hành nhất trong đời sống hiện đại ngày nay là lối sống ít quan tâm đến công việc cũng như sinh hoạt của người khác theo kiểu “đèn nhà ai nhà nấy rạng”. Đây chính là lối sống chịu ảnh hưởng khá lớn của đời sống công nghiệp khi mà mọi người đều phải vật lộn với cuộc sống thường nhật nên không còn nhiều thời gian cho cộng đồng. Vì vậy sự gắn kết trong cộng đồng dân cư nhất là hàng xóm, láng giềng bị giảm đi đáng kể so với trước đây. Chính sự thờ ơ, thiếu quan tâm đến nhau của hàng xóm, láng giềng làm cho khả năng bảo vệ trước sự xâm hại của hành vi phạm tội giảm đi đáng kể. Rất nhiều trường hợp, các hành vi phạm tội như giết người, cướp, trộm cắp xảy ra mà hàng xóm, láng giềng, thậm chí là nhà ngay bên cạnh hoàn toàn không biết là do lối sống cô lập, khép kín của một bộ phận dân cư. Nhiều người không thích nghi kịp với lối sống hiện đại hay một số người gặp những điều kiện không thuận lợi trong công việc thậm chí nhiều người gặp khó khăn trong giao tiếp đã tự cô lập mình với xã hội, bạn bè. Những lối sống kể trên là những nhân tố vô cùng thuận lợi thúc đẩy nguy cơ trở thành nạn nhân của tội phạm.

2. Vai trò của các nhân tố khách quan trong việc thúc đẩy làm gia tăng nguy cơ trở thành nạn nhân của tội phạm

Ngoài những yếu tố thuộc về cá nhân con người, những yếu tố khách quan thuộc về môi trường sống cũng đóng vai trò đáng kể trong việc làm gia tăng nguy cơ trở thành nạn nhân của tội phạm. Đó là các yếu tố như thời gian, địa điểm cũng như mối quan hệ giữa nạn nhân và người phạm tội.

2.1 Thời gian và địa điếm

Thời gian và địa điểm luôn đóng vai trò quan trọng trong cơ chế hành vi phạm tội. Người phạm tội luôn luôn biết tận dụng khoảng thời gian và những địa điểm thuận lợi cho quá trình thực hiện hành vi phạm tội của mình. Thời gian, địa điểm thuận lợi thường là những lúc, những nơi vắng vẻ, ít người. Ví dụ, thời gian buổi trưa, buổi tối, đêm khuya, những nơi xa dân cư như cánh đồng, bãi tha ma hay những đoạn đường vắng người qua lại, thậm chí trong nhà nhưng ở những thời điểm người lớn đi vắng hết chỉ còn người già và trẻ em. Mỗi loại tội phạm có những khoảng thời gian và địa điểm thích hợp cho việc thực hiện hành vi phạm tội. Những người có các hoạt động phù hợp với thời gian và địa điểm đặc trưng của các tội phạm này sẽ rất dễ trở thành nạn nhân của tội phạm. Tội hiếp dâm thường xảy ra ở những nơi và trong những khoảng thời gian vắng vẻ. Tội cướp giật thường xảy ra trên các đoạn đường lớn, có nhiều nhánh đường cắt ngang và có mật độ người không quá đông. Một số tội phạm như cố ý gây thương tích, trộm cắp, cướp thường xảy ra cuối tuần, ở những nơi xa nhà và thường vào ban đêm.

>> Xem thêm:  Tình hình tội phạm là gì ? Đặc điểm, ý nghĩa khi nghiên cứu tình hình tội phạm

2.2 Yếu tố nghề nghiệp

Yeu tố nghề nghiệp cũng là yếu tố có vai trò khá quan trọng trong cơ chế hành vi phạm tội. Một số người do đặc thù nghề nghiệp nên thường là mục tiêu nhằm đến của nhiều loại tội phạm. Trong số những nghề nghiệp có nguy cơ dễ bị tội phạm xâm hại. trước hết phải kể đến nhóm người làm nghề lái xe ôm, lái xe taxi, kinh doanh vàng bạc, kinh doanh hàng hoá đắt tiền, cho thuê xe ô tô... Đây là những người dễ trở thành nạn nhân của các tội cướp tài sản hay giết người và cướp tài sản, nhất là khi những người này làm nghề trong những điều kiện thời gian và địa điểm thuận lợi cho hành vi phạm tội như đi xe vào những nơi vắng vẻ, vào đêm khuya, cửa hàng vàng bạc nằm ở những nơi vắng vẻ, có ít người... Nhóm người khác là người làm trong các cơ quan bảo vệ pháp luật như cảnh sát giao thông, công an, kiểm lâm... do việc thi hành công vụ tác động đến lợi ích của người khác nên họ dễ trở thành nạn nhân của các tội chống người thi hành công vụ.

2.3 Mối quan hệ giữa nạn nhân và người phạm tội

Mối quan hệ giữa nạn nhân và người phạm tội cũng có vai trò vô cùng quan trọng trong cơ chế hành vi phạm tội. Các mối quan hệ xã hội có thể được chia thành các nhóm sau: Các mối quan hệ gần gũi (gia đình, bạn tình); các mối quan hệ bạn bè thân thiết; các mối quan hệ quen biết (bạn bè, hàng xóm, láng giềng, công tác, hành chính, cộng đồng); các mối quan hệ mới thiết lập và các mối quan hệ không quen biết (các mối quan hệ hoàn toàn xa lạ).

Ở một số loại tội phạm, người phạm tội thường lợi dụng các mối quan hệ quen biết để thực hiện hành vi phạm tội như tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hay các tội xâm phạm tình dục trẻ em. Đó là vì ở những tội phạm này, các mối quan hệ quen biết là yếu tố vô cùng thuận lợi giúp người phạm tội dễ dàng tiếp cận nạn nhân để thực hiện hành vi phạm tội. Ngược lại, ở một số loại tội khác, người phạm tội lại thường tìm đến những người không quen biết để thực hiện hành vi phạm tội như các tội cướp, cướp giát tài sản hay trộm cắp tài sản. Đó là do việc thực hiện hành vi phạm tội với những người xa lạ có khả năng che giấu tội phạm cao horn. Đối với các tội phạm liên quan đến tình dục đối với trẻ em thì mối quan hệ quen biết giữa nạn nhân và người phạm tội không chỉ là điều kiện giúp người phạm tội có thể dễ dàng tiếp cận nạn nhân trẻ em để thực hiện hành vi phạm tội mà cũng chính nhờ các mối quan hệ quen biết này mà người phạm tội sau khi thực hiện hành vi phạm tội có thể đe doạ, khống chế, mua chuộc nạn nhân để họ không dám tổ cáo và để có thể tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội.

Tóm lại, nạn nhân đóng vai trò rất quan trọng trong cơ chế hành vi phạm tội. Các đặc điểm tâm, sinh lý, thói quen, lối sống cũng như các điều kiện về thời gian, địa điểm, mối quan hệ giữa nạn nhân và người phạm tội có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với quá trình phát sinh và thực hiện hành vi phạm tội. Những yếu tố này có vai trò khác nhau đối với việc thúc đẩy sự hình thành ý định phạm tội cũng như thúc đẩy việc thực hiện hành vi phạm tội. Ở những nhóm, loại tội khác nhau thì ảnh hưởng của những yếu tố này cũng không giống nhau.

Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập từ các nguồn trên internet)

>> Xem thêm:  Phương pháp nghiên cứu của tội phạm học là gì ? Cho ví dụ ?

Câu hỏi thường gặp về nạn nhân của tội phạm ?

Câu hỏi: Ý nghĩa tội phạm học của việc làm sáng tỏ mối liên hệ giữa người phạm tội và nạn nhân ?

Trả lời:

Xác định được nguyên nhân và điều kiện của tội phạm, qua đó đưa ra các chủ trương, chính sách, các biện pháp phòng ngừa phù hợp, giúp hạn chế hoặc loại bỏ những nguyên nhân và điều kiện đó, loại trừ tội phạm ra khỏi đời sống xã hội.

Xác định được cơ chế hành vi phạm tội để đưa ra biện pháp, chiến thuật và chiến lược trong phòng ngừa tội phạm.

Câu hỏi: Nạn nhân đóng vai trò như thế nào trong việc xác định tội phạm ẩn ?

Trả lời:

Tội phạm ẩn là tội phạm đã xảy ra trên thực tế nhưng chưa bị cơ quan chức năng phát hiện, xử lý và đưa vào thống kế tội phạm.

- Nạn nhân là một trong những yếu tố giúp làm sáng tỏ việc xác định tội phạm vì chính nạn nhân là người bị hành vi phạm tội trực tiếp xâm hại gây ra những thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản hoặc các quyền, lợi ích hợp pháp khác.

- Nguyên nhân dẫn đến tội phạm ẩn khách quan chính là do sự nhận thức không đúng đắn của nạn nhân: không tố giác tội phạm do sợ bị trả thù, ngại tiếp xúc với cơ quan chính quyền, ngại phải tiếp xúc với những thủ tục rườm rà, tốn thời gian khi tố cáo, tự thấy mình có lỗi trong việc bị thiệt hại là do mình không cẩn thận đề phòng hay thấy giá trị bị thiệt hại không lớn có thể tự mình giải quyết được… và cũng có thể là có sự tham gia của nạn nhân trong hành vi phạm tội nên nạn nhân không muốn mình bị phát hiện… Những điều này làm cho các cơ quan chức năng không thể biết được có sự diễn ra của hành vi phạm tội, dẫn đến tội phạm ẩn.

- Ý thức của nạn nhân đóng vai trò quan trọng trong việc làm giảm tội phạm ẩn:  khi nạn nhân có ý thức muốn làm sáng tỏ tội phạm họ bị gây thiệt hại, có ý thức pháp luật hơn thì tình hình tội phạm ẩn sẽ giảm.

Câu hỏi: Phân tích thuộc tính phổ biến của nạn nhân ?

Trả lời:

Thuộc tính phổ biến của nạn nhân được thể hiện thông qua các thông số: số lượng nạn nhân, hệ số của nạn nhân, cơ cấu của nạn nhân và động thái của nạn nhân

- Số lượng nạn nhân là sự phản ảnh con số tuyệt đối về số lượng tội phạm, gây ra những thiệt hại cho thân thể, số lượng nạn nhân của Tội phạm.

- Hệ số của nạn nhân: Về nguyên tắc thì tương tự như hệ số của Tội phạm

- Cơ cấu của nạn nhân: Có thể được thiết lập dựa trên những dấu hiệu khác nhau như tuổi, giới tính, trình độ văn hóa và những thông số khác về người bị hại; những dấu hiệu, liên quan đến người phạm tội, gây ra thiệt hại, thậm chí cho chính người phạm tội.

– Động thái của nạn nhân thể hiện sự thay đổi trong giai đoạn nhất định với chỉ số về số lượng, tình trạng, mức độ và cơ cấu, trong tương quan với tổng thể.

Suy luận thêm:

Khía cạnh nạn nhân của tội phạm là những yếu tố thuộc về nạn nhân của tội phạm, có vai trò trong cơ chế tâm lí xã hội của hành vi phạm tội, góp phần làm phát sinh một tội phạm cụ thể gây thiệt hại cho chính nạn nhân.

+) Hành vi nạn nhân:

– Hành vi tích cực: là những hành vi chính đáng hợp pháp của nạn nhân gây thiệt hại cho chính nạn nhân: thi hành công vụ hợp pháp, tố giác tội phạm, ngăn cản, truy đuổi tội phạm.

– Hành vi tiêu cực: là những hành vi không chính đáng, bất hợp pháp, vi phạm đạo đức, vi phạm pháp luật tác động đến cá nhân người phạm tội hoặc những người thân thích của họ. Ví dụ: khiêu khích, tấn công trước, xúc phạm đến nhân thân, danh dự của người phạm tội.

– Hành vi cẩu thả: là những hành vi vô ý, chủ quan, quá tự tin, dễ dãi đối với sự an toàn về sức khỏe, tính mạng, tài sản, danh dự, nhân phẩm của bản thân nạn nhân. Ví dụ: đi bộ dưới lòng đường, mất cảnh giác trong việc bảo vệ tài sản, thiếu tập trung trong việc điều khiễn phương tiện giao thông.

+) Các đặc điểm nhân thân của nạn nhân.

Gồm các đặc điểm về sinh học, xã hội, tâm lí. Cụ thể như đặc điểm sinh học thì nạn nhân thường rơi vào nhóm người chưa thành niên, người già, phụ nữ, … Đặc điểm xã hội thì dấu hiệu nghề nghiệp, vị trí xã hội, hoàn cảnh kinh kế của nạn nhân như giết người vì lý do công vụ của nạn nhân, khủng bố, bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản. Về tâm lí thì sự dễ dãi, cả tin trong quan hệ xã hội, hám lợi tạo điều kiện cho các tội như lừa đảo, lạm dụng tín nhiệm.

+) Mối quan hệ giữa nạn nhân và người phạm tội:  Quan hệ giữa nạn nhân và người phạm tội thường có 2 dạng đặc trưng: quen biết và phụ thuộc.

+ Quan hệ gia đình, huyết thống: Việt kiều gửi tiền về VN mua bất động sản -> đưa nhau gia tòa hay tình trạng xâm phạm tình dục trẻ em.

+ Quan hệ lệ thuộc: về vật chất, hoặc tinh thần (về công tác, tôn giáo, tín ngưỡng)

+ Quan hệ bạn bè quen biết, hàng xóm láng giềng.

Chú ý: Không phải tội phạm nào cũng có khía cạnh nạn nhận.

Ví dụ: Các tội phạm xâm phạm kinh tế, an ninh quốc gia không thấy khía cạnh nạn nhân. Các tội phạm trong an toàn giao thông, người đi đường lạc tay lái tông vô người đi đường đi đúng lề đường, hoặc các tội phạm khủng bố.