Nạn nhân của tội phạm là những cá nhân, tổ chức, nhóm người bị thiệt hại do hành vi của tội phạm gây ra. Nạn nhân của tội phạm trong luật hình sự được quy định trong các trường hợp: nạn nhân là yếu tố định tội, nạn nhân là yếu tố định khung, nạn nhân là yếu tố tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt đối với tội phạm.
Chuyên mục: "Nạn nhân của tội phạm" phân tích các vấn đề pháp lý có liên quan đến vấn đề này.
Khái niệm nạn nhân của tội phạm đã được các nhà nghiên cứu tội phạm học tranh luận từ giữa thể kỉ XX. Tuy còn nhiều quan điểm chưa thống nhất nhưng các tranh luận về nạn nhân của tội phạm đều theo hai xu hướng:
Vai trò của nạn nhân của tội phạm (sau đây gọi tắt là nạn nhân) được thể hiện qua xử sự của họ trong từng tình huống phạm tội cụ thể, ở quá trình người phạm tội đánh giá tình huống đó cũng như cần nhắc các đặc điểm nhân thân của nạn nhân trước khi quyết định thực hiện hành vi phạm tội cụ thể.
Nghiên cứu nạn nhân của tội phạm giúp ngăn ngừa rủi ro và hạn chế các nguyên nhân thúc đẩy nguy cơ trở thành nạn nhân của tội phạm. Nghiên cứu nạn nhân của tội phạm sẽ giúp cho việc tìm hiểu, đánh giá các nguyên nhân từ phía nạn nhân làm phát sinh hành vi phạm tội.
Phòng ngừa nguy cơ trở thành nạn nhân của tội phạm là áp dụng các biện pháp nhằm hạn chế hay loại trừ các yếu tố có vai trò thúc đẩy làm gia tăng nguy cơ trở thành nạn nhân của tội phạm, làm giảm đến mức thấp nhất nguy cơ bị hành vi phạm tội xâm hại.