1.Điều kiện
Đối với người được đại diện. Theo BLDS Ðiều 23 khoản 1, thì người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự là người nghiện ma tuý hoặc nghiện các chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản của gia đình và bị Toà án ra quyết định tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc cơ quan, tổ chức hữu quan.
Người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự nhất thiết phải là người đã thành niên: nếu người chưa thành niên đủ 15 tuổi, đang tự mình quản lý tài sản mà có hành vi phá tán, thì, một cách hợp lý, chỉ cần tăng cường chế độ giám hộ. Đối với người đại diện. Người đại diện cho người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự nhất thiết phải có đủ điều kiện như một người giám hộ, dù luật không quy định rõ, bởi người này sẽ đảm nhận các chứ năng tương tự người giám hộ. Người này được chỉ định theo một quyết định của Toà án (Ðiều 23 khoản 2). Thông thường, nếu người bị hạn chế năng lực hành vi có vợ (chồng), thì người đại diện là vợ chồng; trong trường hợp người này không có vợ (chồng) thì người đại diện là một người thân thuộc. Thủ tục. Cũng như tình trạng mất năng lực hành vi, tình trạng hạn chế năng lực hành vi không đương nhiên được thiết lập một khi có đủ các yếu tố khách quan. Cần có một vụ kiện trước Toà án và có một quyết định tư pháp. Theo Bộ luật TTDS Điều 35 khoản 2 điểm a, Toà án có thẩm quyền là Toà án nơi cư trú của người dự kiến bị đặt vào tình trạng bị hạn chế năng lực hành vi. Là một quyết định tư pháp được tuyên theo đúng pháp luật về tố tụng dân sự, bản án đặt một người vào tình trạng bị hạn chế năng lực hành vi có thể bị kháng cáo, kháng nghị và được xét lại theo trình tự phúc thẩm, giám đốc thẩm,.. Đăng ký ? Luật hoàn toàn không có quy định về việc đăng ký việc hạn chế năng lực vi, như trường hợp đăng ký việc giám hộ. Người ta không hiểu bằng cách nào, tình trạng hạn chế năng lực hành vi của một người được công bố cho người thứ ba. Điều này có thể khiến cho tình trạng hạn chế năng lực hành vi của một người trở nên không minh bạch và là một bẫy rập đối với xã hội: người đại diện giấu mặt có thể xuất hiện bất kỳ lúc nào để quấy rối bên giáo dịch với người bị hạn chế năng lực hành vi.
2.Thế nào là một người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự
Tại khoản 1 Điều 24 Bộ luật dân sư 2015 quy định như sau:
“Người nghiện ma túy, nghiện các chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản của gia đình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án có thể ra quyết định tuyên bố người này là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.”
“Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần.”
Như vậy, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự là người thành niên có năng lực hành vi dân sự, tuy nhiên do họ bị nghiện ma túy hoặc các chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản của gia đình nên họ có thể bị yêu cầu tuyên bố là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.
3. Quyền yêu cầu tuyên một người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự
Về quyền yêu cầu tuyên bố một người bị mất năng lực hành vi dân sự bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi được quy định cụ thể tại Điều 376 của Bộ luật dân sư 2015 như sau:
“1. Người có quyền, lợi ích liên quan, cơ quan, tổ chức hữu quan có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi theo quy định của Bộ luật dân sự.
2. Người thành niên không đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi do tình trạng thể chất, tinh thần nhưng chưa đến mức mất năng lực hành vi dân sự có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố họ là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi theo quy định của Bộ luật dân sự.”
Như vậy, những người có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố một người bị mất năng lực hành vi dân sự bao gồm:
+ Người có quyền, lợi ích liên quan, cơ quan, tổ chức hữu quan.
+ Người thành niên không đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi do tình trạng thể chất, tinh thần nhưng chưa đến mức mất năng lực hành vi dân sự.
Những người có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố một người bị mất năng lực hành vi dân sự tiến hành làm thủ tục yêu cầu Tòa án tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.
+ Hồ sơ cần chuẩn bị bao gồm các giấy tờ sau:
+ Đơn yêu cầu tuyên bố người mất năng lực hành vi dân sự
+ CMND, căn cước công dân, hộ khẩu thường trú của người có yêu cầu (nếu có)
+ Giấy tờ tùy thân của người giám hộ đỡ đầu
+ Các tài liệu, chứng cứ chứng minh cho việc yêu cầu tuyên bố người mất năng lực hành vi dân sự là hợp pháp và có căn cứ.
4.Cơ chế đại diện
Giám sát và cho phép. Người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự không hoàn toàn mất năng lực hành vi dân sự. Cũng như người từ đủ 6 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự có thể tự mình xác lập và thực hiện các giao dịch nhỏ nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày, các giao dịch khác đều chỉ có thể được xác lập và thực hiện với sự đồng ý của người đại diện (Ðiều 23 khoản 2) . Dẫu sao, có thể tin rằng khác với người chưa thành niên, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự có thể lập di chúc mà không cần có sự đồng ý của người đại diện: chỉ cần người bị hạn chế năng lực hành vi sáng suốt, minh mẫn, tự nguyện trong lúc lập di chúc, thì di chúc, một khi thoả mãn các điều kiện theo luật chung, sẽ có giá trị. Người bị hạn chế năng lực hành vi cũng có thể kết hôn mà không cần sự đồng ý của người đại diện. Phạm vi đại diện cho người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự do Toà án quyết định (cùng điều luật). Kết hợp các quy định liên quan, ta kết luận rằng các giao dịch mà người bị hạn chế năng lực hành vi được phép xác lập, tự mình hoặc có sự đồng ý của người đại diện, bao gồm: các giao dịch nhỏ, các giao dịch mà đương sự không thể giao cho người khác thực hiện, dù không bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, và các giao dịch mà người đại diện được phép thực hiện dưới danh nghĩa của đương sự trong phạm vi đại diện do Toà án xác định. Không như người giám hộ, người đại diện cho người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự không chịu sự giám sát của UBND địa phương nơi cư trú trong quá trình thực hiện việc đại diện. Người được đại diện, về phần mình, có nơi cư trú của mình chứ không được coi như có nơi cư trú tại nơi cư trú của người đại diện, như người giám hộ. Tất cả những điều này có thể được lý giải bởi việc người bị hạn chế năng lực hành vi không mất khả năng nhận thức và không bị mất quyền năng tự mình xác lập giao dịch như người mất năng lực hành vi. Quyền và nghĩa vụ của người đại diện. Luật không có quy định riêng về quyền và nghĩa vụ của người đại diện cho người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự. Có lẽ người này có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của người giám hộ trong phạm vi đại diện do Toà án quyết định (Ðiều 23 khoản 2), được vận dụng trong điều kiện giao dịch nhân danh người bị hạn chế năng lực hành vi vẫn do người sau này xác lập. Song, người này không có trách nhiệm xác định tình trạng tài sản của người được đại diện. Một cách hợp lý, người đại diện cũng có thể được thay đổi, nhưng luật không có quy định về những trường hợp được phép thay đổi người đại diện và, do đó, không dự liệu các thủ tục về chuyển giao quyền đại diện. Việc đại diện chấm dứt trong trường hợp người được đại diện chết hoặc được khôi phục năng lực hành vi dân sự đầy đủ. Chế tài trong trường hợp giao dịch không hợp lệ. Cũng như trong trường hợp các giao dịch do người chưa thành niên hoặc mất năng lực hành vi xác lập mà không phù hợp với các quy định của pháp luật, giao dịch do người bị hạn chế năng lực hành vi thực hiện không đúng luật có thể bị tuyên bố vô hiệu theo yêu cầu của của người đại diện (Điều 130). Thực ra, điều luật được viết không rõ ràng lắm; tuy nhiên, có thể thừa nhận ý chí của người làm luật là như thế. Thời hiệu khởi kiện là hai năm từ ngày giao dịch được xác lập (Điều 136 khoản 1)
5. Hậu quả pháp lý
Khi một người bị Tòa án tuyên bố bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, hậu quả pháp lý xảy ra như sau:
– Việc xác lập, thực hiện giao dịch dân sự liên quan đến tài sản của người bị Tòa án tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày hoặc luật liên quan có quy định khác.
Khác với người mất năng lực hành vi dân sự, mọi giao dịch dân sự của họ đều do người đại diện theo pháp luật xác lập thực hiện; với người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, do bản thân họ là người có năng lực hành vi dân sự nhưng bị hạn chế năng lực hành vi dân sự để tránh việc phá tán tài sản của gia đình nên chỉ những giao dịch dân sự liên quan đến tài sản của họ mới phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ những giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt thiết yếu hằng ngày.
– Khi không còn căn cứ tuyên bố một người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự.
Khi những căn cứ để tuyên bố một người hạn chế năng lực hành vi dân sự không còn thì tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự thì người đó sẽ có trở lại là một người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, không cần phải có người đại diện theo pháp luật nữa và có thể tự mình tham gia được tất cả các giao dịch dân sự.
Luật Minh Khuê ( sưu tầm và biên tập)