1. Vài nét về Adam Smith

Adam Smith sinh năm 1723, ở Kircaldy, Scotland, là con một. Bố ông mất trước khi sinh ông một vài tháng, còn mẹ ông thọ đến 90. Từ thời thanh niên, Smith biểu lộ dấu hiệu mà giới chuyên gia nghiên cứu tâm thần gọi là “hội chứng giáo sư”. Người viết tiểu sử của ông mô tả ông là một học sinh có năng lực, mặc dù có “sự cao hứng khó hiểu”, sau này trong cuộc đời học thuật thường chuyển qua những lúc cao hứng mộng tưởng thường làm rối bạn đồng nghiệp (ví dụ họ nhìn thấy ông mỉm cười trong buổi lễ nhà thờ). Một trong những lúc mộng tưởng vào sáng sớm, ông đi bộ đến 15 dặm trong bộ đồ ngủ trước khi chuông nhà thờ ở làng bên “đánh thức” ông. Trong một dịp khác, trong khi đi bộ với một người bạn, người ta kể rằng tự nhiên ông tranh luận sôi nổi trong khi không có người khác ở gần, đến mức rơi xuống hố. Trong một lần khác, người ta kể ông đãng trí làm rơi bánh mì bơ vào nước sôi, sau đó ông cho rằng xưa nay mình chưa hề pha chén chè nào tệ đến như thế.

Mặc dù không phải là người điển trai, sự có duyên của ông khiến bạn bè và sinh viên yêu mến. Có thể người ta tàn nhẫn mô tả ông là “hỗn hợp những gì nhô ra”. Một chân dung ông bằng đá chạm cho thấy môi dưới của ông trề ra, chiếc mũi to đùng và đôi mắt ốc nhồi. Vả lại, trong suốt đời Ông gặp rắc rối vì nỗi khổ sở của bệnh thần kinh, đầu ông lắc lư, bị ảnh hưởng của chứng mất ngôn ngữ. Tuy nhiên tất cả những điều này không hề làm giảm khả năng tri thức của ông. Ông tự mô tả mình là “một gã nịnh đầm không có gì khác ngoài sách vở”. Chắc chắn ông là triết gia hàng đầu trong thời đại ông. Ở Đại học Glasgow và sau này ở Oxford, Smith giảng về thần học tự nhiên, luân lý học, luật học và kinh tế chính trị học. Ông là học trò của Frances Hutcheson là bạn của David Hume, và là người quen biết với Quesnay. Sinh viên từ Nga và châu Âu sang Anh để nghe ông giảng.

 

2. Tác phẩm của Adam Smith

Tiếng tăm của Smith như một triết gia vẫn còn vương lại phần lớn trong tác phẩm quan trọng của ông, The Theory of Moral Sentiments, xuất bản lần đầu tiên năm 1759. Tác phẩm này là nỗ lực nhận dạng nguồn gốc đánh giá luân lý hay thừa nhận và phản đối luân lý. Trong sách ấy, Smith nhận thức con người như một sinh vật tư lợi mặc dù có khả năng đánh giá luân lý trên cơ sở những cân nhắc khác với tính ích kỷ. Smith cho rằng qua năng lực đồng cảm thì nghịch lý hiển nhiên này được giải quyết. Nghĩa là sự đánh giá luân lý thường được tiến hành bằng cách duy trì tư lợi trong sự vâng lời và đặt chính mình trong quan điểm của người thứ ba, người quan sát vô tư. Trong cách này, người ta tiếp cận khái niệm đồng cảm luân lý chứ không phải là khái niệm ích kỷ, và luân lý thực sự vượt quá sự ích kỷ.

Tác phẩm The Theory of Moral Sentiments và các vấn đề trong sách ấy thu hút sự quan tâm ngay lập tức và mang lại danh tiếng cho tác giả. Nhưng nhiều sử gia tư tưởng kinh tế có khuynh hướng xem điều đó là không nhất quán với tầm quan trọng mà sau này Smith đặt tính tư lợi như một động lực trong The Wealth of Nations. Có một vài quan điểm cho rằng tác phẩm The Wealth of Nations như một sự triển khai logic của tác phẩm The Theory of Moral Sentiments.

 

3. Tính chất hệ thống kinh tế của Smith

Adam Smith hiện nay được xem là cha đẻ kinh tế học vì ông còn hơn cả người xây dựng hệ thống. Có chứng cứ về việc ông bắt đầu xây dựng một hệ thống phân tích tổng quát từ hai thập niên trước khi xuất bản quyển The Wealth of Nations và phác họa hệ thống này rất rõ ràng trước năm 1776. Hệ thống của Smith kết hợp thuyết nhân tính và thuyết lịch sử với hình thức đặc biệt của thần học tự nhiên và một số quan sát nhẫn tâm của đời sống kinh tế. Bó hẹp trong lĩnh vực kinh tế, hệ thống của ông mô tả đặc điểm các hoạt động nông nghiệp, công nghiệp và thương mại. Sự trao đổi trong hệ thống này được làm cho thuận tiện bằng việc sử dụng tiền tệ, và sản xuất mang đặc điểm phân công lao động. Ba đặc điểm chính trong phân tích chính của ông là phân công lao động, phân tích giá cả và phân phối, và tính chất tăng trưởng kinh tế.

Thành tựu của Smith trong lĩnh vực kinh tế học không chỉ là mang nguyên tắc nghiêm túc và riêng biệt của nghiên cứu khoa học vào kinh tế học mà còn đánh dấu sự khởi đầu của những gì gọi là giai đoạn cổ điển trong tư tưởng kinh tế. Giai đoạn này trải rộng từ khi xuất hiện tác phẩm The Wealth of Nations năm 1776 cho đến khi John Stuart Mill mất năm 1873. Mặc dù sự khác biệt cụ thể trong quan điểm vẫn dai dẳng trong số thành viên trường phái cổ điển, thường duy trì các nguyên tắc kể cả niềm tin vào sự tự do tự nhiên (bất can thiệp) và tầm quan trọng của sự tăng trưởng kinh tế như một phương tiện cải thiện sự sinh tồn của con người(1). Hai quan điểm này, phải được tìm thấy trong thuyết Trọng nông cũng làm nền tảng cho tác phẩm The Wealth of Nations.

 

4. Thuyết luật tự nhiên và quyền sở hữu tài sản

Trong thời đại của Adam Smith, kinh tế học là một môn học mới, định nghĩa bao quát như “kinh tế chính trị học”. Vấn đề kinh tế, chính trị chính mà Smith trình bày để mô tả và giải quyết mối quan hệ của cá nhân với nhà nước và các chức năng thích đáng của nhà nước trong mối liên hệ với các thành viên. Quan điểm của Smith về những vấn đề này trên cơ sở hệ thống thần học tự nhiên của ông được trình bày chi tiết trong tác phẩm The Theory of Moral Sentiments và được sử dụng để bổ sung cho quyển The Wealth Of Nations. Thần học ấy không gì khác hơn là thuyết luật tự nhiên theo triết học Kinh viện-Hy Lạp, mặc dù thấm nhuần lương tri của Scotland.

Dĩ nhiên, phái Trọng nông ca ngợi trật tự tự nhiên trên cơ sở luật tự nhiên đối lập với luật chế định. Đối với họ, luật tự nhiên phản ánh suy nghĩ của đấng sáng tạo, nhưng được suy luận bằng lập luận con người. Bởi vì luật tự nhiên có mức tán thành cao hơn luật chế định, vì là những tuyên bố đơn thuần của hội đồng lập pháp, nên luật chế định thấp hơn, càng ít càng tốt. Sau khi bàn điều này khá xa, rõ ràng họ đứng trước ngưỡng cửa bất can thiệp như một vỏ bọc của luật tự nhiên. Cả phái Trọng nông và Adam Smith chủ yếu tranh luận đặc điểm này.

Sir Alexander Gray chỉ rõ “luật tự nhiên dễ bàn hơn là hệ thống hóa. Nhưng chúng ta đi đến khá gần cốt lõi vấn đề khi xem luật tự nhiên như có liên quan đến tài sản cá nhân mà mỗi cá nhân đều có, và như một cố gắng mò mẫm để nhấn mạnh có nhiều “Quyền con người” tồn tại trước Nhà nước và nếu cần chống lại. Muốn diễn đạt điều này theo nghĩa gần với chủ đề của chúng ta hơn, “Luật tự nhiên” ngụ ý sự hạn chế chức năng hoạt động của chính phủ, trong quyền lợi tự do cá nhân” (“Trong tác phẩm The Theory of Moral Sentiments, Smith giải thích chính phủ thần thánh trong vũ trụ phản ứng ra sao đối với các vấn đề kinh tế chính trị trực tiếp của chúng ta). Một ví dụ như thế là đoạn văn nổi tiếng của Smith về “bàn tay vô hình”:

“Mỗi cá nhân nhất thiết phải lao động để mang lại lợi tức hàng năm của xã hội càng nhiều càng tốt. Nói chung, anh ta không dự định làm tăng quyền lợi chung, cũng như không hề biết mình đang làm tăng nhiều bao nhiêu. Bằng cách chuộng sự ủng hộ công nghiệp trong nước hơn là công nghiệp nước ngoài, anh ta chỉ dự định vì sự an toàn của chính mình, và bằng cách điều khiển công nghiệp ấy theo cách chẳng hạn như sản phẩm của nó có giá trị cao nhất, anh ta chỉ dự định kiếm cho riêng mình, và trong trường hợp này cũng như trong nhiều trường hợp khác, anh ta được dẫn dắt bằng bàn tay vô hình để thúc đẩy mục đích vôh không phải là bộ phận trong dự định của anh ta. Luôn không phải là điều tệ hơn đối với xã hội không phải là bộ phận của nó. Bằng cách theo đuổi quyền lợi của riêng mình, anh ta thường thúc đẩy những gì của xã hội có hiệu quả hơn là khi anh ta thực sự có dự định thúc đẩy xã hội. Tôi không hề biết công việc làm rất tốt bởi những người làm ra vẻ kinh doanh vì thương gia, và cần sử dụng thật ít lời trong việc khuyên can họ đừng nên làm (Wealth of Nations, trang 423).
 

5. Tính vô ích trong kế hoạch hóa tập trung

Đoạn văn khác chỉ trích tính vô ích trong kế hoạch hóa tập trung, sự vô lý của chủ nghĩa quan liêu và nhà chính trị:

“Con người trong hệ thống... có thể rất sáng suốt trong tính tự cao tự đại của chính mình, và thường được võ trang bằng vẻ đẹp chỉ là tưởng tượng về kế hoạch lý tưởng của chính phủ, rằng anh ta không thể chịu đựng sự xa rời khỏi bất kỳ bộ phận nào trong hệ thống dù là nhỏ nhất. Anh ta cứ tiếp tục xác lập kế hoạch hoàn hảo, trong tất cả các bộ phận của kế hoạch, mà không hề xét đến quyền lợi lớn cũng như định kiến ăn sâu phản đối kế hoạch. Anh ta dường như tưởng tượng rằng mình có thể sắp xếp những thành viên khác nhau trong một xã hội lớn với sự thanh thản như bàn tay sắp các quân cờ vốn không có nguyên tắc di chuyển nào khác ngoài bàn tay đang ép buộc chúng, nhưng trong bàn cờ xã hội con người rộng lớn, thì mỗi quân cờ đều có nguyên tắc di chuyển của riêng mình, khác với những gì mà cơ quan lập pháp có thể chọn để áp đặt lên quân cờ”. (Theory of Moral Sentiments, trang 380-381).

Những đoạn này cho thấy sự lên án của Smith cho rằng sự hài hòa tự nhiên tồn tại trong thế giới kinh tế khiến cho chính phủ can thiệp vào hầu hết các vấn đề vừa không cần thiết và vừa không mong muốn. Bàn tay vô hình, thuyết tự do tự nhiên, sự uyên thâm của Chúa (được nhìn thấy ngay cả trong hành động điên rồ của con người) là tất cả bộ phận của lý luận. Nhưng có một nền tảng vững chắc hơn là thuyết siêu hình. Có lý luận theo thực nghiệm mà Smith cũng dựa vào để buộc tội chính phủ là không có năng lực trên thực tế và làm cơ sở cho sự trơ tráo phi lý của người quan liêu bảo cho chúng ta phải làm gì trong những lĩnh vực nơi chúng ta biết chắc quyền lợi của mình nhiều hơn bất kỳ người nào khác. Trong quan điểm này, có sự phân chia ảnh hưởng rõ ràng giữa Adam Smith với nhà vô địch đương đại, Milton Friedman.

LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm)