1. Bối cảnh ra đời của học thuyết về lợi thế tuyệt đối 

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, nửa cuối thế kỉ XVIII thế giới chứng kiến sự suy tàn của chủ nghĩa trọng thương và sự hình thành trường phái kinh tế chính trị tư sản cổ điển. Sự suy tàn này bắt nguồn từ những lý do: Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất, thời kì tích lũy nguyên thủy của chủ nghĩa tư bản đã chuyển sang thời kì sản xuất tư bản chủ nghĩa, trọng tâm lợi ích của giai cấp tư sản đã chuyển từ lĩnh vực lưu thông sang lĩnh vực sản xuất. Thực tiễn đó đòi hỏi cần có lý thuyết phân tích sâu sắc sự vận động của nó và đưa ra những biện pháp nhằm làm giàu cho giai cấp tư sản; Chủ nghĩa trọng thương với những quan điểm phiến diện đã hạn che tự do thương mại và điều này mâu thuẫn với lợi ích của đông đảo tầng lóp tư bản công nghiệp, nông nghiệp và nội thương. Với sự tan rã của chủ nghĩa trọng thương, các học thuyết kinh tế mới thuộc trường phái kinh tế chính trị tư sản cổ điển như chủ nghĩa trọng nông ở Pháp, học thuyết về lợi thế tuyệt đối của Adam Smith... ra đời và phù hợp với giai đoạn phát triển mới của chủ nghĩa tư bản.

Từ giữa thế kỉ XVIII, kinh tế các nước Tây Âu có nhiều thay đổi đáng kể:

-   Cuộc cách mạng công nghiệp tâm điểm từ Anh phát triển mạnh. Cuộc cách mạng công nghiệp đã biến các nước này từ nền kinh tế sản xuất thủ công sang nền kinh tế với công trường, xí nghiệp, nhà máy sử dụng máy móc. VỊ trí của giai cấp tư sản công nghiệp trở nên quan trọng hơn thay thế cho vị trí của thương nhân trước đây;

-     Từ một xã hội nông nghiệp đơn giản phát triển thành một xã hội kinh tế phức tạp với nhiều ngành nghề khác nhau;

-   Hoạt động thương mại quốc tế được mở rộng với nhiều quốc gia trên thế giới, không chỉ bó hẹp trong phạm vi thuộc địa - chính quốc, không dựa trên cơ sở frao đổi không ngang giá.

Các nước Nam Mỹ không còn là thuộc địa của Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và các nước châu Âu khác, Hoa Kỳ, Canada không còn là thuộc địa của Anh và các nước châu Âu khác... Vì thế, địa vị của các quốc gia này trong thương mại quốc tế cũng thay đổi dẫn đến việc họ không chấp nhận bị thiệt khi trao đổi;

-    Mặt hàng xuất khẩu đa dạng hơn (thay cho len và lúa mì là những sản phẩm chế biến như vải dệt, vật dụng bằng sắt, da thuộc, than...);

-    Hệ thống ngân hàng phát triển, hệ thống thương phiếu ra đời và bắt đầu phát hành tiền tệ;

-    Vai trò của các doanh nghiệp được đề cao và họ có quyền tự quyết các vấn đề liên quan đến hoạt động sản xuất của mình mà không phải chịu sự kiểm soát của chính quyền địa phương, giáo hội hay quân đội.

Trong bối cảnh đó, học thuyết về lợi thế tuyệt đối của Adam Smith ra đời. Các nhà kinh tế học thời kì này, trong đó có Adam Smith chuyển dần đối tượng nghiên cứu từ lưu thông sang sản xuất, nghiên cứu các vấn đề kinh tế của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa.

Adam Smith (1723 - 1790) là nhà kinh tế chính trị cổ điển ở Anh. Tác phẩm tiêu biểu “để đời” của ông: “Của cải của các dân tộc” (The wealth of nations -1776). Tác phẩm thể hiện Adam Smith chịu ảnh hưởng của học thuyết trọng thương, nhưng ông nhìn ra được những hạn chế của học thuyết này và nêu lên những quan điểm mới của mình về thương mại quốc tế.

 

2. Quan điểm chính của học thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith

Căn cứ vào thực tiễn phát triển kinh tế thời kì cách mạng công nghiệp bắt đầu bùng nổ và lan rộng, Adam Smith đã phê phán tính phiến diện của học thuyết trọng thương, đồng thời đưa ra những luận điểm mới của mình, ông cho rằng sự giàu có của mỗi quốc gia không chỉ được đo bằng số lượng vàng, kim loại quý tích trữ được, mà chủ yếu là do số hàng hóa và dịch vụ được sản xuất ra, mà giá trị của hàng hóa do lao động quyết định (lý thuyết giá trị - lao động).

Khi giải thích hiện tượng thưong mại quốc tế, Adam Smith cho rằng buôn bán ngoại thương muốn bền vững phải mang tính chất bình đẳng (trao đổi ngang giá) và mang lại lợi ích cho cả hai bên. Việc trao đổi hàng hóa căn cứ trên cơ sở chi phí sản xuất ra hàng hóa đó.

Adam Smith trên cơ sở ủng hộ tự do thương mại, tự do sản xuất kinh doanh cho rằng: mỗi quốc gia nên chuyên môn hóa trên phạm vi quốc gia và quốc tế. Một nước sẽ có lợi nếu tập trung chuyên môn hóa sản xuất những sản phẩm mà mình có lợi thế tuyệt đối (bao gồm cả lợi thế tự nhiên và lợi thế do tay nghề), tức lầ sản phẩm có chi phí sản xuất tính theo giờ công quy chuẩn thấp hơn, rồi bán ra nước ngoài, trao đổi lấy những sản phẩm khác mà các quốc gia nước ngoài có lợi thế tuyệt đối. Sản xuất và trao đổi sản phẩm dựa trên cơ sở lợi thế tuyệt đối sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cho cả quốc gia xuất khẩu lẫn quốc gia nhập khẩu và nhờ vậy có lợi cho cả thế giới nói chung.

Trong tác phẩm “Của cải của các dân tộc”, Adam Smith đã ví các quốc gia với các hộ gia đình. Phương ngôn của mọi người chủ gia đình khôn ngoan là không bao giờ tự sản xuất lấy những gì mà nếu đi mua sẽ được rẻ hơn. Người thợ may không khi nào hì hục đóng đôi giày, mà thường đi mua ở người thợ giày. Và người thợ giày cũng không cần loay hoay cắt may mà nhờ anh thợ may may hộ. Người nông dân không tự làm lấy hai thứ trên, mà nhờ vào các tay thợ khéo. Mọi người đều sẽ có lợi khi chăm chủ làm công việc mình có lợi thế hơn láng giềng và dùng một phần số sản phẩm của mình hay tiền bán được số sản phẩm ấy để đi mua mọi thứ cần dùng khác.

Về vai trò của Nhà nước, Adam Smith coi trọng “Bàn tay vô hình”, tức: Nhà nước không nên can thiệp vào nền kinh tế nói chung, hoạt động thương mại nói riêng, mà để chúng tự vận động theo các quy luật kinh tế khách quan. Adam Smith quan niệm hệ thống các quy luật kinh tế khách quan đó là một “trật tự tự nhiên”. Nền kinh tế cần phải được phát triển trên cơ sở tự do kinh tế (tự do sản xuất, tự do liên doanh, liên kết, tự do mậu dịch). Hoạt động sản xuất và lưu thông hàng hóa được phát triển theo sự điều tiết của bàn tay vô hình. Vì vậy, Nhà nước nên hạn chế can thiệp vào nền kinh tế càng nhiều càng tốt. Vai trò của Nhà nước chỉ nên là tối thiểu với ba chức năng chính: đảm bảo hòa bình để phát triển kinh tế, vai trò của một người bảo hộ tạo môi trường tự do cạnh tranh cho các quy luật kinh tế khách quan hoạt động, cung ứng hàng hỏa công cộng: an ninh, quốc phòng, giao thông...

 

3. Ví dụ về lợi thế tuyệt đối theo học thuyết của Adam Smith

Adam Smith đã sử dụng mô hình thương mại giản đơn để giải thích thương mại quốc tế có lợi như thế nào với mỗi quốc gia tham gia.

Trong mô hình của mình, ông giả thiết: Thế giới bao gồm 2 quốc gia (ở đây chúng ta ví dụ là A và B), mỗi quốc gia sản xuất hai mặt hàng giống nhau (ở đây chúng ta ví dụ là Lúa mì và vải); chi phí vận chuyển bằng 0; lao động là yếu tố sản xuất duy nhất, dịch chuyển tự do giữa các ngành trong cùng một nước, không dịch chuyển giữa các quốc gia; cạnh hanh hoàn hảo tồn tại trên tất cả các thị trường.1

Bảng về Năng suất lao động của hai quốc gia A, B

 

Nước A

Nước B

Lúa mì (kg/lđvlđ)

12

6

Vải (m/lđvlđ)

5

10

Theo bảng trên, nước A có lợi thế tuyệt đối trong sản xuất Lúa mì, vì với cùng 1 đơn vị lao động (đvlđ), nước A sản xuất ra nhiều lúa mì (12kg) hơn so với nước B (6kg). Tương tự, nước B có lợi thế tuyệt đối trong sản xuất vải, vì với cùng 1 đơn vị lao động, nước B sẫn xuất ra nhiều vải (10m) hơn so với nước A (5m).

Hai quốc gia tiến hành trao đổi các mặt hàng mình có lợi thế tuyệt đối lấy mặt hàng không có lợi thế tuyệt đối. Giả thiết tỉ lệ trao đổi quốc tế là 1:1. Nếu nước A lấy 12kg lúa mi đổi lấy 12m vải của nước B, thì nước A sẽ có lợi 7m vải, vì trong nội địa nước A chỉ có thể đổi 12kg lúa mì lấy 5m vải mà thôi. Tưong tự như vậy, nếu nước B nhận từ nước A 12kg lúa mì, thì nước B đã không phải mất 2đvlđ để sản xuất lúa mì trong nước (do mỗi đvlđ nước B chỉ sản xuất được 6kg lúa mì), với thời gian đó, nước B chỉ tập trung cho sản xuất vải thì sẽ được 20m (2đvlđ X 10m). Trong đó, 12m dùng để trao đổi với nước A, còn 8m là lợi ích thuộc về nước B. Lúc này, cả thế giới sẽ lợi thêm 7m + 8m = 15m vải so với không có trao đổi thưong mại.

Vậy, cả hai quốc gia đều có lợi hon so với khi không có trao đổi thưong mại quốc tế, nhờ vào việc chuyên môn hóa sản xuất và xuất khẩu sản phẩm mình có lợi thế tuyệt đối. Và nhờ đó mang lại lợi ích chung cho thế giới.

 

4. Đánh giá học thuyết về lợi thế tuyệt đối của Adam Smith

4.1 Ưu điểm học thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith

Học thuyết về lợi thế tuyệt đối là bước tiến bộ vượt bậc so với thuyết trọng thưong, giải thích bản chất kinh tế và ích lợi trong thưong mại quốc tế, giải thích được sự phát triển của thưong mại quốc tế hai chiều giữa các quốc gia thời kì đầu công nghiệp hóa ở châu Âu.

Học thuyết đã được các quốc gia sử dụng trong một số trường hợp, lợi thế tuyệt đối là cơ sở để các quốc gia xác định hướng chuyên môn hóa và trao đổi các mặt hàng trong thương mại quốc tế.

Học thuyết khuyến khích tự do thương mại, tự do định giá ữao đổi, có tác dụng lành mạnh hóa và thúc đẩy thương mại quốc tế phát triển.

 

4.2 Nhược điểm học thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith

Chỉ giải thích được một phần thương mại quốc tế giữa các nước đều phải có lợi thế tuyệt đối nhưng khác nhau về mặt hàng có lợi thế (chủ yếu là các nước công nghiệp thời kì đầu của cuộc cách mạng công nghiệp) mà không giải thích được quan hệ thương mại giữa các nước công nghiệp (có lợi thế tuyệt đối ở hầu hết các mặt hàng) với các nước đang phát triển (hầu như không có lọi thế tuyệt đối ở mặt hàng nào hoặc có rất ít lợi thế tuyệt đối).

Học thuyết được xây dựng dựa trên cơ sở thương mại hàng hóa: hàng đổi hàng giản đơn, trong khi thương mại quốc tế ngày nay còn gồm cả thương mại dịch vụ.

Học thuyết chưa tính toán hết được các yếu tố trong thương mại quốc tế như vận tải, văn hóa, sở thích...

Luật Minh KHuê (tổng hợp & phân tích)