1. Adam Smith bàn về Nhân tính

Tính không hiệu dụng trong kiểm soát và sự khao khát tự do tự nhiên thậm chí trở thành hấp dẫn hơn khi chúng ta nghiên cứu cơ chế định hướng xã hội của Smith. Smith không phải là người theo chủ nghĩa duy lý cứng nhắc cũng không phải là một người mơ mộng vẩn vơ. Ông là người theo thuyết duy thực cứng đầu dẫn dắt con người khi ông phát hiện họ và ông đặt nền tảng phân tích xã hội của ông về tính chất không thay đổi của con người. Theo Smith, có hai đặc điểm bẩm sinh về tâm lý học con người. Đặc điểm thứ nhất là trong tư cách con người chúng ta chủ yếu quan tâm đến những vấn đề gần với mình nhất, ít quan tâm đến những gì ở xa (về thời gian lẫn không gian), vì thế, tất cả chúng ta đều có ý nghĩa quan trọng đối với bản thân mình:

“Mỗi người... trước hết và chủ yếu được đề nghị chăm sóc cho chính mình, và mỗi người chắc chắn trong mọi lĩnh vực đều thích hợp hơn và có khả năng hơn để chăm sóc cho chính mình hơn bất kỳ người khác”. (Theory of Moral Sentiments, trang 359).

Đặc điểm thứ hai, thực ra là hệ quả được suy luận ra của đặc điểm thứ nhất, đó là mong muốn quá mạnh của mỗi người để cải thiện điều kiện của mình:

"... mong muốn cải thiện điều kiện của chúng ta [là] một mong muốn, mặc dù nói chung là điềm tĩnh và vô tư, đến với chúng ta từ bào thai, và không bao giờ rời chúng ta cho đến khi chúng ta đi xuống mồ. Trong khoảng thời gian cách quãng ngăn cách hai thời điểm này, có lẽ hiếm khi có một khoảnh khắc duy nhất trong đó bất kỳ con người nào cũng đều hài lòng hoàn toàn và trọn vẹn với tình trạng của mình, như không hề có bất kỳ mong muốn nào thay đổi hay cải thiện thuộc tất cả mọi loại”. (Wealth of Nations, trang 324-325).

2. "Con người là tư lợi"

Theo nghĩa hẹp hơn, con người là tư lợi, tư lợi ở đây không hẳn đồng nghĩa với ích kỷ. Con người “kinh tế” của Smith trong tác phẩm The Wealth of Nations không phải là khác với con người “luân lý” của ông trong tác phẩm The Theory of Moral Sentiments. Cả hai đều là sinh vật tư lợi. Trong tác phẩm The Theory of Moral Sentiments, sự đồng cảm là năng lực của con người duy trì tư lợi trong kiểm soát, trong khi trong tác phẩm The Wealth of Nations, sự cạnh tranh là năng lực kinh tế kiềm chế tư lợi. Thực ra, sự cạnh tranh đảm bảo rằng theo đuổi tư lợi sẽ cải thiện phúc lợi kinh tế của xã hội. Trong thời đại Smith, đây là một quan điểm theo chủ nghĩa Tự do, vì ngụ ý rằng một xã hội không có sự kiểm soát mở rộng của chính phủ sẽ bị thoái hóa thành những vụ hỗn loạn, giả định là như thế. Trái lại độc quyền tượng trưng cho tư lợi không bị kiềm chế và sự phá hoại phúc lợi kinh tế tiếp theo sau. Mặc dù tất cả những người bán hàng hóa và làm dịch vụ thích đưa ra giá cao nhất có thể đối với hàng hóa và kỹ năng của họ, nhưng thường thì họ không thể đạt được, trừ phi họ có đặc quyền độc quyền, trong thời đại của Smith do chính phủ cấp. Sự cạnh tranh, hay sự vắng mặt độc quyền sẽ buộc tất cả những người bán giảm giá của họ (trong giới hạn) để thu hút thêm nhiều khách hàng, và kết quả tự nhiên của hành động đó là giá tiêu dùng thấp hơn và cải thiện phúc lợi kinh tế. Đối với nhà kinh tế học, một số đoạn văn đáng nhớ nhất của Smith bao gồm lời tố cáo kịch liệt chống lại đặc quyền độc quyền. Một trong những câu nói nổi tiếng của ông “Con người trong cùng ngành nghề hiếm khi gặp nhau, thậm chí để vui chơi và tiêu khiển, nhưng cuộc chuyện trò chấm dứt trong âm mưu chống lại công chúng hay trong một số thủ đoạn nâng giá” (Wealth of Nations, trang 128). Đoạn khác ông nhận xét:

“Sự độc quyền... là kẻ thù lớn đối với việc quản lý hiệu quả, vốn không bao giờ được xây dựng rộng khắp mà trong kết quả của sự cạnh tranh đều khắp và tự do buộc mọi người phải cầu viện nó vì lợi ích của sự tự vệ” (Wealth of Nations, trang 147).

3. Tư lợi, sự phát triển quyền sở hữu tài sản và phân công lao động

Trong quan điểm của Adam Smith, tư lợi, sự phát triển quyền sở hữu tài sản, và phân công lao động tất cả đều hòa quyện với nhau trong tiến trình lịch sử tăng trưởng kinh tế. Nhận thức đúng thực tế này là điều quan trọng đối với việc tìm hiểu kinh tế vĩ mô của Smith trong “thời đại thương mại”.

Lịch sử văn minh theo khái niệm của Smith nhận dạng bốn giai đoạn tiến hóa. Hai giai đoạn đầu là giai đoạn săn bắn và chăn thả của các nền văn hóa du cư, tiền Phong kiến. Hai giai đoạn tiếp theo là giai đoạn trồng trọt, và sau cùng là giai đoạn thương mại. Mỗi giai đoạn được đánh dấu bằng một cấu trúc quyền sở hữu tài sản có phần khác biệt. Nền văn hóa săn bắn không thừa nhận quyền sở hữu tài sản độc quyền. Mọi thành viên trong xã hội đều giữ đúng địa vị tương đối bình đẳng, về kinh tế lẫn xã hội, ít có nhu cầu về một cấu trúc chính phủ dân sự trang trọng vì dân số còn ít và sống du cư. Trong một nền văn hóa như thế, người cao tuổi và hiểu biết thường giữ vai trò lãnh đạo, sự phục tùng tự áp đặt cho phần xã hội còn lại khi đối mặt với kinh nghiệm và tri thức cấp cao.

Qua thời gian, tư lợi mang lại sự tiến hóa chính trị xã hội quan trọng và tăng trưởng kinh tế. Xã hội dân sự phát triển một phạm vi lớn là kết quả của tài sản cá nhân và sự tích lũy của cải. Smith xem vai trò chủ chốt của những người chăn cừu trong giai đoạn lịch sử chăn thả:

“Chính trong thời đại của những người chăn cừu, trong giai đoạn hai của xã hội, mà sự bất bình đẳng về của cải lần đầu tiên bắt đầu diễn ra, và mở đầu mức độ uy quyền và lệ thuộc không thể tồn tại trước đó. Do đó mở đầu một số mức độ của chính phủ dân sự rất cần thiết để duy trì chính nó... Chính phủ dân sự trong phạm vi được hình thành nhằm bảo vệ tài sản, thực ra được hình thành để bảo vệ người giàu chống lại kẻ nghèo, hay bênh vực những người có một số tài sản so với người không có gì cả”. (Wealth of Nations, trang 674).

Nói cách khác, trong xã hội dân sự một hệ thống thứ bậc của cải dẫn đến thứ bậc quyền lực với những thứ trang bị quen thuộc, cha truyền con nối nắm quyền lực, các triều đình, và cứ tiếp diễn như thế. Người nghèo trong cấu trúc này nguyện trung thành để đổi lấy sự che chở của người giàu.

Sau cùng, các nền văn hóa du cư có khuynh hướng được thay bằng cộng đồng sống cố định bằng nông nghiệp. Với đời sống định cư này lượng cung cấp lương thực ổn định hơn, sự chuyên môn hóa gia tăng và dân số đông hơn. Trong thời Trung cổ, loại xã hội này được bọc vào cấu trúc định chế gọi là chế độ Phong kiến. Chính phủ dân sự trong chế độ phong kiến phân quyền nhiều đến mức mỗi Nam tước cai quản thái ấp thi hành luật pháp ngay trong lãnh địa của mình, ở châu Âu, hệ thống này kéo dài từ khi đế quốc La Mã sụp đổ cho đến khoảng cuối thế kỷ 15. Cấu trúc hiện vẫn đang tồn tại ở một số nước thuộc thế giới thứ ba.

4. Smith giải thích về sự phát triển xã hội

Vì tư lợi là nguyên nhân tạo ra sự quá độ từ xã hội du cư sang xã hội nông nghiệp, vì thế Smith dùng để giải thích cho sự phát triển xã hội thương mại với sự phát triển các thành phố sau này như các trung tâm thương mại. Trong giai đoạn sau khi La Mã sụp đổ, thương gia và thợ cơ khí thành thị đóng thuế bằng mức với nông dân ở thôn quê. Thế nhưng khi cư dân thành thị độc lập nhiều hơn, thì họ tiếp tục được miễn một số “thuế kinh doanh”. Vì thế họ xuất hiện như một giai cấp “thương gia tự do” ban đầu, và quả thật, họ là những nhà Tư bản đầu tiên. Dân thành thị thường liên minh với nhà vua chống lại một kẻ thù chung đó là Nam tước có đất. Nhà vua thường ban cấp nhượng địa cho thành phố để đổi lại việc họ liên minh với nhà vua chống lại các chúa đất phong kiến, và sự độc lập tài chánh có thể đạt được ở các thành phố để đổi lấy tiền thuế đóng một lần cho nhà vua. Những phát triển này dẫn đến sự tự quản trong các thành phố và sự hình thành sự thống trị của pháp luật sau đó, đến lượt pháp luật cung cấp một cơ sở vững chắc để mở rộng thương mại, nhất là ở các thành phô' ven biển. Thương mại phát triển đến lượt làm cho thành phố thậm chí không còn phụ thuộc nhiều vào thái ấp nữa. Sau cùng, thành phố trở thành nơi trú ngụ của những nhà Tư bản thiếu kinh nghiệm vì luật thành phố bảo vệ nông nô bỏ trốn miễn là họ tránh bị bắt trong một năm. Smith nhấn mạnh khuynh hướng này trong đoạn văn sau:

“Nếu trong tay của một người trồng trọt nghèo, với thân phận nông nô bị áp bức, tích lũy được một ít gia súc, dĩ nhiên anh ta phải giấu chủ đất rất kỹ nếu không thuộc về mình thì cũng là cơ hội đầu tiên để anh ta chạy về thành phố trốn”. (Wealth of Nations, trang 379).

Thân phận nông nô là một định chế trong đó nông dân bị ràng buộc với ruộng đất và nợ một lượng lao động nhất định với chủ đất. Nhưng khi tích lũy được một ít thặng dư họ nhận thấy mình có thể “mua lại” nghĩa vụ này bằng cách trả tiền thuê đất cho chủ đất để thay cho công lao động. Trước tiên, sản phẩm thặng được trao đổi lấy tiền ở các chợ ngũ cốc địa phương, sau đó tiền dùng để “thay thế” nghĩa vụ lao động của họ. Điều này thường xảy ra trong tình huống trong đó nông dân gần như là thương nhân nhỏ, độc lập. Anh ta có thể thuê đất của chủ, bán sản phẩm để trang trải tiền thuê đất, và giữ khoảng chênh lệch cho bản thân. Kết quả lũy tích của hành vi này là làm xói mòn những ràng buộc truyền thống của thái ấp và thay thế thị trường, tìm kiếm lợi nhuận như một nguyên tắc sản xuất. Vào giữa thế kỷ 14, tiền thuê đất vượt quá giá trị công lao động ở nhiều nơi thuộc châu Âu.

Lãnh chúa muôn hợp tác với sự sắp xếp định chê' mới, một phần là do sự thay đổi trong mẫu tiêu dùng của họ, đòi hỏi phải tăng thêm lượng tiền mặt để mua “hàng rẻ tiền” và hàng xa xỉ ở các thương gia thị thành. Trước kia, lãnh chúa cai quản thái ấp chỉ là một chủ đất đơn thuần theo nghĩa hiện đại, chẳng bao lâu sau một “thị trường” về đất đai xuất hiện dựa trên quyền sở hữu tài sản cá nhân và sự hỗ trợ của luật hợp đồng. Từ quan điểm này, chỉ còn một bước ngắn dẫn đến sự chuyên môn hóa và phân công lao động - đặc điểm của thời đại công nghiệp.

Tóm lại, sự tăng trưởng kinh tế cho đến khi xuất hiện “hệ thống thương mại” là kết quả tương tác tư lợi, bổ sung quyền sở hữu tài sản và sự thay đổi định chế theo nghĩa rộng. Với hệ thống thương mại vào năm 1776, Smith dựa vào đó để phát biểu sự tăng trưởng kinh tế phải phụ thuộc vào biện pháp tới hạn phát triển chuyên môn hóa và phân công lao động. Chúng ta sẽ trở lại vai trò trung tâm của hai nguyên tắc như nhau này sau khi xem những cơ sở kinh tế vi mô của thuyết tăng trưởng của Smith.

5. Tác phẩm The Wealth of Nations

Thật khó để có thể đánh giá một quyển sách khi chưa xem qua nó, trong trường hợp tác phẩm The Wealth of Nations, việc đọc quyển sách này quả là một công việc đáng khâm phục. Việc đọc tác phẩm The Wealth of Nations là nhiệm vụ mà mỗi sinh viên khoa kinh tế nên tìm đọc (ít nhất là một lần). Vì quyển sách chứa đựng rất nhiều nội dung khác ngoài sự công kích chủ nghĩa Trọng thương (độc quyền) nổi tiếng của Smith và sự biện hộ của ông về tự do tự nhiên (bất can thiệp), chính vì điểm này mà quyển sách mới trở nên nổi tiếng. Rõ ràng, đây là một tác phẩm rất tuyệt, nếu xét theo tiêu chuẩn của thế kỷ 20, không phải là tác phẩm kinh điển nở hoa muộn màng mà còn nhiều chuyên luận kinh tế khác. Rất nhiều người đọc và trích dẫn ngay cả lúc Smith còn sinh thời.

Đôi khi phần nào ít đọc nhất lại là phần thú vị nhất khi Smith lạc đề về lịch sử giáo dục thời Trung cổ hay phương pháp chọn giám mục trong nhà thờ thời cổ đại. Bất kể những vấn đề lạc đề này, The Wealth of Nations vẫn chứa đựng phân tích kinh tế xác đáng và quan trọng.

Phần duyệt tóm tắt nội dung quyển The Wealth of Nations cho thấy xử lý rất rộng. Tập I, nghiên cứu về phân công lao động, nguồn gốc và sử dụng tiền tệ, và xác định giá cả, tiền lương, lợi nhuận và tiền thuê đất, và sự lạc đề sinh động về những biến đổi trong giá trị của bạc. Tập II đề cập lý thuyết về vốn và lãi thường bị phỉ báng của Smith. Trong tập III, ôn lại sự phát triển kinh tế ở châu Âu từ thời cổ đại đến thế kỷ 18. Tập IV đề cập những hệ thống kinh tế chính trị khác nhau kể cả sự phê bình gay gắt chủ nghĩa Trọng thương và rào cản tự do mậu dịch. Tập V kết luận bằng chuyên luận khá dài về sự đánh thuế và chính sách tài chính ở Anh thế kỷ 18. Không phải ngạc nhiên, ngày nay một số nhà kinh tế khoe rằng mình đã đọc hết toàn bộ từ đầu đến cuối kiệt tác này.

LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm)