1. Lợi nhuận và tiền lãi

Lợi nhuận và tiền lãi đều ảnh hưởng đến tiền lương. Smith nhận xét lợi nhuận chỉ bị ảnh hưởng bởi yếu tố đầu tiên và cuối cùng, nghĩa là “sự dễ chịu hay khó chịu của công việc và rủi ro hay an toàn của công việc họ tham gia”. Smith xem lợi nhuận là tiền lời đối với Tư bản hơn là thu nhập đối với doanh nghiệp, vì thế thuyết lợi nhuận của ông bị lỗi thời nếu xét theo tiêu chuẩn đương đại. Thực ra, Smith đưa ra khả năng hiểu biết hữu dụng vào trong tiến trình tạo ra lợi nhuận hơn là thuyết nói về lợi nhuận phát sinh ra sao. Đặc điểm chính của lợi nhuận, theo Smith, là sự không chắc chắn của nó:

“Lợi nhuận thường dao động đến mức người đang tiến hành một nghề cụ thể không thể biết trung bình lợi nhuận hàng năm của mình là bao nhiêu. Lợi nhuận bị ảnh hưởng, không những bằng chính sự biến động giá cả hàng hóa mà anh ta thường mua, mà trong vận may xấu tốt của đối thủ lẫn khách hàng của anh ta, và cả ngàn rủi ro khác đối với hàng hóa vận chuyển bằng đường bộ hay đường biển, hay thậm chí khi trữ trong nhà kho đều có khả năng bị rủi ro. Vì thế, lợi nhuận thay đổi không những từ năm này sang năm khác, mà còn thay đổi theo từng ngày, và gần như thay đổi theo từng giờ. Muốn biết chắc lợi nhuận trung bình là bao nhiêu của mọi loại nghề nghiệp đang hành nghề trong vương quốc rộng lớn, còn khó hơn rất nhiều, và phải đánh giá điều gì có thể xảy ra trước kia, hay trong những khoảng thời gian xa xưa, với bất cứ độ chính xác nào, toàn bộ đều không thể thực hiện”. (Wealth of Nations, trang 87).

 

2. Adam Smith đánh giá lợi nhuận một cách tổng hợp

Vấn đề Smith nêu ra là cách đánh giá lợi nhuận tổng hợp, tiền lãi được xem là đại diện cho lợi nhuận. Smith định nghĩa lợi nhuận như “thu nhập lấy từ vốn [nghĩa là Tư bản] của người quản lý hay sử dụng vốn”, trong khi tiền lãi ông định nghĩa như thu nhập lấy từ vốn “bởi người không sử dụng vốn cho chính mình, mà chỉ vay giùm cho người khác”. Nhận thức về lợi nhuận của Smith phát sinh như tổng số hai khoản thanh toán: (1) tiền lời của phần vốn ứng trước và (2) đền bù gánh chịu rủi ro. Chỉ riêng tiền lãi không thôi không thể giải thích mọi lợi nhuận, mặc dù đây là chỉ báo lợi nhuận hữu hiệu. Vì thế Smith nhận xét:

“Do đó... khi lãi suất thị trường bình thường thay đổi ở mọi nước, thì chúng ta chắc chắn rằng lợi nhuận thông thường của vốn phải thay đổi theo, phải hạ khi lãi suất này hạ, và tăng khi lãi suất này tăng. Vì thế, diễn tiến của tiền lãi khiến chúng ta hình thành quan niệm về diễn tiến của lợi nhuận”. (Wealth of Nations, trang 88).

 

3. Một số bổ sung về khái niệm lợi nhuận và tiền lãi

Ngoài vấn đề vừa đề cập trên, Smith bổ sung một số obiter dicta (lời bàn thêm) vào khái niệm lợi nhuận và tiền lãi. Ông cho rằng, “Lãi suất thông thường thấp nhất phải luôn là một điều gì đó nhiều hơn những gì xem là đủ để bù cho sự thiệt hại thỉnh thoảng đôi với mỗi việc làm mà vốn hướng vào. Chính sự thặng dư là lợi nhuận ròng hay lãi tịnh”. Vì lẽ ấy, Smith tuyên bố rằng:

“Lãi suất thông thường thấp nhất phải... ở mức nào đó nhiều hơn mức vừa đủ để bù vào những thiệt hại thỉnh thoảng nên hướng đến việc vay mượn nào, ngay cả với việc thật thận trọng. Nếu không gì hơn là lòng hảo tâm hay tình hữu nghị có thể là động cơ duy nhất để cho vay”. (Wealth of Nations, trang 96).

“Việc tăng vốn, để nâng lương, có khuynh hướng làm giảm lợi nhuận. Khi nguồn vốn của nhiều thương gia giàu có hướng vào cùng một nghề, thì sự cạnh tranh lẫn nhau của họ tự nhiên có khuynh hướng làm giảm lợi nhuận, và khi có sự gia tăng nguồn vốn trong tất cả các nghề khác tiến hành trong cùng một xã hội, thì sự cạnh tranh phải tạo ra cùng một tác dụng”. (Wealth of Nations, trang 87).

Người ta thường cho rằng Smith xem lợi nhuận như phần thặng dư, có lẽ bởi vì quan điểm này được môn đệ hàng đầu của Smith ở nước Anh là David Ricardo lựa chọn. Tuy nhiên, đoạn trích sau đây từ chương sách của Smith viết về lợi nhuận không thừa nhận “sự hiểu biết quy ước” này:

“Trong thực tế lợi nhuận cao thường có khuynh hướng nâng giá công việc nhiều hơn là lương cao... Thương gia và những bậc thầy sản xuất của chúng ta than phiền nhiều về tác dụng xấu của lương cao trong việc nâng giá, và do cách ấy làm giảm doanh số bán hàng trong nước lẫn ngoài nước. Họ không nói gì về tác dụng xấu của lợi nhuận cao”. (Wealth’ of Nations, trang 97-98).

Nếu lợi nhuận là phần thặng dư, thì không chắc nó có thể xác định giá như đoạn văn trên trình bày. Nhưng chúng tôi chừa lại cho các bạn xác định xem thực ra Smith muốn nói gì về vấn đề lợi nhuận. Tuy nhiên, chúng ta cũng nên trở lại vấn đề lợi nhuận và tích lũy Tư bản khi nghiên cứu thiết kế tăng trưởng kinh tế vĩ mô của Smith.

 

4. Tiền thuê đất

Tiền thuê đất mà Adam Smith bàn luận xoay quanh ba yếu tố:

(1) yếu tố độc quyền, (2) quan điểm thặng dư sai biệt, và (3) phí tổn thay thế:

“Tiền thuê đất đương nhiên là giá độc quyền. Tiền này không phải theo tỉ lệ với những gì mà chủ đất đưa ra để cải thiện đất, hay với những gì mà ông ta có thể cung cấp, mà là với những gì mà chính người nông dân có khả năng cung cấp”. (Wealth of Nations, trang 145).

Smith định nghĩa tiền thuê đất đơn thuần như “giá phải trả cho việc sử dụng đất”. Số tiền thuê đất hàng năm thường được xác định theo thỏa thuận hợp đồng giữa chủ đất và tá điền, chủ đất thường ở thế áp đảo, do đó quan niệm tiền thuê đất như lợi tức độc quyền. Smith viết:

“Trong việc điều chỉnh thời hạn cho thuê, chủ đất cố gắng chừa lại cho anh ta [tá điền] phần chia sản phẩm chỉ mức vừa đủ để duy trì nguồn vốn dùng để mua hạt giống, trả tiền nhân công, mua sắm và chăn nuôi gia súc, mua sắm các công cụ khác phục vụ cho nghề nông, cùng với lợi nhuận thông thường của nguồn vốn canh tác ở lân cận. Rõ ràng đây là phần chia nhỏ nhất mà chính tá điền (người thuê đất) phải bằng lòng chứ không phải trong tư cách người thua thiệt, còn chủ đất hiếm khi dành cho tá điền nhiều hơn nữa”. (Wealth of Nations, trang 144).

Các yếu tố độc quyền khác liên quan đến việc xác định tiền thuê đất gồm sự màu mỡ và vị trí. Vì thế đất thích hợp cho một sản phẩm đặc biệt có độc quyền, chẳng hạn như vùng sản xuất rượu vang bao la vùng Côte-d’Or của Pháp hay vùng Champagne. Trong trường hợp này, Smith lưu ý số lượng đất dành cho sản xuất rượu vang quá nhỏ đến mức không thể thỏa mãn nhu cầu thực tế, đến nỗi giá thị trường của rượu vang Pháp cao hơn giá tự nhiên. Smith lập luận:

“Sự thặng dư giá cả này, trong trường hợp này và chỉ có trong trường hợp này, không hề chịu tỉ lệ cân đối với thặng dư tương tự như ở ngô hay cỏ, nhưng có thể vượt quá tỉ lệ này trong hầu hết mọi mức độ, và phần lớn số dôi ra này tự nhiên đi vào tiền thuê đất của chủ đất”. (Wealth of Nations, trang 155).

Tiền thuê đất theo quan điểm của Adam Smith rõ ràng là sự trả tiền dư. Đây là bộ phận trong sản xuất hàng năm còn lại sau khi trừ đi các chi phí sản xuất khác kể cả lợi nhuận thông thường được thừa nhận. Như thế tiền thuê đất là giá xác định chứ không phải là sự xác định giá. Theo từ Smith dùng, tiền thuê đất “đi vào thành phần giá hàng hóa bằng cách khác với tiền lương và lợi nhuận. Tiền lương và lợi nhuận cao hay thấp là nguyên nhân của giá cao hay thấp, tiền thuê đất cao hay thấp là kết quả của nó” (Wealth of Nations, trang 145-146).

Cuối cùng, Smith cho rằng tiền thuê đất sai biệt có thể giải thích trên cơ sở phí tổn thay thế:

“Ở châu Âu, ngũ cốc (2) là nông sản chính trực tiếp dùng làm thức ăn cho con người. Vì thế ngoại trừ trong những tình huống đặc biệt, tiền thuê đất trồng ngũ cốc ở châu Âu điều tiết tất cả đất canh tác các loại cây khác. Nếu bất kỳ nước nào, lương thực loại rau thông thường và được con người ưa chuộng lấy từ một loại thực vật trồng ở vùng đất phổ biến nhất, với cùng một nền văn hóa giống nhau hay gần giống, tạo ra số lượng nhiều hơn sản lượng ngũ cốc, thì tiền thuê đất của chủ đất nhất định sẽ cao hơn nhiều”. (Wealth of Nations, trang 159).

Nói cách khác, tiền thuê đất với mục đích sử dụng cụ thể phần lớn tùy vào năng suất của đất trong cách sử dụng đất luân canh có hiệu quả nhất.

 

5. Phân công lao động

Joseph Schumpeter nhận xét về phân công lao động của Adam Smith “thực ra là yếu tố duy nhất trong tiến bộ kinh tế” (History of Economic Analysis, trang 187). Thảo luận phân công lao động của Smith trong quyển I của The Wealth of Nations cung cấp phân tích cực kỳ dễ hiểu về thu nhập từ chuyên môn hóa và các nguyên tắc trao đổi - làm nền tảng cho thuyết thị trường.

Smith mô tả thu nhập từ chuyên môn hóa và phân công lao động trong một nhà máy sản xuất kẹp:

“Một công nhân không được đào tạo... để làm nghề kẹp giấy... cũng như không quen với cách sử dụng máy móc trong nhà máy... có lẽ có thể sợ hãi, với sự cần cù tôi đã làm cả ngày được một kẹp giấy, chắc chắn không thể làm ra được 20 kẹp. Nhưng bằng phương pháp mà ngành kinh doanh này đang áp dụng, không những toàn bộ công việc là một công việc đặc biệt, mà còn chia thành nhiều ngành, trong đó một bộ phận lớn cũng là công việc đặc biệt. Một người kéo dây đồng, người khác căng dây cho thẳng, còn người thứ ba cắt dây, người thứ tư chuốt nhọn đầu, người thứ năm giữa ở đầu để gắn thêm phần đầu, để làm phần đầu cần phải có hai ba công đoạn khác nhau, lắp phần đầu vào là một công việc đặc biệt, làm trắng cây kẹp cũng là công việc đặc biệt khác, ngay cả chính trong nghề ghim kẹp vào giấy, công việc quan trọng của việc làm kẹp là bằng cách này chia ra đến 18 công đoạn khác nhau trong một số nhà máy, tất cả các công đoạn ấy đều thực hiện bằng tay, mặc dù ở các nhà máy khác cũng số nhân công này đôi lúc phải kiêm hai ba công đoạn. Tôi đã từng chứng kiến một nhà máy nhỏ thuộc loại này chỉ thuê 10 nhân công, và tại đây một người... [trung bình] làm ra 4.800 kẹp một ngày. Nhưng tất cả công nhân làm việc riêng biệt và độc lập, không ai trong số họ học nghề đặc biệt này, chắc chắn mỗi người trong số họ không thể đạt mức 20 kẹp, có thể một ngày cũng chưa xong một kẹp”. (Wealth of Nations, trang 5).

Smith kết luận có ba lợi thế trong phân công lao động, mỗi lợi thế dẫn đến của cải kinh tế nhiều hơn: (1) tăng kỹ năng và khéo léo của công nhân, (2) tiết kiệm thời gian và (3) phát minh máy móc. Lợi thế sau cùng là do sự chú ý của cá nhân vào tiêu điểm hẹp, một mục tiêu cụ thể do phân công lao động mà ra. Như Smith nhận xét: “Người ta có khả năng phát hiện những phương pháp dễ hơn và nhanh hơn để đạt đến mục tiêu nào đó, khi toàn bộ sự chú ý của họ hướng về mục tiêu duy nhất, thay vì bị phân tán sự chú ý vào nhiều mục tiêu” (Wealth of Nations, trang 9).

LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm)