1. Giá Thị trường so với giá Tự nhiên

The Wealth of Nations của Adam Smith có nội dung rất rộng. Tập I, nghiên cứu về phân công lao động, nguồn gốc và sử dụng tiền tệ, và xác định giá cả, tiền lương, lợi nhuận và tiền thuê đất, và sự lạc đề sinh động về những biến đổi trong giá trị của bạc. Tập II đề cập lý thuyết về vốn và lãi thường bị phỉ báng của Smith. Trong tập III, ôn lại sự phát triển kinh tế ở châu Âu từ thời cổ đại đến thế kỷ 18. Tập IV đề cập những hệ thống kinh tế chính trị khác nhau kể cả sự phê bình gay gắt chủ nghĩa Trọng thương và rào cản tự do mậu dịch. Tập V kết luận bằng chuyên luận khá dài về sự đánh thuế và chính sách tài chính ở Anh thế kỷ 18.

Chương 7 Tập I của tác phẩm The Wealth of Nations của Adam Smith đầy ắp những gì mà Mark Blaug gọi là:

“Loại phân tích cân bằng cục bộ vốn luôn là sinh kế của các nhà kinh tế học”. (Economic Theory in Retrospect, trang 39).

Trong chương này, Smith bàn đến giá tự nhiên và giá thị trường của hàng hóa. Về cơ bản, Smith trình bày sự phân đôi giữa giá thực tế (nghĩa là thị trường) và giá tự nhiên. Giá thực tế được xác định bằng sự tương tác giữa cung cầu trong ngắn hạn, còn giá tự nhiên là chi phí sản xuất dài hạn. Theo cách dùng từ của riêng ông:

“Giá thị trường của mọi loại hàng hóa cụ thể được điều tiết theo tỉ lệ giữa số lượng thực sự mang ra thị trường, và nhu cầu của những người muốn trả theo giá tự nhiên đối với hàng hóa, hay giá trị chung gồm tiền thuê đất, lao động và lợi nhuận phải được trả để mang hàng đến đó. Người như thế gọi là người cầu thực tế, vì có thể thích hợp khi thực hiện việc mang hàng hóa ra thị trường. Chính điều này khác với nhu cầu tuyệt đối. Một người rất nghèo, trong một số chiều hướng có thể bảo là có nhu cầu cần một cỗ xe sáu ngựa, có lẽ anh ta thích xe này, nhưng nhu cầu ấy không phải là nhu cầu thực tế, cũng như hàng hóa không bao giờ được mang ra thị trường chỉ để làm thỏa mãn”. (Wealth of Nations, trang 56).

2. Vấn đề cạnh tranh

Phân tích trên cho thấy sự tồn tại của cạnh tranh, một đối thủ cho là phải tồn tại trong số những người mua cũng như trong số những người bán cùng một sản phẩm. Hơn nữa, chính trong hiểu biết tính chất cạnh tranh và tác dụng của nó mà Smith đã tiến bộ hơn hẳn so với kinh tế học triết học Kinh viện và thật ra, ông đã đưa phân tích kinh tế đi theo đường hiện đại. Smith nhạy bén trong việc nhận biết các thực thể kinh tế của chủ nghĩa Tư bản mới xuất hiện hình thành học thuyết giá công bình không cần thiết. Thế giới “hiện đại” dựa vào sự tồn tại của sự cạnh tranh nguyên tử, ít nhiều ngụ ý phân bố quyền lực kinh tế bằng nhau. Sự phân bố quyền lực đến lượt nó tạo ra sự kiểm tra tự động đối với môi tương quan này là cơ sở trong quan điểm của Smith về điều chỉnh giá dài hạn. Chẳng hạn ông nhận xét vào bất kỳ thời điểm nào số lượng hàng hóa được cung cấp cũng đều vượt nhu cầu thực tế:

“Một số bộ phận thành phần của giá phải được trả thấp hơn giá tự nhiên của chúng. Nếu được cho thuê, thì quyền lợi của chủ đất trực tiếp thúc đẩy họ lấy lại một phần đất đai của mình, và nếu đó là tiền lương hay lợi nhuận, thì quyền lợi của người lao động trong một trường hợp, và quyền lợi của người chủ trong một trường hợp khác, sẽ thúc đẩy họ phải rút một bộ phận lao động hay tiền vốn. Số lượng mang ra thị trường chẳng bao lâu không đủ cung cấp cho nhu cầu thực tế. Tất cả những phần khác của giá sẽ tăng đến mức tự nhiên, và toàn bộ giá sẽ là giá tự nhiên”. (Wealth of Nations, trang 57).

Nói cách khác, theo Smith, giá sản phẩm không thể là sự cân bằng dài hạn trừ phi giá yếu tố cũng nằm trong sự cân bằng dài hạn. Gần 100 năm sau, nhà kinh tế học người Pháp Léon Walras mới phát triển phân tích toán học của sự cân bằng kinh tế tổng quát dựa trên cùng nguyên tắc này.

3. Tiền lương

Smith bắt đầu thảo luận tiền lương như ông đã thảo luận về giá trị, bằng cách quay trở lại “tình trạng vấn đề ban đầu xảy ra trước sự chiếm đất làm của riêng và tích lũy vốn”. Trong xã hội nguyên thủy, tiền lương được xác định bởi năng suất vì “Trong tình trạng vấn đề ban đầu ấy... Toàn bộ sản phẩm lao động đều thuộc về người lao động. Anh ta không hề có chủ đất cũng như người chủ nào chia phần vối mình”. (Wealth of Nations, trang 64).

Ngay sau khi đất trở thành tài sản cá nhân, chủ đất yêu cầu phần chia của mình đối với số sản phẩm hàng năm, ngay sau khi tích lũy Tư bản xảy ra, thì các nhà Tư bản cũng làm tương tự. Vì thế chủ đất và phân chia Tư bản trong sản phẩm của người lao động, theo Smith, thì một khi điều này xảy ra trở thành không chủ định khi lần theo những tác dụng có thể có của năng suất lao động gia tăng theo mức lương. Quan điểm của Smith trong vấn đề này không thích hợp, khi sự phát triển thuyết phân phối thu nhập sau này chứng minh. Dù sao, cũng ấn định giai đoạn phát triển của ông về khái niệm quỹ-lương cổ điển, một khái niệm đóng vai trò nổi bật trong việc tinh lọc của Ricardo, Malthus, các thuyết của Smith và nhiều người khác. Thuyết tiền lương tinh lọc hơn của Smith, chẳng hạn như thuyết này đều bao gồm thuyết quỹ-lương.

Quan điểm trả lương nổi bật trong suốt thế kỷ 18 và 19 có thể tóm tắt như sau. Sự tích lũy Tư bản khiến có thể thuê lao động, đến mức Tư bản tích lũy hình thành một ngân quỹ để duy trì lực lượng lao động. Ngân quỹ này bao gồm tiền ứng trước cho công nhân theo mức người chủ ngân quỹ (nghĩa là nhà Tư bản) mong đợi, và được quyền hoàn lại. Mặc dù khái niệm quỹ- lương không phải là nguyên bản của Smith, có thể ông cũng muốn giải thích súc tích nhất:

“ Một người cày cấy mảnh đất hiếm khi có đủ số tiền cần thiết để nuôi sống bản thân cho đến khi thu hoạch mùa màng. Cuộc sống của anh ta thường thúc đẩy anh ta đêh với nguồn vốn của người chủ, vốn cũng là nông dân nhưng thuê anh ta làm, và cũng là người không có quyền sử dụng anh ta, trừ phi ông ta muốn chia sẻ sản phẩm của người làm việc cho mình, hay trừ phi nguồn vốn của ông ta được thay bằng lợi nhuận”. (Wealth of Nations, trang 65).

Trong khái niệm quỹ-lương, Smith cũng mang đến thành phần chủ yếu của tiến trình tăng trưởng kinh tế. Sự tồn tại của quỹ lương cùng lúc là cơ sở tiết kiệm hợp lý (nghĩa là tích lũy), là giải thích tiền lương và lợi nhuận, và cũng là yếu tố quyết định tăng dân số. Thuyết cho rằng công nhân phụ thuộc vào nhà Tư bản để được cung cấp công cụ làm việc và lương thực, quần áo và nơi trú ngụ (nghĩa là “hàng hóa tiền lương đủ sống”) để tồn tại. Cách duy nhất để làm tăng dự trữ hàng hóa tiền lương là phải làm cho nhà Tư bản tiết kiệm, và cách duy nhất để làm được điều đó là phải tăng lợi nhuận, mà theo quan điểm của Smith thì đó là cách hình thành nguồn tiết kiệm duy nhất. Nói cách khác, tiền tiết kiệm phải tìm một lối ra trong tiến trình sản xuất - nếu dùng để thuê thêm nhiều công nhân, thì hàng hóa tiền lương phát triển, vì để trả lương (bình quân) cho công nhân. Vì thế công nhân phải tiêu xài nhiều hàng hóa tiền lương hơn, tổng nhu cầu tăng, và sản xuất nhiều sản phẩm hơn trong giai đoạn sản xuất kế tiếp. Trong hệ thống này, điều quan trọng cần lưu ý là tiền tệ được xem là phương tiện trao đổi chứ không phải là kho chứa giá trị. Sự tích trữ có vẻ phi lý (nghĩa là tốn kém), vì thế tất cả tiền tiết kiệm đều phải đầu tư. Nghĩa là tiền tiết kiệm đi vào quỹ-lương. Một biến dạng đặc biệt của quan điểm này về sau được gọi là “định luật Say”, đặt theo tên nhà kinh tế học người Pháp J. B. Say, ông cũng là môn đệ của Smith.

4. Thuyết tiền lương hợp đồng và thuyết "sinh kế"

Thế nhưng, ở một nơi khác, Smith đưa ra thuyết tiền lương “hợp đồng” và lại một lần nữa là thuyết “sinh kế”. Ví dụ, ông nhận xét:

“Tiền lương lao động thông thường tùy thuộc những điểm nào trong hợp đồng giữa hai bên mà quyền lợi của họ nói chung không hề giống nhau? Người lao động muốn có lương cao, trong khi người chủ muốn trả lương càng ít càng tốt. Người lao động sử dụng kết hợp để tăng lương, trong khi người chủ sử dụng kết hợp để làm giảm lương của người lao động”. (Wealth of Nations, trang 66).

Theo Smith, rõ ràng có một giới hạn thấp hơn đối với tiền lương, hay đối với hành động kết hợp của người tuyển dụng, vì “Con người luôn sống bằng công việc của mình, tiền lương của anh ta ít ra cũng đủ để anh ta nuôi sống bản thân. Thậm chí trong hầu hết trường hợp tiền lương có phần nhiều hơn, nếu không thì anh ta không thể nuôi sống gia đình, và cuộc chạy đua của những người lao động như thế không thể kéo dài vượt quá thế hệ thứ nhất”. (Wealth of Nations, trang 67-68).

Khi quỹ-lương tăng, thì lúc ấy có thể hỗ trợ một lượng dân số đông hơn, đến mức tiền lương bình quân tăng phù hợp với sinh kế, công nhân sẽ tăng về số lượng thông qua sự phát hành tiền đồng. Tuy nhiên, không thể tiếp tục không kiềm chế tăng dân số vì dân số đông hơn ngày càng tăng thêm gánh nặng đôi với quỹ-lương. Vì thế khuynh hướng dài hạn có thể hướng về mức sinh kế của tỉ lệ lương bình quân.

Một trong những giải thích nào tượng trưng cho thuyết tiền lương của Smith? Thực ra, tất cả đều gộp lại thành một, ít nhất chúng không mâu thuẫn với nhau. Khuôn khổ quỹ-lương giải thích cho khuôn khổ của toàn bộ việc trả lương, trong khi mức lương bình quân hay lương cá nhân được giải thích bằng những điều kiện cung cầu. về lâu dài, Smith xem mức lương được xác định bằng chi phí nuôi sông và tái sản xuất của công nhân. Lương bằng hiện vật là lương sinh kế nhưng “sinh kế” đơn thuần chỉ có nghĩa là trả lương tối thiểu mà công nhân cứ khăng khăng đòi cho được trước khi họ muốn sinh con. Tóm lại, lao động cũng được tạo ra bằng chi phí không đổi, đến mức đường cong cung lao động dài hạn nằm ngang ở bất cứ đồng lương nào chăng nữa luôn nhất quán với khái niệm của Smith về sinh kế. Thế nhưng, về lâu dài, mức lương có thể cao hay thấp hơn mức lương cân bằng dài hạn, vì cung cầu ngắn hạn có thể bị ảnh hưởng bởi các thỏa thuận hợp đồng, các rủi ro của tự nhiên và sự ban hành pháp luật, v.v...

Ngay cả trong thời gian dài tiền lương có khuynh hướng có thể tăng vì nhu cầu về lao động tăng thêm là nguyên nhân khiến cho tiền lương bình quân cao hơn và mang lại sự gia tăng về dân số, nhưng với một thời gian thích hợp làm chậm tăng dân số. Nói cách khác, trong một nền kinh tế đang phát triển, sự gia tăng cung lao động có thể tiếp tục làm chậm trễ sự gia tăng nhu cầu lao động.

Ngoài vấn đề mức lương tổng hợp, Smith triển khai thảo luận về “những khác biệt tiền lương cân bằng” qua đó có nghĩa là tiền lương trả thêm sinh ra bằng một số điều kiện công việc. Trong khi mức lương tổng hợp là một biến số kinh tế vĩ mô quan trọng, khái niệm sự khác biệt tiền lương cân bằng là một nghiên cứu kinh tế vi mô quan trọng. Cantillon là tác giả đầu tiên đề cập chủ đề theo cách hệ thống. Công nhân được huấn luyện tương tự và được đặt vào hoàn cảnh tương tự trong mỗi khía cạnh khác dù sao cũng hưởng lương cao hay thấp hơn tùy theo mức độ thời gian và chi phí để đạt được kỹ năng, mức độ rủi ro và nguy hiểm trong công việc, và mức độ tin tưởng cần cộ ở người lao động. Cantillon mở đầu thảo luận bằng sự tóm lược đặc điểm:

“Nghề thủ công đòi hỏi nhiều thời gian nhất trong đào tạo hoặc tính chất khéo léo và sự chuyên cần nhất, thì cần thiết phải được trả lương cao nhất. Một người thợ đóng đồ gỗ mỹ thuật có kỹ năng trong công việc của anh ta phải nhận được lương cao hơn một thợ mộc bình thường, và người thợ sửa đồng hồ giỏi phải có lương cao hơn thợ đóng móng ngựa.

Nghệ thuật và kỹ năng đi kèm với rủi ro và nguy hiểm giống như rủi ro và nguy hiểm của những người thợ đúc, thủy thủ, thợ khai mỏ bạc, v.v... phải được trả lương theo tỉ lệ với rủi ro. Ngoài sự nguy hiểm còn cần phải có kỹ năng để được trả lương nhiều hơn nữa, ví dụ phi công, tài xế, kỹ sư, v.v... Khi năng lực và sự đáng tin cần đến thì người lao động được trả lương cao hơn, như trong trường hợp thợ kim hoàn, thủ thư, thủ quỹ và những nghề khác”. (Essai, trang 21).

5. Sự không bình đẳng của tiền lương và lợi nhuận phát sinh từ tính chất của chính công việc

Trong The Wealth of Nations (Tập I, Chương 10, Phần I), Smith hoàn thiện những vấn đề này và mở rộng thảo luận về “sự không bình đẳng của tiền lương và lợi nhuận phát sinh từ tính chất của chính công việc”. Theo Smith thì:

- Tiền lương thay đổi tỉ lệ nghịch với sự dễ chịu của công việc. (“Đáng ghét nhất trong tất cả công việc, là công việc của người thi hành công vụ, tỉ lệ với số lượng công việc phải thực hiện, được trả lương cao hơn bất kỳ loại nghề nghiệp thông thường khác”).

- Tiền lương thay đổi tỉ lệ thuận với phí tổn học nghề. (“Giáo dục nghệ thuật khéo léo và những nghề tự do, vốn... buồn tẻ và tốn kém. Vì thế, tiền đền bù... của luật sư và bác sĩ phải tự do hơn nhiều, và vì thế phù hợp với điều vừa nêu”).

- Tiền lương thay đổi tỉ lệ nghịch với tính không đổi của công việc. (“Không có loại lao động có tay nghề nào... có vẻ dễ học hơn nghề thợ xây và thợ nề... Vì thế mức lương cao của lực lượng lao động này không phải là sự đền bù quá nhiều cho kỹ năng của họ, như đối với sự đền bù về tính không đổi của công việc”).

- Tiền lương thay đổi tỉ lệ thuận với sự tin tưởng đặt vào người lao động. (“Tiền lương của thợ bạc và thợ kim hoàn ở mọi nơi đều cao hơn tiền lương của nhiều nghề khác, không những ở tính chất khéo léo như nhau, mà đòi hỏi phải khéo léo hơn nhiều, tính đến quý kim mà họ được tin tưởng để giao gia công”).

- Tiền lương thay đổi tỉ lệ nghịch với xác suất thành công. (“Tư vấn pháp luật có lẽ là những người ở độ tuổi gần 40, bắt đầu làm điều gì đó bằng nghề của mình, phải nhận tiền thù lao, không những do học hành tốn kém và buồn tẻ, mà còn có hơn 20 người khác chắc hẳn không bao giờ làm bất cứ điều gì bằng nghề này”).

LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm)