1. Công ty phải tiến hành điều tra tai nạn lao động trong trường hợp nào?

Theo quy định tại Khoản 1, Điều 35 của Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015, công ty chịu trách nhiệm thành lập Đoàn điều tra tai nạn lao động cấp cơ sở để tiến hành điều tra các vụ tai nạn lao động gây mất an toàn và vệ sinh lao động, đặc biệt là các sự cố kỹ thuật gây mất an toàn và vệ sinh lao động nghiêm trọng.
Theo đó, đối với tai nạn lao động làm bị thương nhẹ hoặc nặng đối với một người lao động thuộc thẩm quyền quản lý của công ty, người sử dụng lao động phải ủy quyền bằng văn bản cho Trưởng đoàn Đoàn điều tra tai nạn. Đoàn điều tra tại cấp cơ sở cần bao gồm người sử dụng lao động hoặc người đại diện được ủy quyền, làm Trưởng đoàn, cùng với các thành viên đại diện từ Ban chấp hành công đoàn cơ sở hoặc đại diện tập thể người lao động khi chưa thành lập tổ chức công đoàn cơ sở. Thêm vào đó, Đoàn còn phải có người chuyên trách an toàn lao động, người chuyên trách y tế, và một số thành viên khác có liên quan.
Ngoài ra, trong trường hợp tai nạn lao động làm bị thương nặng đối với một người lao động làm việc không theo hợp đồng lao động, công ty cần lập biên bản ghi nhận sự việc và báo cáo ngay cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi xảy ra tai nạn. Thông tin này sau đó sẽ được chuyển đến Ủy ban nhân dân cấp huyện để tiếp tục xử lý và báo cáo cho cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp tỉnh, Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền điều tra theo quy định của pháp luật chuyên ngành. Điều này nhằm đảm bảo rằng mọi vụ tai nạn lao động đều được xác minh và xử lý đầy đủ theo quy định của pháp luật.
 

2. Thời hạn điều tra vụ tai nạn lao động thuộc thẩm quyền của Đoàn điều tra tai nạn lao động cấp cơ sở

Theo quy định tại Khoản 6, Điều 35 của Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015, thời hạn điều tra vụ tai nạn lao động do Đoàn điều tra tai nạn lao động cấp cơ sở, cấp tỉnh và cấp trung ương quản lý được tính từ thời điểm nhận tin báo hoặc khai báo về tai nạn lao động đến khi công bố biên bản điều tra. Cụ thể như sau:
- Không quá 04 ngày đối với tai nạn lao động làm bị thương nhẹ người lao động.
- Không quá 07 ngày đối với tai nạn lao động làm bị thương nặng một người lao động.
- Không quá 20 ngày đối với tai nạn lao động làm bị thương nặng từ hai người lao động trở lên.
- Không quá 30 ngày đối với tai nạn lao động chết người.
- Không quá 60 ngày đối với tai nạn lao động cần phải giám định kỹ thuật hoặc giám định pháp y. Trong trường hợp các vụ tai nạn có dấu hiệu tội phạm và cơ quan điều tra quyết định không khởi tố vụ án hình sự, thì thời hạn điều tra được tính từ thời điểm Đoàn điều tra tai nạn lao động nhận được đầy đủ tài liệu, đồ vật, và phương tiện có liên quan đến vụ tai nạn. Đồng thời, nếu có tình tiết phức tạp đối với các trường hợp tai nạn lao động tại các điểm b, c, và d, thì có thể gia hạn một lần, nhưng thời hạn gia hạn không được vượt quá thời hạn quy định ban đầu tại các điểm này. Quyết định gia hạn cần được báo cáo và được sự đồng ý của người ban hành quyết định thành lập Đoàn điều tra tai nạn lao động.
 

3. Khi Biên bản Điều tra lại tai nạn lao động được công bố thì biên bản Điều tra tai nạn lao động trước đó sẽ như thế nào?

Dựa trên quy định tại Khoản 2, Điều 17 của Nghị định 39/2016/NĐ-CP về Điều tra lại tai nạn lao động khi có khiếu nại, tố cáo, việc thực hiện Điều tra lại được quy định như sau:
Trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày công bố biên bản Điều tra tai nạn lao động, nếu có khiếu nại, tố cáo theo đúng quy định của pháp luật, quy trình được quy định tại Luật Khiếu nại và Luật Tố cáo, việc Điều tra lại tai nạn lao động sẽ được thực hiện theo các bước sau:
- Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn khiếu nại, tố cáo, cơ quan đã thành lập Đoàn Điều tra tai nạn lao động có trách nhiệm xem xét, giải quyết khiếu nại, tố cáo theo đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền được quy định tại Luật Khiếu nại và Luật Tố cáo.
- Trong trường hợp người khiếu nại, tố cáo không đồng ý với ý kiến trả lời của cơ quan, tổ chức có trách nhiệm giải quyết nêu tại Điểm a, Khoản này mà vẫn tiếp tục khiếu nại, tố cáo, cơ quan có thẩm quyền Điều tra theo quy định tại Khoản 2, Khoản 3 Điều 35 Luật An toàn, vệ sinh lao động sẽ thành lập Đoàn Điều tra tai nạn lao động để tiến hành Điều tra lại tai nạn lao động. Đồng thời, cơ quan sẽ thông báo kết quả Điều tra lại bằng văn bản cho người khiếu nại hoặc tố cáo. Trong trường hợp không tiến hành Điều tra lại, cơ quan sẽ phải nêu rõ lý do.
- Cơ sở xảy ra tai nạn và Đoàn Điều tra tai nạn lao động cấp cơ sở có trách nhiệm cung cấp đầy đủ tài liệu, đồ vật, phương tiện có liên quan đến vụ tai nạn lao động cho Đoàn Điều tra lại tai nạn lao động cấp tỉnh.
- Đoàn Điều tra tai nạn lao động cấp tỉnh có trách nhiệm cung cấp đầy đủ tài liệu, đồ vật, phương tiện có liên quan đến vụ tai nạn lao động cho Đoàn Điều tra lại tai nạn lao động cấp trung ương.
- Kết luận của Đoàn Điều tra lại tai nạn lao động cấp trung ương sẽ là kết luận cuối cùng.
Biên bản Điều tra tai nạn lao động trước đó sẽ hết hiệu lực pháp lý khi biên bản Điều tra lại được công bố. Điều này nhằm đảm bảo tính minh bạch và công bằng trong quá trình giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến tai nạn lao động.
 

4. Ai chi trả chi phí tổ chức cuộc họp công bố biên bản điều tra tai nạn lao động?

Dựa vào quy định tại điểm a, khoản 1 của Điều 27 Nghị định 39/2016/NĐ-CP về chi phí Điều tra tai nạn lao động, người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả các chi phí liên quan đến Điều tra tai nạn lao động đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động. Cụ thể, chi phí này bao gồm:
  1. Các chi phí do người sử dụng lao động chịu trách nhiệm:
  2. Dựng lại hiện trường.
  3. Chụp, in, phóng ảnh hiện trường và nạn nhân.
  4. Trưng cầu giám định kỹ thuật, giám định pháp y khi cần thiết.
  5. Khám nghiệm tử thi.
  6. In ấn các tài liệu liên quan đến vụ tai nạn lao động.
  7. Phương tiện đi lại tại nơi xảy ra tai nạn lao động để phục vụ quá trình Điều tra tai nạn lao động.
  8. Tổ chức cuộc họp công bố biên bản Điều tra tai nạn lao động.
Các chi phí do cơ quan có thẩm quyền Điều tra tai nạn lao động chịu trách nhiệm:
- Cơ quan này chi trả các khoản công tác phí cho những người tham gia Điều tra tai nạn lao động theo quy định của pháp luật.
Hạch toán chi phí:
  • Chi phí Điều tra tai nạn lao động từ người sử dụng lao động sẽ được hạch toán vào chi phí sản xuất, kinh doanh và là chi phí hợp lý để tính thuế, nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp.
  • Trong trường hợp người sử dụng lao động là đơn vị sự nghiệp, chi phí Điều tra tai nạn lao động sẽ được hạch toán vào chi phí, giá dịch vụ sự nghiệp và là chi phí hợp lý để tính thuế, nộp thuế theo quy định.
  • Đối với người sử dụng lao động là cơ quan hành chính, kinh phí Điều tra tai nạn lao động sẽ được bố trí trong chi hoạt động thường xuyên của cơ quan, đơn vị.
Như vậy, theo quy định này, người sử dụng lao động sẽ phải chi trả chi phí tổ chức cuộc họp công bố biên bản Điều tra tai nạn lao động đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động.
Liên hệ đến hotline 19006162 hoặc gửi thư tư vấn đến email: lienhe@luatminhkhue.vn để được tư vấn pháp luật nhanh chóng. Xem thêm bài viết: Bị tai nạn lao động thì được hưởng bảo hiểm xã hội thế nào?