1. Ai có thẩm quyền hủy bỏ quyết định hành chính theo quy định?

Căn cứ theo khoản 2 Điều 13 Nghị định 118/2021/NĐ-CP thì những người quy định tại khoản 3 Điều 18 Luật xử lý vi phạm hành chính theo thẩm quyền ra quyết định hủy bỏ toàn bộ quyết định có sai sót, nếu người đã ban hành quyết định không hủy bỏ quyết định theo quy định: Người đã ban hành quyết định tự mình hoặc theo yêu cầu của những người trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp, thủ trưởng cơ quan, đơn vị của người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính có trách nhiệm phát hiện quyết định về xử lý vi phạm hành chính do mình hoặc cấp dưới ban hành có sai sót và kịp thời đính chính, sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ, ban hành quyết định mới theo thẩm quyền phải ban hành quyết định hủy bỏ toàn bộ nội dung quyết định nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

-  Không đúng đối tượng vi phạm;

- Vi phạm quy định về thẩm quyền ban hành quyết định;

- Vi phạm quy định về thủ tục ban hành quyết định;

- Giữ lại vụ vi phạm có dấu hiệu tội phạm để xử lý vi phạm hành chính;

- Xác định hành vi vi phạm hành chính không đúng; áp dụng hình thức xử phạt, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả không đúng, không đầy đủ đối với hành vi vi phạm hành chính;

- Giả mạo, làm sai lệch hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính, hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính; 

- Chuyển hồ sơ vụ vi phạm có dấu hiệu tội phạm để truy cứu trách nhiệm hình sự;

- Những trường hợp không ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính;

Đồng thời, khoản 3 Điều 18 Luật xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi, bổ sung năm 2020) quy định thẩm quyền hủy bỏ, ban hành quyết định mới trong xử phạt vi phạm hành chính như sau: Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp, thủ trưởng cơ quan, đơn vị của người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính có trách nhiệm phát hiện quyết định về xử lý vi phạm hành chính do mình hoặc cấp dưới ban hành có sai sót và kịp thời đính chính, sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ, ban hành quyết định mới theo thẩm quyền

 

2. Trường hợp phải hủy bỏ quyết định xử phạt vi phạm hành chính 

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 13 Nghị định 118/2021/NĐ-CP, người có thẩm quyền ban hành quyết định tự mình hoặc theo yêu cầu của những người quy định tại khoản 3 Điều 18 Luật Xử lý vi phạm hành chính phải tuân thủ các quy định và thực hiện các bước sau đây khi có yêu cầu hủy bỏ quyết định:

- Xác định đối tượng yêu cầu hủy bỏ quyết định: Đối tượng có quyền yêu cầu hủy bỏ quyết định là những người được quy định tại Khoản 3 Điều 18 Luật Xử lý vi phạm hành chính. Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp, thủ trưởng cơ quan, đơn vị của người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính có trách nhiệm phát hiện quyết định về xử lý vi phạm hành chính do mình hoặc cấp dưới ban hành có sai sót và kịp thời đính chính, sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ, ban hành quyết định mới theo thẩm quyền. Điều này bao gồm cả cơ quan, tổ chức và cá nhân liên quan đến vụ án vi phạm hành chính.

- Kiểm tra và xác minh đủ điều kiện yêu cầu hủy bỏ: Người đã ban hành quyết định cần tiến hành kiểm tra và xác minh xem yêu cầu hủy bỏ có đủ điều kiện không. Điều này liên quan đến việc kiểm tra các điều kiện quy định tại 8 trường hợp mà nghị định đề cập đến, bao gồm việc đảm bảo đúng đối tượng vi phạm, thẩm quyền, thủ tục, không giữ lại vụ vi phạm có dấu hiệu tội phạm, xác định đúng hành vi vi phạm, không giả mạo hồ sơ, không ra quyết định xử phạt, và các trường hợp khác.

- Ban hành quyết định hủy bỏ nếu đủ điều kiện: Nếu sau kiểm tra và xác minh, người đã ban hành quyết định thấy rằng yêu cầu hủy bỏ đáp ứng đủ điều kiện, họ phải ban hành quyết định hủy bỏ toàn bộ nội dung của quyết định vi phạm. Quyết định này cần được ban hành một cách cẩn thận và chính xác để đảm bảo tính hợp lý và công bằng.

- Thông báo cho đối tượng yêu cầu hủy bỏ: Người đã ban hành quyết định cần thông báo ngay lập tức về quyết định hủy bỏ đến đối tượng yêu cầu hủy bỏ, cung cấp lý do và cơ sở pháp lý cho quyết định này.

- Bảo quản và công bố quyết định hủy bỏ: Quyết định hủy bỏ cần được bảo quản đúng quy trình và công bố theo quy định để đảm bảo tính minh bạch và quyền lợi của các bên liên quan.

Quá trình này nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi ích của người dân và tổ chức, đồng thời giữ cho hệ thống xử lý vi phạm hành chính hoạt động theo đúng quy trình và quy định của pháp luật. gười có thẩm quyền ban hành quyết định vi phạm hành chính phải thực hiện quy trình hủy bỏ quyết định khi có yêu cầu từ những đối tượng. Quy trình này bao gồm kiểm tra và xác minh các điều kiện hủy bỏ, ban hành quyết định hủy bỏ nếu đủ điều kiện, thông báo cho đối tượng yêu cầu, và bảo quản công bố quyết định hủy bỏ. Điều này nhằm đảm bảo tính công bằng, minh bạch và bảo vệ quyền lợi của người dân và tổ chức liên quan đến vụ án vi phạm hành chính.

 

3. Thời hạn hủy bỏ quyết định xử phạt vi phạm hành chính

Theo khoản 1 Điều 15 Nghị định 118/2021/NĐ-CP, quy định về thời hạn đính chính, sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ quyết định như sau:

- Thời hạn đính chính, sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ một phần quyết định:

+ Thời hạn để thực hiện đính chính, sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ một phần quyết định là 01 năm, tính từ ngày người có thẩm quyền ban hành quyết định nhận thức được sai sót.

+ Tuy nhiên, trong trường hợp hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính, theo quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính, thì không thực hiện việc đính chính, sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ một phần quyết định.

- Không áp dụng thời hạn trong việc hủy bỏ toàn bộ quyết định:

Không áp dụng thời hạn khi hủy bỏ toàn bộ quyết định đã được ban hành từ ngày Luật Xử lý vi phạm hành chính có hiệu lực thi hành. Điều này áp dụng cho các trường hợp thuộc quy định Người đã ban hành quyết định tự mình hoặc theo yêu cầu của những người quy định phải ban hành quyết định hủy bỏ toàn bộ nội dung quyết định nếu thuộc một trong các trường hợp: 

-  Không đúng đối tượng vi phạm;

- Vi phạm quy định về thẩm quyền ban hành quyết định;

- Vi phạm quy định về thủ tục ban hành quyết định;

- Giữ lại vụ vi phạm có dấu hiệu tội phạm để xử lý vi phạm hành chính;

- Xác định hành vi vi phạm hành chính không đúng; áp dụng hình thức xử phạt, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả không đúng, không đầy đủ đối với hành vi vi phạm hành chính;

- Giả mạo, làm sai lệch hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính, hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính; 

- Chuyển hồ sơ vụ vi phạm có dấu hiệu tội phạm để truy cứu trách nhiệm hình sự;

- Những trường hợp không ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính;

Trong trường hợp người ban hành quyết định không thực hiện hủy bỏ theo quy định những người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính cũng có thẩm quyền hủy bỏ toàn bộ quyết định đó. Pháp luật đặt ra trách nhiệm cho các cơ quan và người có thẩm quyền trong việc phát hiện và sửa chữa quyết định về xử lý vi phạm hành chính có sai sót. Điều này giúp đảm bảo quyết định xử lý vi phạm hành chính không chỉ chính xác mà còn công bằng và hiệu quả. Các quy định này đang thúc đẩy tính minh bạch và công bằng trong quá trình xử lý vi phạm hành chính.

Quý khách có nhu cầu xem thêm bài viết sau: Trình tự xây dựng và ban hành quyết định hành chính thực hiện như thế nào ?

Luật Minh Khuê xin tiếp nhận yêu cầu tư vấn về pháp luật của quý khách hàng qua số hotline: 1900.6162 hoặc email: lienhe@luatminhkhue.vn. Xin trân trọng cảm ơn!