1. Nguyên tắc thay thế
Trong lý thuyết về nhu cầu phái sinh, Marshall miêu tả tỉ lệ đầu vào là cố định, mặc dù ông tạo ra trường hợp như sự phỏng chừng thứ nhất. Phát biểu của ông không được sắp xếp chặt chẽ, nhưng Marshall trung thành với lý thuyết phân phối sức sản xuất biên tế ít nhất trong ngắn hạn. Joan Robinson cũng tương tự khi giải thích phân tích thị trường đầu vào, mặc dù Marshall ở nhiều phần khác nhau trong Principles cho rằng đối với sự phân phối tài nguyên hiệu quả nhất, tất cả các đầu vào nên được cho thuê đến điểm nơi mà sản phẩm biên tế của chúng bằng với phí tổn biên tế. Sức sản xuất của mỗi yếu tố sản xuất là chủ đề đối với lợi suất giảm dần. Như Marshall tổng kết “nguyên tắc thay thế” nổi tiếng của ông:
“Mỗi yếu tố sản xuất, đất, máy móc, lao động có tay nghề, lao động phổ thông, v.v... có khuynh hướng được áp dụng trong sản xuất đến sinh lợi càng nhiều càng tốt. Nếu người tuyển dụng và những doanh nhân khác nghĩ rằng họ sẽ có kết quả khả quan hơn bằng cách sử dụng ít nhiều bất cứ yếu tố và họ sẽ làm như thế. Họ ước tính sản phẩm ròng (là sự gia tăng tịnh giá trị tiền tệ của tổng đầu ra sau khi chấp nhận những chi phí ngẫu nhiên) sẽ thu được bằng ít nhiều kinh phí từ chiều hướng này đến chiều hướng khác, và họ sẽ làm như thế.
Vì thế, lúc đó việc sử dụng mỗi yếu tố sản xuất được khống chế bằng những điều kiện chung liên quan đến cung: nghĩa là, một mặt, bằng tính cấp bách của tất cả những sử dụng có thể đưa yếu tố vào, cùng tiến hành với các phương tiện theo mệnh lệnh của những người cần đến nó, mặt khác, bằng kho hàng khả dụng của nó. Và sự ngang bằng được duy trì giữa giá trị của nó đối với mỗi sử dụng bằng khuynh hướng không đổi để chuyển từ những sử dụng trong đó phục vụ có giá trị kém hơn những phục vụ khác có giá trị cao hơn, theo nguyên tắc thay thế”. (Principles, trang 521-522).
2. Đầu vào hoàn toàn cố định trong mức cung
Trong nhiều chương (Quyển VI, các Chương 1-13, Principles of Economics), đầy ắp nhiều ví dụ thực tế, Marshall mô tả thu nhập từ đầu vào hoàn toàn cố định trong mức cung mà không có những cơ hội thay thế, nhưng Marshall cũng nhận dạng “tiền thuê quá mức”. Tiền thuê quá mức, theo Marshall là thu nhập từ các yếu tố cố định nhất thời dành cho sản xuất ngắn hạn. Đây là tính chất của “vốn đã đầu tư’. Như George Stigler nêu rõ, phát biểu của Marshall “đơn thuần là cách phát biểu khác cho rằng phí tổn chính hay khả biến là sự quyết định giá cả ngắn hạn” Production and Distribution Theories, trang 95). Trong dài hạn, thu nhập từ những đầu tư cố định này phải được bao gồm giá thị trường hay vốn ra khỏi công nghiệp. Nói cách khác chỉ trong ngắn hạn là tiền tô quá mức (sự chênh lệch giữa tổng phí tổn và phí tổn khả biến) không phải là sự thanh toán cần thiết để sản xuất đầu ra.
Xử lý của Marshall về thu nhập từ lao động có lẽ là bộ phận lý thú nhất trong thảo luận của ông về phân phối. Nhu cầu về lao động phụ thuộc vào sức sản xuất biên tế của lao động, như nhu cầu đối với bất kỳ đầu vào yếu tố sản xuất. Nhưng điều kiện khống chế cung lao động khác biệt đáng kể trong hay chu kỳ thị trường. Trong ngắn hạn, Marshall chấp nhận lý thuyết cung lao động giống như lý thuyết của Jevons (xem Chương 14). Jevons tập trung vào điểm giao nhau giữa phản hiệu dụng biên tế và hiệu dụng biên tế của thu nhập thực (tượng trưng bằng hiệu dụng biên tế của tiền lương hàng hóa). Như trong mô thức của Jevons, người lao động ngừng làm việc khi hiệu dụng biên tế của tiền lương của họ ngang bằng với phản hiệu dụng biên tế của công việc. Mặc dù có một ít ngoại lệ, Marshall nghĩ rằng nói chung, cung lao động có quan hệ tích cực với phần thưởng dành cho lao động trong các tình huống cả ngắn lẫn dài hạn.
3. Cung lao động trong dài hạn phần lớn được khống chế bằng phí tổn lao động sản xuất
Marshall cho rằng cung lao động trong dài hạn phần lớn được khống chế bằng phí tổn lao động sản xuất. Nếu điều này đúng, tiền lương có khuynh hướng ở mức đủ sống, như một số tác giả cổ Điển đề xuất. Nhưng trong khi xét thực tế tiền lương ở Anh không đủ mức sinh kế, Marshall nhận thấy cần phải giải thích lý do tại sao tiền lương cao hơn phí tổn lao động sản xuất. Vì thế ông nhất mực cho rằng cả sức mạnh tinh thần lẫn thể xác của công nhân phải được duy trì. Nhận dạng ba loại chi tiêu của công nhân: dành cho những điều thiết yếu, những thứ cần thiết theo quy ước và thói quen tiện nghi. Loại thứ nhất gồm những chi tiêu cẩn để nuôi sting bản thân chẳng hạn như mua lương thực, nơi ở và quần áo. Chi tiêu những thứ cần thiết theo quy ước là các mặt hàng không hẳn cần thiết cho sức khỏe nhưng cần thiết trong giao tế xã hội. Loại thứ ba - chi tiêu phải có dành cho thói quen tiện nghi, phản ánh suy nghĩ của Marshall (phát biểu ở đầu sách Principles) rằng sở thích và thói quen tiêu dùng trong trường hợp này là những người tiêu dùng lao động thay đổi qua thời gian.
Marshall nêu rõ những nét đặc biệt bổ sung hay tính chất cứng nhắc trong thị trường lao động. Ở trường hợp thứ nhất, động cơ lợi nhuận không hoạt động theo cách tương tự như đối với lao động hay đôi với các yếu tố khác. Những ai trả phí tổn sản xuất (bố mẹ chẳng hạn) đều không thu được phần thưởng. Ngoài ra, bố mẹ có thể giáo dục trong những nghề mà trong đó phần thưởng theo tỉ lệ với chi phí ở mức cao nhất. Nhưng sự chậm trễ giữa đầu tư và thu nhập hoàn toàn luôn kéo dài, thường từ 15 đến 20 năm. Dự đoán một chu kỳ kéo dài như thế thường là điều không thể. Vả lại, thu nhập của bố mẹ lại khác, có nghĩa là chi phí (hay đầu tư) trong nuôi dưỡng và đào tạo lao động khác biệt rất lớn. Những tính chất cứng nhắc này hay khác theo Marshall giải thích mức lương quan sát rất khác biệt nhau ở Anh trong thời gian này.
Lợi nhuận và tiền lãi, thu nhập từ doanh nghiệp và vốn, được giải thích tương tự. Nhu cầu về vốn là chủ đề của lợi suất giảm dần, là sức sản xuất biên tế, Marshall chỉ rõ (Principles, trang 520) rằng nhu cầu này được sử dụng hết đến điểm nơi sản phẩm giá trị biên tế của nó ngang bằng với lãi suất. Nhưng trong dài hạn, cứ cho rằng một hệ thống cạnh tranh hoàn hảo, thu nhập thực trở lại vốn sẽ được quyết định bằng phí tổn sản xuất.
4. Chi trả lợi nhuận
Chi trả lợi nhuận là sự chi trả đối với khả năng kinh doanh, trong dài hạn được quyết định bằng phí tổn sản xuất. Ở đây có một điểm quan trọng. Trong trường hợp của bất cứ yếu tố sản xuất, chính là thông qua khả năng riêng của một người kinh doanh mà nhu cầu được thực hiện hiệu quả. Người kinh doanh hình dung nhu cầu hay bảng kê sức sản xuất biên tế. Nhưng không ai thuê nhà doanh nghiệp. Đúng ra chính là toàn xã hội đang có nhu cầu về hàng hóa. Nói cách khác, xã hội làm cho nhu cầu hiệu quả bằng cách đề nghị giá. Mặc dù một phần trong kỹ năng doanh nghiệp có thể được hưởng, trong trường hợp này một phần thu nhập của anh ta là tiền thuê đất, kỹ năng có được thực ra là phí tổn sản xuất. Vì thế, Marshall kết luận về dài hạn phí tổn sản xuất quyết định thu nhập và mức cung từ mọi yếu tố sản xuất.
Xử lý của Marshall về phân phối phần lớn dựa vào di sản thừa kế Anglo-Saxon, đặc biệt gợi nhớ đến cách xử lý vấn đề của Smith và Ricardo. Cũng thích hợp khi ông quá chú trọng đến phí tổn sản xuất xem đây là giải thích thu nhập yếu tố sản xuất như các bậc tiền bối. Thảo luận của ông cũng thường bị chỉ trích vì thiếu sức sống chắc chắn là trường hợp này.
Bất kể những điều này, Marshall có lẽ không hề kết hợp quá chặt chẽ với hiểu biết thực tế như thế khi ông phân tích qua nhiều ví dụ, lập luận những khác biệt về tiền lương và lợi nhuận hay tác động rủi ro đối với tỉ lệ thu nhập. Hiểu biết thực tế về hành vi kinh doanh của ông và thị trường thực rất đáng kể, tất cả giúp thảo luận của ông về phân phối trở thành một trong những phần lý thú và có lợi nhất trong quyển Principles.
5. Những đóng góp lý thuyết kinh tế học của Alfred Marshall
Marshall được coi là một trong những nhà kinh tế học có ảnh hưởng nhất trong thời đại của ông, người đã định hình phần lớn tư tưởng kinh tế chính thống trong năm mươi năm tiếp theo, và là một trong những người sáng lập ra trường phái kinh tế học tân cổ điển. Mặc dù kinh tế học của ông được quảng cáo là phần mở rộng và cải tiến của công trình nghiên cứu của Adam Smith, David Ricardo, Thomas Robert Malthus và John Stuart Mill, nhưng ông đã mở rộng kinh tế học ra khỏi trọng tâm cổ điển về kinh tế thị trường và thay vào đó phổ biến nó như một nghiên cứu của đối nhân xử thế. Ông đã hạ thấp những đóng góp của một số nhà kinh tế học khác vào công việc của mình, chẳng hạn như Léon Walras, Vilfredo Pareto và Jules Dupuit và chỉ miễn cưỡng thừa nhận ảnh hưởng của chính Stanley Jevons.
Marshall là một trong những người đã sử dụng phân tích tiện ích, nhưng không phải là một lý thuyết về giá trị. Ông sử dụng nó như một phần của lý thuyết để giải thích đường cầu và nguyên tắc thay thế. Phân tích về cái kéo của Marshall - kết hợp cung và cầu, tức là tiện ích và chi phí sản xuất, như thể ở hai lưỡi của một cái kéo - đã loại bỏ lý thuyết giá trị ra khỏi trung tâm phân tích một cách hiệu quả và thay thế nó bằng lý thuyết giá cả. Trong khi thuật ngữ "giá trị" tiếp tục được sử dụng, đối với hầu hết mọi người, nó là một từ đồng nghĩa với "giá cả". Giá cả không còn được cho là sẽ thu hút về một số cơ sở cuối cùng và tuyệt đối của giá cả; giá cả là tồn tại, giữa mối quan hệ của cầu và cung.
Ảnh hưởng của Marshall trong việc hệ thống hóa tư tưởng kinh tế là điều khó có thể phủ nhận. Ông đã phổ biến việc sử dụng các hàm cung và cầu làm công cụ xác định giá cả (trước đây đã được Cournot phát hiện một cách độc lập ); các nhà kinh tế học hiện đại nợ Marshall mối liên hệ giữa sự thay đổi giá cả và sự thay đổi đường cong. Marshall là một phần quan trọng của " cuộc cách mạng theo chủ nghĩa cận biên;" ý tưởng rằng người tiêu dùng cố gắng điều chỉnh mức tiêu dùng cho đến khi mức thỏa dụng cận biên bằng với giá là một đóng góp khác của ông. Các độ co giãn của cầu theo giá được trình bày bởi Marshall là một phần mở rộng của những ý tưởng này. Phúc lợi kinh tế, được chia thành thặng dư của người sản xuất và thặng dư của người tiêu dùng, được đóng góp bởi Marshall, và thực sự, cả hai đôi khi được mô tả cùng tên là thặng dư của Marshall. Ông sử dụng ý tưởng thặng dư này để phân tích chặt chẽ ảnh hưởng của thuế và sự thay đổi giá cả đối với phúc lợi thị trường. Marshall cũng xác định giá thuê.
Tài liệu tham khảo ngắn gọn Marshall để các mối quan hệ xã hội và văn hóa trong "huyện công nghiệp" của nước Anh đã được sử dụng như là một điểm khởi đầu cho công việc cuối thế kỷ hai mươi trong địa lý kinh tế và kinh tế học thể chế về phân nhóm và tổ chức học tập.
Gary Becker (1930–2014), người đoạt giải Nobel kinh tế năm 1992, đã đề cập rằng Milton Friedman và Alfred Marshall là hai người có ảnh hưởng lớn nhất đến công việc của ông.
Một đóng góp khác mà Marshall thực hiện là phân biệt các khái niệm về quy mô kinh tế bên trong và bên ngoài. Đó là khi chi phí của các yếu tố đầu vào của sản xuất giản, đó là một ngoại tác tích cực đối với tất cả các doanh nghiệp trên thị trường, nằm ngoài tầm kiểm soát của bất kỳ doanh nghiệp nào.
LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm)