Tội "có tính chất côn đồ" trong tội "giết người" có đồng phạm?
Các yếu tố xác định có tính chất côn đồ
Thứ nhất: Ý thức của hành vi phạm tội có tính côn đồ.
Đây là một yếu tố quan trọng, quyết định hành vi phạm tội của một người có tính côn đồ hay không. Theo Từ điển Tiếng Việt “Ý thức là những suy nghĩ, những tính toán hình thành trong ý nghĩ của con người khi thực hiện một công việc nào đó”, ý thức của người thực hiện hành vi phạm tội có tính côn đồ đó là hình thành quyết tâm thực hiện hành vi phạm tội, là sự chủ động trong hành vi.
Trong khoa học pháp lý, ý thức tội phạm khi hình thành sẽ giúp cho con người có mong muốn thực hiện bằng mọi giá hành vi của mình và cũng nhờ ý thức giúp vượt qua mọi khó khăn, rào cản, đây là yếu tố thúc đẩy các yếu tố để cụ thể hóa các hành vi khác vận dụng vào trong tội phạm, hay nói cách khác đó là tiền đề cho mọi yếu tố khác trong hành vi phạm tội có tính côn đồ.
Thứ hai: Sự chuẩn bị công cụ, phương tiện phạm tội của hành vi phạm tội có tính chất côn đồ.
Khi hình thành ý thức phạm tội và để mục đích thực hiện được hành vi phạm tội thì người phạm tội phải có sự chuẩn bị công cụ, phương tiện phạm tội ví dụ như: Dao, kiếm, gậy… đây là những yếu tố có mục đích hỗ trợ cho hành vi phạm tội được thực hiện một cách đúng như ý thức đã hình thành trước đó. Ngoài ra, cũng có những người luôn chuẩn bị sẵn các loại hung khí mang tính sát thương cao để sẵn sàng sử dụng khi có va chạm hoặc vì bất cứ lý do gì, đây cũng là một dạng hành vi thể hiện tính chất côn đồ.
Thứ ba: Mức độ tấn công, cường độ tấn công và tính chất của hành vi.
Mức độ tấn công và cường độ tấn công là hai thái cực thể hiện tính quyết liệt trong hành vi của người phạm tội có tính chất côn đồ hay không, thông thường một hành vi phạm tội có tính côn đồ hay không thể hiện rất rõ ở dấu hiệu này, một người thực hiện một hành vi phạm tội với mức độ tấn công, cường độ tấn công nhanh, mạnh, thực hiện nhiều làn và liên tục và quyết liệt bất kể mọi người có sự can ngăn nhưng vẫn thực hiện thậm chí là có hành vi đe dọa người khác nếu không để cho đối tượng thực hiện hành vi phạm tội, thậm chí công khai ngang nhiên thách thức các lực lượng chức năng thực thi công vụ đây cũng là một yếu tố thể hiện tính côn đồ trong hành vi phạm tội.
Thứ tư: Nguyên nhân thực hiện hành vi phạm tội có tính côn đồ.
Đây hoàn toàn không phải là yếu tố quan trọng, vì dù bất cứ lý do gì có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự nhân phẩm và tài sản của người khác đều đều vi phạm pháp luật và nhưng thông thường nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội có tính côn đồ là những lý dọ vụn vặt, những va chạm, xích mích nhỏ nhặt và những nguyên nhân đó chỉ là cái cớ để một người thực hiện hành vi phạm tội đó chính là sự thể hiện tính côn đồ, coi thường pháp luật.
Thứ năm: Nhân thân của người phạm tội.
Thông thường khi đánh giá một người có nhân thân để từ đó đánh giá hành vi của họ có tính côn đồ hay không phải đánh giá một cách toàn diện như mối quan hệ xã hội, hoàn cảnh sống, thái độ và quan điểm sống của người đó để đánh giá cho phù hợp.
Như vậy việc đánh giá một hành vi phạm tội có tính côn đồ hay không đòi hỏi phải có sự kết hợp của nhiều yếu tố cần đánh giá một cách toàn diện mới xác định một cách chính xác, khách quan.
Án lệ số 17/2018/AL
Được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông quangày 17 tháng 10 năm 2018 và được công bố theo Quyết định số 269/QĐ-CA ngày 06 tháng 11 năm 2018 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
Nguồn án lệ:
Quyết định giám đốc thẩm số 07/2018/HS-GĐT ngày 20-3-2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về vụ án “Giết người” đối với bị cáo Nguyễn Văn H, sinh năm 1977; trú tại phố A, thị trấn C, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Bị hại: Ông Dương Quang Q.
Vị trí nội dung án lệ:
Đoạn 1 phần “Nhận định của Tòa án”.
Khái quát nội dung của án lệ:
- Tình huống án lệ:
Trong vụ án có đồng phạm, chỉ vì mâu thuẫn nhỏ trong sinh hoạt, các đồng phạm đã rủ nhau đánh dằn mặt bị hại.
Khi thực hiện tội phạm, người thực hành dùng mã tấu chém liên tiếp vào vùng đầu, mặt, chân, tay của bị hại; việc bị hại không chết là ngoài ý muốn chủ quan của người thực hành.
Người xúi giục không có mặt khi người thực hành thực hiện tội phạm, không biết việc người thực hành sử dụng mã tấu chém vào những vùng trọng yếu trên cơ thể bị hại nhưng đã để mặc cho hậu quả xảy ra.
- Giải pháp pháp lý:
Trường hợp này, người thực hành phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Giết người” với tình tiết định khung là “Có tính chất côn đồ”. Người xúi giục bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Giết người” nhưng không bị áp dụng tình tiết định khung “Có tính chất côn đồ”.
Quy định của pháp luật liên quan đến án lệ:
- Điểm n khoản 1 Điều 93 Bộ luật Hình sự năm 1999 (tương ứng điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015);
- Khoản 2 Điều 93 Bộ luật Hình sự năm 1999 (tương ứng với khoản 2 Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015).
Từ khóa của án lệ:
“Đồng phạm”; “Có tính chất côn đồ”; “Vùng trọng yếu trên cơ thể”; “Người thực hành”; “Người xúi giục”; “Tội giết người”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Khoảng 08h ngày 13-01-2015, do có mâu thuẫn trong sinh hoạt nên xảy ra xô xát giữa các con của ông Dương Quang Q là Dương Quang T, Dương Quang R và Dương Quang K với ông Dương Quang H, Dương Quang L và Nguyễn Văn H. Các con của ông Q dùng tay, chân đấm đá vào người ông Dương Quang H làm ông H bị xây xát nhẹ. Thấy bố vợ là ông Dương Quang H bị các con của ông Q đánh, Nguyễn Văn H gọi điện báo cho Trần Quang V (là con rể của ông H). Biết tin bố vợ bị đánh, V đi từ Hà Tĩnh về Thừa Thiên Huế và rủ thêm Phạm Nhật T cùng đi đánh ông Q. Khi đi, V và T lấy ở nhà T 02 cây mã tấu, bỏ vào túi vợt cầu lông rồi mang theo. Khoảng 16 giờ ngày 19-01-2015, V chở T đến thị trấn Lăng Cô và gọi điện cho H đến nhậu cùng. Tại quán nhậu H nói với V “Ba bị đánh thương lắm, giờ vẫn còn đau”. V hỏi H địa chỉ nhà ông Q ở đâu và đặc điểm nhận dạng ông Q như thế nào. Nghe H nói xong, V nói với T “Tý nữa nhậu xong tau với mi đi đánh lại”, H nói “Nếu đánh thì đánh dằn mặt thôi”. Sau đó, H về trước, V và T vẫn tiếp tục nhậu.
Khoảng 17 giờ 45 phút, khi đang thanh toán tiền, Trần Quang V nói với Phạm Nhật T “Có gì tao vào đánh, người dân ra thì mi chặn lại”, T đồng ý và lên xe máy để V chở đến nhà ông Q. Sau khi chạy vòng quanh nhà ông Q, biết ông Q không có ở nhà, V dừng xe ở một chỗ vắng người, lấy vải nilon che biển số xe rồi chở T đi lên cầu Lăng Cô đứng đợi. Đến khoảng 18 giờ, V chở T vòng xe quay lại đến trước nhà ông Q và nhìn thấy ông Q đang cúi người mở cổng. V dừng xe mở túi vợt cầu lông lấy ra 01 cây mã tấu có lưỡi hình răng cưa rồi chạy đến chém liên tiếp vào đầu, mặt, lưng, chân và tay ông Q làm ông Q bị ngã gục xuống đất. Do nhiều người dân xung quanh nhìn thấy hô hoán và chạy đến nên T cầm mã tấu đe dọa, ngăn chặn tạo điều kiện cho V chạy đến chỗ để xe máy và nổ máy tẩu thoát. Khi đến gần đèo Phú Gia, V gọi điện thoại cho H hỏi về tình trạng thương tích của ông Q. H hỏi lại V “Thế em có chém ông Q không? Ông Q đi Bệnh viện rồi”. Gọi điện thoại cho H xong V gọi điện cho Dương Quang L nói “Anh vừa mới chém ông Q xong! Em ở đâu, về cất 02 cây mã tấu cho anh!”. Nghe V điện xong L ra đường đứng đợi V và T đến. T đưa cho L túi vợt cầu lông đựng 02 cây mã tấu nhờ L cất giấu rồi V tiếp tục chở T về nhà của V và ngồi uống bia với T. Sau khi L đưa túi đựng 02 cây mã tấu về nhà nhờ ông Dương Quang H cất hộ, ông H đem túi này sang nhà bếp của ông Hồ T (bố vợ của ông H) cất giấu. Ông Dương Quang Q được người dân đưa đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện thành phố Đà Nẵng đến ngày 03-02-2015 thì được ra viện.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 26-15/TgT ngày 28-01-2015, Trung tâm giám định pháp y tỉnh Thừa Thiên Huế kết luận: Ông Dương Quang Q bị đa vết thương phần mềm vùng đầu, vai trái, khuỷu tay trái, đùi trái, để lại sẹo không ảnh hưởng chức năng 3%; vết thương phần mềm vùng mặt ít ảnh hưởng chức năng 8%; chấn thương gãy 04 răng cửa R1.1,1.2,1.3, 3.3; 2 răng hàm nhỏ 1.4,1.5; răng hàm 1.6 và 1.7 đang điều trị, hiện mất chức năng răng đối diện 20%; vết thương đứt gần lìa 1 bàn tay trái đã phẫu thuật tái tạo, hiện còn điều trị chưa đánh giá được di chứng chức năng 8%; vết thương đứt lìa ngón 2 và 3 bàn tay trái 25%; tỷ lệ tổn thương cơ thể chung là 51%; vật gây thương tích các tổn thương trên là vật sắc nặng.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 20/2016/HSST ngày 23-5-2016, Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế áp dụng điểm n khoản 1 Điều 93; các điểm b và p khoản 1 Điều 46; Điều 47; Điều 18; khoản 3 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 1999, xử phạt Nguyễn Văn H 07 năm tù về tội “Giết người”.
Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về tội danh, hình phạt đối với các bị cáo khác, về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Sau khi xét xử sơ thẩm, Nguyễn Văn H có đơn kháng cáo đề nghị xem xét lại tội danh và xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 217/2016/HSPT ngày 02-8-2016, Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng quyết định: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn H; áp dụng khoản 2 Điều 104; các điểm b, p khoản 1 Điều 46; Điều 20; Điều 53 Bộ luật Hình sự năm 1999, xử phạt Nguyễn Văn H 03 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”.
Tại Kháng nghị giám đốc thẩm số 13/2017/KN-HS ngày 03-7-2017, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kháng nghị Bản án hình sự phúc thẩm số 217/2016/HSPT ngày 02-8-2016 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng về phần tội danh và hình phạt đối với Nguyễn Văn H; đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm hủy bản án hình sự phúc thẩm nêu trên về phần tội danh và hình phạt đối với Nguyễn Văn H để xét xử phúc thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao nhất trí với kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì: Sau khi chứng kiến việc bố vợ là ông Dương Quang H bị các con của ông Dương Quang Q đánh, Nguyễn Văn H là người trực tiếp gọi điện báo cho Trần Quang V biết việc ông H bị đánh. Trong lúc ăn nhậu cùng V và Phạm Nhật T vào tối ngày 19-01-2015, biết V và T có ý định đi đánh ông Q để trả thù, H nói “Ba bị đánh thương lắm, chừ còn đau”, làm củng cố ý thức, quyết tâm của V trong việc đi đánh ông Q. H cũng là người chỉ nơi ở, đặc điểm nhận dạng của ông Q cho V và T biết để V và T có thể thực hiện hành vi đánh ông Q. Khi nghe V và T bàn bạc kế hoạch đi đánh ông Q, H không can ngăn mà còn nói “Nếu đánh thì đánh dằn mặt thôi”, thể hiện sự thống nhất ý chí về việc đánh ông Q. Sau đó, H bỏ về trước. Thực tế, Trần Quang V đã dùng mã tấu chém liên tiếp vào vùng đầu, mặt, chân, tay ông Q làm ông Q gục ngay tại chỗ. Do mọi người can ngăn và được đưa đi cấp cứu kịp thời nên ông Q không chết là ngoài ý muốn chủ quan của V. Sau khi chém ông Q, V đã gọi liên tiếp ba cuộc điện thoại cho H để hỏi về thương tích của ông Q. Mặc dù, H không biết trước việc V dùng mã tấu chém liên tiếp vào những vùng trọng yếu trên cơ thể ông Q, có thể tước đoạt tính mạng của ông Q nhưng H đã thống nhất ý chí với V và T trong việc đánh ông Q, chấp nhận hậu quả xảy ra. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm kết án Nguyễn Văn H đồng phạm với Trần Quang V và Phạm Nhật T về tội “Giết người” là có căn cứ. Tuy nhiên Tòa án cấp sơ thẩm kết án Nguyễn Văn H theo điểm n khoản 1 Điều 93 Bộ luật Hình sự năm 1999 với tình tiết định khung “Có tính chất côn đồ” là không đúng, bởi vì: Trong vụ án này Trần Quang V và Phạm Nhật T là người trực tiếp thực hiện hành vi đánh ông Q; chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt trong sinh hoạt với các con của ông Q mà V và T đã dùng mã tấu chém nhiều nhát vào những vùng trọng yếu trên cơ thể của ông Q nên chỉ hành vi phạm tội của V và T “Có tính chất côn đồ”, còn Nguyễn Văn H không trực tiếp tham gia đánh ông Q mà giúp sức cho V và T trong việc đánh ông Q nên hành vi phạm tội của H không “Có tính chất côn đồ” mà chỉ thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 93 Bộ luật Hình sự năm 1999.
Tòa án cấp phúc thẩm nhận định: Việc Trần Quang V sử dụng mã tấu chém vào đầu, mặt ông Dương Quang Q là hành vi vượt quá ý chí của Nguyễn Văn H nên H không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Giết người” mà chỉ chịu trách nhiệm hình sự đối với hậu quả thực tế xảy ra với ông Q, từ đó sửa bản án hình sự sơ thẩm, chuyển tội danh cho H từ tội “Giết người” sang tội “Cố ý gây thương tích” là sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật. Đồng thời, Tòa án cấp phúc thẩm đã quá nhấn mạnh tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét, xử phạt Nguyễn Văn H 03 năm tù là đánh giá không đúng tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, không có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 388 và Điều 391 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Hủy Bản án hình sự phúc thẩm số 2107/2016/HSPT ngày 02-8-2016 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng về phần tội danh và hình phạt đối với Nguyễn Văn H, chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng để xét xử phúc thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.
NỘI DUNG ÁN LỆ
“[1] Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì: Sau khi chứng kiến việc bố vợ là ông Dương Quang H bị các con của ông Dương Quang Q đánh, Nguyễn Văn H là người trực tiếp gọi điện báo cho Trần Quang V biết việc ông H bị đánh. Trong lúc ăn nhậu cùng V và Phạm Nhật T vào tối ngày19-01-2015, biết V và T có ý định đi đánh ông Q để trả thù, H nói “Ba bị đánh thương lắm, chừ còn đau”, làm củng cố ý thức, quyết tâm của V trong việc đi đánh ông Q. H cũng là người chỉ nơi ở, đặc điểm nhận dạng của ông Q cho V và T biết để V và T có thể thực hiện hành vi đánh ông Q. Khi nghe V và T bàn bạc kế hoạch đi đánh ông Q, H không can ngăn mà còn nói “Nếu đánh thì đánh dằn mặt thôi”, thể hiện sự thống nhất ý chí về việc đánh ông Q. Sau đó, H bỏ về trước. Thực tế, Trần Quang V đã dùng mã tấu chém liên tiếp vào vùng đầu, mặt, chân, tay ông Q làm ông Q gục ngay tại chỗ. Do mọi người can ngăn và được đưa đi cấp cứu kịp thời nên ông Q không chết là ngoài ý muốn chủ quan của V. Sau khi chém ông Q, V đã gọi liên tiếp ba cuộc điện thoại cho H để hỏi về thương tích của ông Q. Mặc dù, H không biết trước việc V dùng mã tấu chém liên tiếp vào những vùng trọng yếu trên cơ thể ông Q, có thể tước đoạt tính mạng của ông Q nhưng H đã thống nhất ý chí với V và T trong việc đánh ông Q, chấp nhận hậu quả xảy ra. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm kết án Nguyễn Văn H đồng phạm với Trần Quang V và Phạm Nhật T về tội “Giết người” là có căn cứ. Tuy nhiên Tòa án cấp sơ thẩm kết án Nguyễn Văn H theo điểm n khoản 1 Điều 93 Bộ luật Hình sự năm 1999 với tình tiết định khung “Có tính chất côn đồ” là không đúng, bởi vì: Trong vụ án này Trần Quang V và Phạm Nhật T là người trực tiếp thực hiện hành vi đánh ông Q; chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt trong sinh hoạt với các con của ông Q mà V và T đã dùng mã tấu chém nhiều nhát vào những vùng trọng yếu trên cơ thể của ông Q nên chỉ hành vi phạm tội của V và T “Có tính chất côn đồ”, còn Nguyễn Văn H không trực tiếp tham gia đánh ông Q mà giúp sức cho V và T trong việc đánh ông Q nên hành vi phạm tội của H không “Có tính chất côn đồ” mà chỉ thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 93 Bộ luật Hình sự năm 1999.”
Thực tiễn áp dụng tình tiết “có tính chất côn đồ” trong xét xử
Tình tiết định khung tăng nặng “có tính chất côn đồ” là tình tiết mà thực tế hiện nay trong toàn ngành Tòa án chưa có sự áp dụng thống nhất dù đã được hướng dẫn tại Công văn số 38/NCPL ngày 06/01/1976 của TANDTC và được nhắc lại tại Hội nghị tổng kết ngành Tòa án nhân dân năm 1995 đã nêu. Người phạm tội chỉ bị áp dụng các tình tiết này nếu hành vi phạm tội của họ có tính chất côn đồ, tức họ thực hiện hành vi vì những nguyên cớ nhỏ nhặt, vô lý; nguyên nhân dẫn đến việc họ phạm tội là do bản thân họ mà ra. Trong trường hợp người phạm tội là côn đồ thì rõ ràng tính chất hành vi của họ cũng phải đảm bảo các tính chất đó thì họ mới bị áp dụng tình tiết “có tính chất côn đồ”. Vì vậy, nhất thiết phải có sự phân biệt rõ giữa “côn đồ” với tính chất là thuộc tính của hành vi phạm tội với côn đồ chỉ một người xem thường pháp luật, xem thường lẽ sống. Tính chất côn đồ của hành vi không phải của mọi hành vi đều như nhau mà chúng có những mức độ khác nhau khi đánh giá độ nguy hiểm của chúng. Khi hành vi có tính chất côn đồ do kẻ côn đồ gây ra thì rõ ràng mức độ của chúng cao hơn so với hành vi phạm tội có tính chất côn đồ do người luôn chấp hành pháp luật thực hiện.
Tuy nhiên việc áp dụng tình tiết này trong thực tiễn xét xử còn có những quan điểm khác nhau, trong một số trường hợp Tòa án đã không áp dụng hoặc áp dụng không đúng tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự “có tính chất côn đồ”.
Toà án cấp sơ thẩm nhận định: Hành vi của bị cáo Nam phạm tội “Cố ý gây thương tích” với hai tình tiết định khung tăng nặng “dùng hung khí nguy hiểm” và “có tính chất côn đồ” vì bị cáo dùng viên gạch bên đường vô cớ gây thương tích cho anh Nguyễn Điền. Áp dụng điểm đ, khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Nam 30 tháng tù.
Việc Toà án cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết “có tính chất côn đồ” nêu trên, hiện có hai quan điểm:
Quan điểm thứ nhất: Trường hợp này phải áp dụng tình tiết định khung tăng nặng “có tính chất côn đồ” đối với bị cáo Nam vì bị cáo dùng viên gạch bên đường vô cớ gây thương tích cho anh Nguyễn Điền. Anh Điền và anh Văn không gây xích mích gì với bị cáo. Như vậy giữa bị cáo và bị hại không quen biết, không có mâu thuẫn hay xích mích gì, nhưng khi nghe người đi xe máy phía sau gọi và nghi ngờ những người này đuổi đánh mình nên bị cáo đã vô cớ dùng gạch ném gây thương tích cho người bị hại. Trong trường hợp giả thiết rằng bị cáo Nguyễn Văn Nam cho rằng Điền và Văn là những người đánh Nam, nhưng trên thực tế không phải thế. Thì đây là trường hợp “sai lầm về sự việc”. Do đó Nam phải chịu trách nhiệm hình sự một cách bình thường.
Quan điểm thứ hai: Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết “có tính chất côn đồ” là không đúng. Vì trong trường hợp vụ án xảy ra vào đêm tối, hành vi cầm gạch ném gây thương tích cho Điền là hành vi chống trả sự đe dọa tấn công vì cho rằng Nguyễn Điền và Lê Văn đuổi theo để đánh. Nên trong trường hợp này chỉ áp dụng tình tiết định khung tăng nặng “dùng hung khí nguy hiểm” đối với hành vi của Nam.
Quan điểm của tác giả đồng tình với quan điểm thứ hai. Vì nhóm của bị cáo Nam ẩu đả với nhóm thanh niên thôn X tại đám cưới gồm có Hiền, Cường, Dũng, Nhật, Sơn; còn anh Nguyễn Điền chở anh Lê Văn đi từ đám cưới ngang qua chỗ có hai nhóm thanh niên đang ẩu đả với nhau. Mặc dù bị cáo dùng viên gạch ném người bị hại nhưng trong bối cảnh bị cáo bỏ chạy từ việc ẩu đả, đánh nhau trong đám cưới, thời gian ban đêm không rõ mặt người, khi bị kéo tay Nam tiếp tục bỏ chạy biểu hiện sự hoảng sợ. Do đó việc Nam dùng gạch ném vào đối tượng là nhằm chống trả sự đe doạ tấn công. Không phải là vô cớ ném bị hại nên không áp dụng tình tiết “có tính chất côn đồ”.
Vì vậy trong khi chưa có hướng dẫn mới áp dụng tình tiết “có tính chất côn đồ” quy định trong BLHS 2015, để vận dụng đúng và khách quan đối với tình tiết này đòi hỏi chúng ta phải đánh giá dựa trên nhiều yếu tố, như:
– Nguyên nhân, điều kiện dẫn đến hành vi phạm tội,
– Thời gian, địa điểm, không gian tội phạm được thực hiện,
– Nhân thân người phạm tội
Để từ đó đánh giá hành vi phạm tội của họ:
– Có coi thường pháp luật, có ý thức thách thức pháp luật không và ở mức độ như thế nào?
– Động cơ, mục đích, công cụ, phương tiện, thủ đoạn phạm tội là gì?
-Tương quan lực lượng, hậu quả pháp lý mà tội phạm gây ra.
Từ đó giúp áp dụng tình tiết định khung tăng nặng “có tính chất côn đồ” và tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội có tính chất côn đồ” được đúng đắn trong hoạt động xét xử, đạt được hiệu quả trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm.
Một số kiến nghị
Thứ nhất, cần có hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật về “côn đồ” và “có tính chất côn đồ”, BLHS quy định nghiêm trị đối với những người côn đồ, nhưng phải phân biệt rõ giữa “côn đồ” với “phạm tội có tính chất côn đồ”. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội có tính chất côn đồ” được quy định tại điểm d, khoản 1, Điều 52, BLHS năm 2015 với tình tiết “có tính chất côn đồ” trong tội Giết người theo điểm n, khoản 1 Điều 123 và tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm i, khoản 1, Điều 134 BLHS năm 2015 là giống nhau về nội dung, bản chất; khi được áp dụng để định tội danh thì không được áp dụng để quyết định hình phạt; trong thực tiễn xét xử áp dụng tình tiết định khung “có tính chất côn đồ” thì không áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội có tính chất côn đồ”.
Thứ hai, đối với việc áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự vừa là tình tiết định khung TNHS ở tội này vừa là tình tiết cấu thành độc lập ở tội khác thì cần có văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật thống nhất. Về mặt hướng dẫn của ngành Tòa án trước đây đã có Công văn số 38/NCPL ngày 6/01/1976 và tại Hội nghị tổng kết công tác ngành Tòa án năm 1995. Trước thực trạng tội phạm diễn biến phức tạp, văn bản hướng dẫn ban hành đã cũ, bộc lộ nhiều hạn chế, nên trong một số trường hợp áp dụng giải quyết vụ án gặp khó khăn, vì vậy tác giả kiến nghị TANDTC cần hướng dẫn cụ thể hoặc ban hành những án lệ về tội cố ý gây thương tích với tình tiết “có tính chất côn đồ” theo quy định tại điểm n, khoản 1 Điều 123 và điểm i, khoản 1, Điều 134, BLHS năm 2015 mang tính chuẩn mực trong hoạt động xét xử của ngành Tòa án để áp dụng thống nhất.