Mặc dù đã có một quá trình hình thành và phát triển lâu dài từ những văn bản pháp luật đầu tiên như Sắc lệnh số 21/SL năm 1946 nhưng án treo chưa bao giờ được coi là một hình phạt trong hệ thống hình phạt của Việt Nam. Thay vào đó, nó đóng vai trò như một biện pháp tư pháp quan trọng, hướng tới mục tiêu giáo dục, phòng ngừa tội phạm, đồng thời giảm thiểu chi phí cho ngân sách nhà nước trong việc giam giữ và quản lý phạm nhân.  

Mục tiêu của chế định án treo là khuyến khích người bị kết án tự tu dưỡng và lao động cải tạo ngay tại cộng đồng, với sự hỗ trợ từ gia đình và sự giám sát của chính quyền địa phương hoặc các cơ quan, tổ chức nơi họ cư trú/làm việc. Biện pháp này không chỉ đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật thông qua bản án có giá trị hiệu lực, mà còn mang lại tính nhân văn sâu sắc, đặc biệt đối với những người phạm tội ít nghiêm trọng, có khả năng tự cải tạo cao.

 

1. Án treo là gì? Án treo có phải là hình phạt không?

"Án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, được Tòa án áp dụng đối với người phạm tội bị phạt tù không quá 03 năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, xét thấy không cần bắt họ phải chấp hành hình phạt tù." Được quy định tại Điều 1 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự (BLHS) về án treo.

Một ví dụ cụ thể là trường hợp của bị cáo Lê Xuân Minh (32 tuổi, ngụ tại TP. Biên Hòa, Đồng Nai) bị Tòa án nhân dân TP. Biên Hòa tuyên phạt 1 năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội trộm cắp tài sản. Theo bản án, Minh, một nhân viên giao hàng, đã mở hộp hàng của khách và lấy trộm một chiếc điện thoại trị giá hơn 12 triệu đồng. Hội đồng xét xử đã cho bị cáo hưởng án treo vì nhận định rằng bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt và có nơi cư trú rõ ràng.

Như vậy, án treo không được coi là một hình phạt theo quy định của Bộ Luật hình sự mà là một biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện được áp dụng với người phạm tội bị phạt tù không quá 03 năm.

 

2. Điều kiện được hưởng án treo theo Bộ Luật hình sự

Điều kiện để hưởng án treo được quy định tại Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP được bổ sung bởi Điểm b Khoản 1 Điều 1 Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP quy định như sau:

Người bị xử phạt tù có thể được xem xét cho hưởng án treo khi có đủ các điều kiện sau đây:

(1). Bị xử phạt tù không quá 03 năm.

(2). Người bị xử phạt tù có nhân thân là ngoài lần phạm tội này, người phạm tội chấp hành chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú, nơi làm việc.

+ Đối với người đã bị kết án nhưng thuộc trường hợp được coi là không có án tích, người bị kết án nhưng đã được xóa án tích, người đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị xử lý kỷ luật mà tính đến ngày phạm tội lần này đã quá thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật theo quy định của pháp luật nếu xét thấy tính chất, mức độ của tội phạm mới được thực hiện thuộc trường hợp ít nghiêm trọng hoặc người phạm tội là đồng phạm có vai trò không đáng kể trong vụ án và có đủ các điều kiện khác thì cũng có thể cho hưởng án treo;

+ Đối với người bị kết án mà khi định tội đã sử dụng tình tiết “đã bị xử lý kỷ luật” hoặc “đã bị xử phạt vi phạm hành chính” hoặc “đã bị kết án” và có đủ các điều kiện khác thì cũng có thể cho hưởng án treo;

+ Đối với người bị kết án mà vụ án được tách ra để giải quyết trong các giai đoạn khác nhau (tách thành nhiều vụ án) và có đủ các điều kiện khác thì cũng có thể cho hưởng án treo.

(3). Có từ 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên, trong đó có ít nhất 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Trường hợp có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thì số tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phải nhiều hơn số tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự từ 02 tình tiết trở lên, trong đó có ít nhất 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

(4). Có nơi cư trú rõ ràng hoặc nơi làm việc ổn định để cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giám sát, giáo dục.

Nơi cư trú rõ ràng là nơi tạm trú hoặc thường trú có địa chỉ được xác định cụ thể theo quy định của Luật Cư trú mà người được hưởng án treo về cư trú, sinh sống thường xuyên sau khi được hưởng án treo.

Nơi làm việc ổn định là nơi người phạm tội làm việc có thời hạn từ 01 năm trở lên theo hợp đồng lao động hoặc theo quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.

(5). Xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù nếu người phạm tội có khả năng tự cải tạo và việc cho họ hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội

(6). Khi xem xét, quyết định cho bị cáo hưởng án treo Tòa án phải xem xét thận trọng, chặt chẽ các điều kiện để bảo đảm việc cho hưởng án treo đúng quy định của pháp luật, đặc biệt là đối với các trường hợp hướng dẫn tại khoản 2, khoản 4 và khoản 5 Điều 3 02/2018/NQ-HĐTP.

Các điều kiện để Tòa án xem xét cho một người được hưởng án treo được quy định tại Điều 65 BLHS 2015 và được hướng dẫn chi tiết tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP và Nghị quyết số 02/2025/NQ-HĐTP). Các điều kiện này bao gồm:  

  • Mức hình phạt: Người phạm tội bị xử phạt tù không quá 03 năm. Điều kiện này mang tính định lượng rõ ràng, là cơ sở đầu tiên để xem xét.  ​
  • Nhân thân: Người phạm tội phải có nhân thân tốt. Theo hướng dẫn, điều này được hiểu là ngoài lần phạm tội đang xét, người đó luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật, và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ công dân ở nơi cư trú/làm việc. Ngay cả trường hợp người phạm tội đã từng bị kết án nhưng đã được xóa án tích, họ vẫn có thể được xem xét hưởng án treo.  
  • Tình tiết giảm nhẹ: Người phạm tội phải có từ hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên theo quy định tại Điều 51 BLHS, trong đó có ít nhất một tình tiết thuộc Khoản 1 Điều 51.  
  • Các trường hợp loại trừ: Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP liệt kê cụ thể các trường hợp không được hưởng án treo, bao gồm: người chủ mưu, cầm đầu, có tính chất côn đồ, tái phạm, tái phạm nguy hiểm, phạm tội nhiều lần hoặc bị xét xử cùng một lúc về nhiều tội (trừ người dưới 18 tuổi).  
  • Khả năng cải tạo và nơi cư trú: Tòa án phải xét thấy không cần thiết phải cách ly người phạm tội khỏi xã hội và việc cho họ hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội. Điều kiện này đòi hỏi người phạm tội phải có nơi cư trú rõ ràng hoặc nơi làm việc ổn định để cơ quan có thẩm quyền giám sát, giáo dục.  

2.1. Thời gian thử thách và các nghĩa vụ phải tuân thủ khi hưởng án treo

Theo Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) và các văn bản hướng dẫn thi hành, thời gian thử thách và các nghĩa vụ liên quan được quy định cụ thể như sau:

Thời gian thử thách do Tòa án sẽ ấn định thời gian thử thách cho người được hưởng án treo, dao động từ 01 năm đến 05 năm. Thời gian thử thách được tính từ ngày bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật. Trong trường hợp bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị, thì thời gian thử thách sẽ được tính từ ngày Tòa án tuyên án sơ thẩm.  

Các nghĩa vụ mà người được hưởng án treo cần tuân thủ, gồm:

  • Người được hưởng án treo phải chấp hành nghiêm chỉnh cam kết tuân thủ pháp luật, các nghĩa vụ công dân, cũng như các nội quy, quy chế tại nơi cư trú, làm việc hoặc học tập .
  • Họ phải chịu sự giám sát và giáo dục của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc . Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp trong việc giám sát và giáo dục người đó .
  • Người được hưởng án treo phải có mặt theo giấy triệu tập và cam kết việc chấp hành án .

Ngoài ra, họ phải chấp hành đầy đủ các hình phạt bổ sung (nếu có) và nghĩa vụ bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp có lý do khách quan được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận. Hằng tháng, người được hưởng án treo phải báo cáo bằng văn bản về tình hình chấp hành nghĩa vụ của mình với Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục.

2.2. Điều kiện rút ngắn thời gian thử thách của án treo 

Theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 2019 và quy định tại khoản 1 Điều 8 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP hướng dẫn các điều kiện để người được hưởng án treo được rút ngắn thời gian thử thách bao gồm:  

  • Đã chấp hành được một nửa thời gian thử thách: Đây là điều kiện tiên quyết.
  • Có nhiều tiến bộ: Điều này được thể hiện bằng việc người được hưởng án treo đã nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật và các nghĩa vụ trong thời gian thử thách , bao gồm việc báo cáo định kỳ và tuân thủ các cam kết. Bên cạnh đó, người đó phải tích cực học tập, lao động, sửa chữa lỗi lầm hoặc lập được thành tích trong lao động, bảo vệ an ninh, trật tự và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền khen thưởng.  
  • Có đề nghị bằng văn bản: Việc rút ngắn thời gian thử thách phải được Ủy ban nhân dân cấp xã, cơ quan hoặc tổ chức được giao giám sát, giáo dục đề nghị bằng văn bản.  

Ngoài ra, cần lưu ý các quy định cụ thể khác:

  • Mỗi năm, người được hưởng án treo chỉ được xét rút ngắn thời gian thử thách một lần, mỗi lần từ 01 tháng đến 01 năm.  
  • Người đó có thể được rút ngắn nhiều lần, nhưng tổng thời gian đã chấp hành trên thực tế phải đảm bảo bằng ba phần tư thời gian thử thách Tòa án đã tuyên.  

Trong trường hợp đặc biệt, nếu người được hưởng án treo lập công hoặc mắc bệnh hiểm nghèo và đáp ứng các điều kiện trên, Tòa án có thể xem xét rút ngắn hết thời gian thử thách còn lại.

2.3. Người được hưởng án treo bị buộc chấp hành án phạt tù của bản án khi nào?

Một người đang hưởng án treo có thể bị buộc phải chấp hành hình phạt tù giam nếu xảy ra một trong hai trường hợp sau đây:

  • Cố ý vi phạm nghĩa vụ từ hai lần trở lên Nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên, Tòa án có quyền ra quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Nghĩa vụ này bao gồm việc chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, nội quy nơi cư trú, nơi làm việc; có mặt theo giấy triệu tập; và chấp hành đầy đủ các hình phạt bổ sung hoặc nghĩa vụ bồi thường thiệt hại (trừ trường hợp có lý do chính đáng). Việc Tòa án ra quyết định buộc chấp hành hình phạt tù có thể được thực hiện sau khi có đề nghị từ Ủy ban nhân dân cấp xã, cơ quan hoặc tổ chức được giao giám sát, giáo dục.  
  • Phạm tội mới trong thời gian thử thách Nếu trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo lại phạm một tội mới, Tòa án sẽ tổng hợp hình phạt của bản án trước với hình phạt của bản án mới. Ví dụ, nếu một người đang trong thời gian thử thách của án treo và phạm một tội mới bị tuyên phạt tù, Tòa án sẽ tổng hợp cả hai bản án và người đó sẽ phải chấp hành hình phạt tù giam.  

Theo các quy định pháp luật hiện hành, Tòa án nhân dân có thẩm quyền sẽ tổ chức một phiên họp để xem xét, quyết định việc buộc chấp hành hình phạt tù đối với người vi phạm. Phiên họp này bao gồm 03 Thẩm phán và có sự tham gia của đại diện Viện Kiểm sát cùng cấp. Dựa trên hồ sơ và ý kiến của Viện Kiểm sát, Hội đồng phiên họp có thể chấp nhận hoặc không chấp nhận đề nghị buộc chấp hành hình phạt tù. Quyết định này sẽ có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị mà không có kháng cáo hoặc kháng nghị.

 

3. Thực tiễn áp dụng án treo và những vấn đề phát sinh

3.1. Thống kê và đánh giá thực tiễn áp dụng án treo

Án treo là một biện pháp được áp dụng rất phổ biến trong thực tiễn xét xử tại Việt Nam. Dù thiếu số liệu thống kê trong 5 năm gần nhất, dữ liệu từ Tòa án nhân dân tối cao trong giai đoạn 2015-2017 cho thấy tỷ lệ áp dụng án treo luôn chiếm một tỷ lệ đáng kể trong tổng số các bản án hình sự. Dưới đây là bảng tỷ lệ áp dụng án treo và các hình phạt khác tại Việt Nam (Giai đoạn 2015-2017) theo nguồn của Tạp chí toà án nhân dân tối cao:

Năm Tổng số bị cáo Số bị cáo được hưởng án treo Tỷ lệ Án treo (%)
2015 106,078 21,450 20.2%
2016 103,985 18,443 17.7%
2017 94,423 17,644 18.7%

Các số liệu này khẳng định rằng án treo là một công cụ hiệu quả và được sử dụng rộng rãi, thể hiện mục tiêu giáo dục, nhân đạo của pháp luật đối với những người phạm tội ít nghiêm trọng, có khả năng tự cải tạo. Tuy nhiên, việc áp dụng phổ biến này cũng đặt ra những thách thức trong việc đảm bảo tính nghiêm minh và thống nhất, đặc biệt khi các bản án sơ thẩm bị Tòa án cấp trên sửa đổi. 

3.2. Phân tích các bản án thực tiễn và sự khác biệt giữa các cấp xét xử

Thực tiễn xét xử cho thấy tồn tại sự khác biệt trong nhận thức và áp dụng pháp luật giữa các cấp Tòa án, dẫn đến việc nhiều bản án sơ thẩm bị Tòa án cấp phúc thẩm sửa đổi, chuyển từ án treo sang hình phạt tù giam. Các vụ án điển hình được tổng hợp cho thấy sự thiếu thống nhất này thường xảy ra trong các vụ án phức tạp, có tính chất côn đồ hoặc nhạy cảm. Dưới đây là bảng tóm tắt các bản án phúc thẩm sửa đổi bản án sơ thẩm được tổng hợp từ các bản án thực tiễn:

Vụ án Tội danh Phán quyết Sơ thẩm Lý do sửa đổi của Phúc thẩm Phán quyết Phúc thẩm
TAND tỉnh Tiền Giang Giao cấu với người từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi 3 năm tù, án treo Không phù hợp với tính chất và mức độ phạm tội 3 năm tù giam
TAND tỉnh Bình Dương Cố ý gây thương tích 2 năm tù, án treo Hành vi có tính chất côn đồ 2 năm tù giam
TAND tỉnh Cà Mau Cố ý gây thương tích 1 năm tù, án treo Chưa nghiêm, bị hại kháng cáo Sửa án, không cho hưởng án treo
TAND tỉnh Vĩnh Long Tổ chức đánh bạc 1 năm 6 tháng tù, án treo Phán quyết quá khoan hồng Sửa án, chuyển thành 1 năm 3 tháng tù giam

Phân tích các bản án này cho thấy, khi Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng án treo dựa trên các điều kiện pháp lý hiện có, Tòa án cấp phúc thẩm lại có quyền sửa đổi bản án dựa trên những nhận định mang tính định tính và tùy nghi hơn, như "chưa nghiêm", "không phù hợp", hoặc "có tính chất côn đồ". Sự khác biệt này không chỉ phản ánh sự thiếu thống nhất trong nhận thức và áp dụng pháp luật, mà còn cho thấy cơ chế giám sát và kiểm tra của cấp phúc thẩm là cần thiết để đảm bảo tính công bằng và nghiêm minh.  

3.3. Những điểm mâu thuẫn và bất cập trong quy định

Mặc dù đã có nhiều cải tiến, các quy định về án treo vẫn bộc lộ những điểm mâu thuẫn và bất cập. Một trong những vấn đề lớn nhất là tính chất định tính của một số điều kiện như "nhân thân tốt" và "xét thấy không cần cách ly khỏi xã hội". Các khái niệm này tạo ra một không gian tùy nghi rộng rãi cho Hội đồng xét xử. Mặc dù sự tùy nghi này cho phép cá thể hóa hình phạt để phù hợp với từng trường hợp cụ thể, nó cũng là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến sự thiếu thống nhất trong thực tiễn xét xử. Cùng một hồ sơ vụ án, các thẩm phán có thể đưa ra những phán quyết khác nhau tùy thuộc vào nhận định chủ quan của họ.  

Sự thiếu thống nhất này được thể hiện qua việc các văn bản hướng dẫn thường xuyên phải sửa đổi và bổ sung. Ví dụ, Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP đã được sửa đổi bởi Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP và Nghị quyết số 02/2025/NQ-HĐTP. Sự ra đời liên tục của các văn bản này cho thấy những quy định trước đó đã bộc lộ bất cập, không theo kịp với thực tiễn hoặc thiếu sự đồng bộ với các luật khác như Luật Cư trú. Mặc dù đây là một dấu hiệu của sự năng động, sẵn sàng hoàn thiện của hệ thống pháp luật, nhưng nó cũng cho thấy sự thiếu ổn định trong một thời gian dài, gây khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng và làm phát sinh những tranh cãi pháp lý. Đây cũng là lý do tại sao các học giả và chuyên gia pháp lý đề xuất việc pháp điển hóa chế định này, tập hợp tất cả các quy định rải rác thành một chương riêng trong BLHS để đảm bảo tính rõ ràng và chặt chẽ.  

3.4. Các tiêu chí "không chính thức" trong xét xử

Ngoài các điều kiện được quy định rõ ràng trong pháp luật, thực tiễn xét xử cho thấy các Tòa án còn xem xét các tiêu chí "không chính thức" nhưng lại có vai trò quyết định đến việc có được hưởng án treo hay không. Các tiêu chí này bao gồm thái độ thành khẩn, ăn năn hối cải, việc bồi thường thiệt hại cho bị hại, và sự bảo đảm từ gia đình hoặc tổ chức nơi cư trú/làm việc.  

Ví dụ, một trường hợp đủ điều kiện về mặt luật định nhưng không có nơi làm việc ổn định hoặc nơi cư trú rõ ràng có thể bị Tòa án từ chối cho hưởng án treo. Ngược lại, một trường hợp khác có nhân thân không hoàn hảo nhưng đã khắc phục toàn bộ hậu quả, có sự bảo lãnh của người thân có thể được xem xét một cách tích cực hơn. Các bản án bị sửa đổi ở cấp phúc thẩm thường viện dẫn lý do mà không đơn thuần là sự thiếu vắng các điều kiện pháp lý, mà là sự không phù hợp của phán quyết với tính chất thực tiễn của vụ án. Điều này cho thấy quá trình ra quyết định của Tòa án không chỉ là một quá trình áp dụng luật một cách máy móc, mà còn là một quá trình đánh giá toàn diện các yếu tố chủ quan và khách quan, bao gồm cả các tiêu chí "phần chìm" này.  

 

4. Quan điểm học thuật và đề xuất hoàn thiện pháp luật

4.1. Các quan điểm học thuật về án treo

Chế định án treo đã được nhiều nhà khoa học pháp lý nghiên cứu và đưa ra các quan điểm khác nhau. Về bản chất, các học giả như Đinh Văn Quế và PGS.TS Lê Văn Cảm đều thống nhất định nghĩa án treo là một biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện. Dù có một số khác biệt nhỏ trong cách diễn đạt, tất cả các quan điểm đều nhấn mạnh mục đích tạo cơ hội cho người phạm tội tự cải tạo.  

Về ưu điểm, án treo thể hiện rõ chính sách nhân đạo và khoan hồng của Nhà nước. Nó cho phép người phạm tội tự sửa chữa lỗi lầm trong môi trường xã hội bình thường, tránh được nguy cơ bị lây nhiễm các thói xấu trong môi trường trại giam. Đồng thời, nó còn có tác dụng răn đe, giáo dục đối với cộng đồng và giúp duy trì sự ổn định của trật tự xã hội.

Tuy nhiên, án treo vẫn còn tồn tại nhiều nhược điểm. Một trong những hạn chế lớn nhất là sự thiếu thống nhất trong áp dụng do các điều kiện mang tính định tính. Các quy định về "nhân thân tốt" hay "nơi cư trú rõ ràng" còn khá chung chung, thiếu hướng dẫn cụ thể và đồng bộ với các luật khác như Luật Cư trú. Ngoài ra, việc thiếu hướng dẫn riêng biệt cho các đối tượng đặc thù như người dưới 18 tuổi cũng gây khó khăn trong thực tiễn xét xử.  

4.2. Đề xuất cải cách và hoàn thiện chế định án treo

Từ những bất cập trong thực tiễn và lý luận, cần có các kiến nghị nhằm hoàn thiện chế định án treo:

  • Pháp điển hóa các quy định: Một kiến nghị quan trọng là việc tập hợp các quy định về án treo hiện đang rải rác ở Điều 65 BLHS và các nghị quyết hướng dẫn thành một chương riêng biệt trong Bộ luật Hình sự. Việc này sẽ nâng cao tính chặt chẽ, rõ ràng và thống nhất của hệ thống pháp luật, giúp các cơ quan tố tụng áp dụng một cách chính xác hơn.  
  • Hướng dẫn cụ thể hóa các điều kiện: Cần có những hướng dẫn chi tiết và cụ thể hơn đối với các điều kiện mang tính định tính, đặc biệt là quy định về nhân thân của người đã từng có tiền án đã được xóa hoặc tiền sự đã hết thời hiệu. Điều này sẽ giảm bớt sự tùy nghi của Tòa án và đảm bảo tính công bằng.  
  • Xây dựng quy định riêng cho người dưới 18 tuổi: Các chuyên gia đề xuất xây dựng một chế định án treo riêng cho người dưới 18 tuổi, với các điều kiện nới lỏng hơn để phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý và mục tiêu giáo dục, phục hồi. Chẳng hạn, có thể bỏ điều kiện "nhân thân tốt" và chỉ cần có từ 02 tình tiết giảm nhẹ mà không phân biệt khoản.  

 

5. Nghiên cứu so sánh và tác động xã hội

5.1. Lịch sử hình thành chế định án treo tại Việt Nam

Khi cho người phạm tội được hưởng án treo, tòa án ấn định thời gian thử thách từ 1 năm đến 5 năm. Đây là thời gian người bị án treo được giao cho cơ quan hoặc tổ chức nơi người đó làm việc hoặc thường trú để theo dõi giáo dục. Thời gian thử thách là ràng buộc pháp lý đối với người bị kết án và để cơ quan có trách nhiệm kiểm tra kết quả tự cải tạo của người này. Thời gian thử thách không được ngắn hơn thời hạn của hình phạt tù đã tuyên và trong thực tế thường là dài hơn. Để khuyến khích người bị kết án cải tạo tốt, luật hình sự cho phép tòa án được rút ngắn thời gian thử thách sau khi họ đã chấp hành được một nửa thời gian đó trên cơ sở đề nghị của cơ quan, tổ chức đang giám sát, giáo dục người bị án treo.

Người được hưởng án treo không được miễn mà buộc phải chấp hành hình phạt tù đã tuyên nếu trong thời gian thử thách lại phạm tội mới. Trong trường hợp này, tòa án tổng hợp hình phạt tù của bản án cho hưởng án treo với hình phạt mới tuyên theo quy định của luật hình sự về tổng hợp hình phạt của nhiều bản án.

Việc quy định án treo trong luật hình sự Việt Nam là sự thể hiện nguyên tắc “Nghiêm trị kết hợp với khoan hồng", “Trừng trị kết hợp với giáo dục, cải tạo". Án treo có tác dụng tạo điều kiện, khuyến khích người phạm tội tự giác cải tạo trong môi trường không bị cách ly khỏi xã hội dưới sự giám sát của cơ quan hoặc tổ chức. Do có tính tích cực như vậy nên án treo được quy định trong luật hình sự của nhiều nước. Ở Việt Nam, án treo được quy định ngay từ những năm đầu của Nhà nước dân chủ nhân dân và tồn tại cho đến ngày nay. Trong quá trình đó, các quy định về án treo cũng đã có sự thay đổi để ngày càng hoàn thiện, đáp ứng được yêu cầu của đấu tranh phòng chống tội phạm. Văn bản pháp luật đầu tiên quy định về án treo là Sắc lệnh số 21 năm 1946. Trước khi có Bộ luật hình sự đầu tiên (Bộ luật hình sự năm 1985, sau đó được Bộ luật hình sự năm 1985 sửa đổi, bổ sung năm 1991), án treo có thời gian được coi là một hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù trong hệ thống hình phạt. Trong Bộ luật hình sự năm 1985 và Bộ luật hình sự năm 1999 (Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009), án treo đều được xác định là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện. Điều kiện cho hưởng án treo cũng như điều kiện thử thách theo Bộ luật hình sự năm 1999 chặt chẽ hơn so với Bộ luật hình sự năm 1985 (mức phạt tù tối đa từ 5 năm rút xuống còn 3 năm; điều kiện không phạm tội mới thay thế cho điều kiện không phạm tội mới do cố ý hoặc không phạm tội mới do vô ý và bị phạt tù). Việc quy định các điều kiện cho hưởng án treo chặt chẽ hơn nhằm hạn chế sự lạm dụng của người áp dụng luật.

Hiện nay, các quy định về án treo đang được áp dụng bởi Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và năm 2025.

5.2. So sánh án treo của Việt Nam với pháp luật Cộng hòa Liên bang Đức

Nghiên cứu so sánh chế định án treo của Việt Nam với pháp luật của một quốc gia thuộc hệ thống Civil Law như Đức có thể mang lại những bài học quý giá. Tại Đức, chế định này được gọi là Freiheitsstrafe zur Bewährung. Dưới đây là Bảng so sánh chế định án treo giữa Việt Nam và Đức:

Tiêu chí Việt Nam Đức
Căn cứ pháp lý BLHS 2015 và các Nghị quyết hướng dẫn của TAND Tối cao Bộ luật Hình sự Đức (Strafgesetzbuch)
Điều kiện áp dụng

Phạt tù không quá 3 năm, có nhân thân tốt, có từ 2 tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú/làm việc rõ ràng và không cần cách ly xã hội 

Phạt tù không quá 2 năm, dựa trên social prognosis (dự báo xã hội) về khả năng không tái phạm 

Thời gian thử thách

Từ 01 năm đến 05 năm 

Từ 02 năm đến 05 năm 

Mục đích

Miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện để tạo cơ hội tự cải tạo dưới sự giám sát của cộng đồng  

Thi hành án tù "ngoại trú" (outpatient execution), dựa trên đánh giá khả năng tự cải tạo 

Điểm tương đồng giữa hai hệ thống là cả Việt Nam và Đức đều coi đây là một biện pháp miễn chấp hành án tù có điều kiện, hướng đến mục tiêu giáo dục và phòng ngừa tái phạm. Tuy nhiên, điểm khác biệt cơ bản nằm ở căn cứ áp dụng. Trong khi Việt Nam dựa trên một hệ thống các tiêu chí định tính và định lượng (checklist), Đức lại tập trung vào việc đánh giá tổng thể và xây dựng một "dự báo xã hội" về khả năng người phạm tội sẽ không tái phạm. Quá trình này đòi hỏi sự chuyên môn cao và đánh giá cá nhân một cách sâu sắc hơn. Việt Nam có thể học hỏi từ mô hình này để nâng cao chất lượng đánh giá "khả năng tự cải tạo" của người phạm tội, thay vì chỉ dựa vào sự tùy nghi của thẩm phán.  

5.3. Đánh giá tác động xã hội của án treo

Chế định án treo có tác động tích cực đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Trước hết, nó thể hiện tính nhân văn của pháp luật, tạo điều kiện cho những người phạm tội không nghiêm trọng có cơ hội sửa chữa lỗi lầm và tiếp tục đóng góp cho xã hội. Án treo cũng có tác dụng giáo dục và răn đe không chỉ đối với người bị kết án mà còn đối với cả cộng đồng xung quanh. Việc người bị kết án được sống và làm việc tại địa phương, dưới sự giám sát của cộng đồng, giúp họ cảm nhận được sự bao dung của xã hội và có động lực để trở thành công dân có ích.  

Mặc dù vậy, việc áp dụng án treo cũng phải đối mặt với những lo ngại từ dư luận xã hội, đặc biệt trong các vụ án phức tạp, nhạy cảm. Các bản án sơ thẩm bị Tòa án cấp phúc thẩm sửa đổi, chuyển từ án treo sang tù giam (như đã phân tích ở Chương 2) cho thấy một mối quan hệ hai chiều giữa thực tiễn tư pháp và niềm tin xã hội. Khi một bản án được coi là quá khoan hồng, dư luận và các cơ quan tố tụng cấp trên sẽ phản ứng, buộc hệ thống phải tự điều chỉnh để đảm bảo tính nghiêm minh và công bằng, từ đó củng cố lòng tin của công chúng vào hệ thống tư pháp. Điều này chứng tỏ sự giám sát của dư luận và các cơ quan tiến hành tố tụng là rất quan trọng để đảm bảo án treo được áp dụng đúng mục đích.

Kết luận

Chế định án treo ở Việt Nam là một biện pháp pháp lý quan trọng và nhân văn, thể hiện tính ưu việt của chính sách hình sự. Tuy nhiên, trong thực tiễn áp dụng, vẫn tồn tại những bất cập do các điều kiện mang tính định tính, dẫn đến sự thiếu thống nhất trong xét xử giữa các cấp Tòa án. Điều này đòi hỏi cần có sự hướng dẫn cụ thể, chặt chẽ hơn từ cơ quan có thẩm quyền nhằm bảo đảm tính thống nhất trong thực tiễn. Đồng thời, việc áp dụng án treo cũng cần được giám sát chặt chẽ để vừa thể hiện tính khoan hồng, vừa đảm bảo tính răn đe của pháp luật.