Luât sư tư vấn:

Nguyên tắc chung về áp dụng pháp luật được quy định tại khoản 1 Điều 156 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) là:

“Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng đối với hành vi xảy ra tại thời điểm mà văn bản đó đang có hiệu lực”.

Như vậy, để xác định một hành vi là xử sự hợp pháp hay không hợp pháp phải căn cứ vào pháp luật ở thời điểm thực hiện hành vi; việc xác định các quyền dân sự, nghĩa vụ dân sự phát sinh từ một sự kiện pháp lý thì phải căn cứ vào pháp luật ở thời điểm có sự kiện pháp lý ấy.

Pháp luật về thừa kế được áp dụng để giải quyết tranh chấp, qua các thời kỳ, cần lưu ý các văn bản quy phạm pháp luật, cụ thể là:

-   Thông tư số 81/TANDTC ngày 24/7/1981 của Tòa án Nhân dân Tối cao hướng dẫn giải quyết các tranh chấp về thừa kế.

-    Pháp lệnh Thừa kế năm 1990 (có hiệu lực thi hành từ ngày 10/9/1990 đến ngày 30/6/1996) - Pháp lệnh Thừa kế.

-    Bộ luật Dân sự năm 1995 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/1996 đến ngày 31/12/2005).

-   Bộ luật Dân sự năm 2005 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2006 đến ngày 31/12/2016).

-   Bộ luật dân sự năm 2015 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2017).

Trong pháp luật về thừa kế, thời điểm mở thừa kế là thời điểm rất quan trọng. Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người để lại tài sản chết hoặc Tòa án tuyên bố là đã chết (khoản 1 Điều 611 Bộ luật dân sự năm 2015). Thời điểm mở thừa kế cũng là thời điểm phát sinh quyền và nghĩa vụ của người thừa kế (Điều 614 Bộ luật dân sự năm 2015). Như vậy, quan hệ thừa kế phát sinh từ thời điểm mồ thừa kế nên phải áp dụng pháp luật ở thời điểm mở thừa kế để xác định các chủ thể tham gia quan hệ thừa kế (là những người thừa kế), xác định đối tượng của quan hệ thừa kế (là di sản thừa kế). Quy định của pháp luật ở mỗi thời kỳ có khác nhau nên kết quả xác định sẽ có khác nhau.

Ví dụ: Mở thừa kế ở thời kỳ thi hành Bộ luật dân sự năm 1995 thì con của người để lại thừa kế chết cùng thời điểm với người để lại thừa kế sẽ không được hưởng thừa kế và cũng không có thừa kế thế vị; nhưng nếu mở thừa kế ở thời kỳ thi hành Bộ luật dân sự nám 2005 thì có thừa kế thế vị (các cháu được hưởng thay phần người con của người để lại thừa kế). Mở thừa kế ở thời kỳ thi hành Bộ luật dân sự năm 1995 thì đất nông nghiệp trồng cây hàng năm chỉ là di sản cho người có đủ điểu kiện nhất định (như có điều kiện sử dụng trực tiếp đất đúng mục đích - Điều 740 Bộ luật dân sự năm 1995) nhưng mở thừa kế trong thời kỳ thi hành Bộ luật dân sự năm 2005 thì đất này là di sản cho mọi đối tượng thừa kế theo pháp luật.

Di sản thuộc loại tài sản cụ thể nào là yếu tố quan trọng để xác định pháp luật áp dụng (là nhà ở thì áp dụng pháp luật về nhà ở, là quyền sử dụng đất thì áp dụng pháp luật đất đai). Việc xác định này là căn cứ vào đặc điểm của tài sản ở thời điểm mở thừa kế. Khi người để lại tài sản chết, tài sản là nhà ở thì dù nhà ở không còn tại thời điểm tranh chấp vẫn phải xác định di sản là nhà ở, là tranh
chấp thừa kế nhà ở chứ không phải chỉ là tranh chấp thừa kế quyển sử dụng đất.

Tuy xác định di sản, xác định người thừa kế là theo pháp luật ở thời điểm mở thừa kế nhưng việc chia đi sản lại phải theo pháp luật ở thời điểm chia. Ví dụ: Ihừa kế mở vào năm 2000, chưa có quy định về hạn chế phân chia thừa kế trong một thời hạn nếu bên vợ hoặc chồng của người chết bị “ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống”, nhưng ở thời điểm chia là năm 2007 có quy định hạn chế này (Điểu 686 Bộ luật dân sự năm 2005) thì việc chia phải theo quy định hạn chế này.

Pháp luật thừa kế có một chế định quan trọng là thừa kế theo di chúc. Pháp luật các thời kỳ đều quy định di chúc có hiệu lực ở thời điểm mở thừa kế. Tuy nhiên, khái niệm di chúc có hiệu lực khác với khái niệm di chúc hợp pháp. Khi có nhiều bản di chúc hợp pháp thì bản cuối cùng có hiệu lực (khoản 5 Điều 643 Bộ luật dân sự năm 2015). Vì vậy, pháp luật để xác định di chúc hợp pháp lại là pháp luật ở thời điểm lập di chúc theo nguyên tắc quy định tại Điều 156 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) nêu trên. Khi lập di chúc, người lập di chúc không thể biết mình sẽ chết vào lúc nào, không thể biết pháp luật ở thời điểm mình chết quy định như thế nào. Vì vậy, pháp luật để xác định di chúc hợp pháp không thể là pháp luật ở thời điểm mở thừa kế.

Như vậy, việc áp dụng pháp luật về thừa kế cần lưu ý theo ba thời điểm khác nhau. Cụ thể là: Pháp luật áp dụng để xác định di chúc hợp pháp là pháp luật ở thời điểm lập di chúc; để xác định di sản thừa kế, người thừa kế, các quyền và nghĩa vụ của người thừa kế là pháp luật ở thời điểm mở thừa kế; để chia di sản thừa kế là pháp luật ở thời điểm chia.

Mọi vướng mắc pháp lý vui lòng tham khảo: Dịch vụ luật sư tư vấn pháp luật thừa kế trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi ngay: 1900.6162 để được hỗ trợ trực tuyến.

Luật Minh Khuê (tổng hợp & phân tích)