1. Khái niệm của thời điểm mở thừa kế

Theo quy định tại khoản 1, Điều 673 BLDS thì thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sau chết. Trong trường hợp Tòa tuyên bố một người đã chết thì thời điểm mở thừa kế là ngày được xác định theo quy định tại khoản 2 điều 81 BLDS . Ở đây , thời điểm mở thừa kế được chia ra làm hai cách xác định là thời điểm cá nhân chết và thời điểm cá nhân bị coi là chết. 

 

1.1. Thời điểm cá nhân chết 

Theo quy định tại khoản 1 điều 611 Bộ luật Dân sự: "Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết". Quy định nya đã xác định cái chết của một người theo nghĩa "chết về mặt sinh học (cái chết thực tế)".

Theo quy định của pháp luật về hộ tịch, trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày có người chết thì vợ, chồng hoặc con, cha, mẹ hoặc người thân thích khác của người chết có trách nhiệm đi đăng ký khai tử trường hợp người chết không có người thân thích thì đại diễn của cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan có trách nhiệm đi khai tử. Nội dung khai tử phải bao gồm các thông tin. Họ, chữ đệm, tên, năm sinh của người chết, số định danh cá nhân của người chết (nếu có), nơi chết nguyên nhân chết, giờ, ngày , tháng, năm chết theo Dương lịch, quốc tịch tiểu người chết là người nước ngoài. Do đó, thời điểm người có tài sản chết được xác định theo giấy chứng từ được cơ quan có thẩm quyền cấp. Như vậy, thời điểm chết để xác định thời điểm mở thừa kế phải căn cứ vào giấy báo tử hoặc giấy tờ thay thế giấy báo tử. Và tùy từng trường hợp mà thời điểm mở thừa kế sẽ được xác định theo ngày hoặc có thể chính xác đến giờ, phút cụ thể. Nhưng nếu chỉ lấy giấy báo từ hay các giấy tờ thay thế giấy báo từ thì sẽ gặp một vấn đề đó là người đi khai bao có thể thay đổi thời điểm mở thừa kế hàng việc khai báo hay đưa ra một thông tin về ngày chết không đúng với ngày chết của người để lại di sản. Một trong các hậu quả pháp lý sẽ bị thay đổi từ việc khai bảo không chính xác này là làm tăng thêm thời hiệu khởi kiện yêu cầu tòa án chia thừa kế.

 

1.2. Thời điểm cá nhân bị coi là chết

Trong thực tế chúng ta không chắc chắn về một cá nhân đã chết hay chưa những người này lại không để lại bất cứ một thông tin gì trong khoảng thời gian dài. Để tránh ảnh hưởng trực tiếp tới quyền, lợi ích của các chủ thể liên quan, pháp luật cho phép tuyên bố cá nhân đó đã chết. Khi cá nhân đó bị tuyên bố chết thì quan hệ tài sản của họ được giải quyết giống như người đã chết. Việc xác định một người còn sống hay đã chết là cơ sở cho việc xác định thời điểm phát sinh, chấm dứt nhiều quyền, nghĩa vụ của người đó trong các quan hệ pháp luật. Theo quy định tại khoản 1 Điều 71 Bộ luật Dân sự năm 2015, người có quyền, lợi ích liên quan có thể yêu cầu Tòa án ra quyết định tuyên bố một người là đã chết trong trường hợp sau:

- Sau 03 năm, kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích của Tòa án có hiệu lực pháp luật mà vẫn không có tin tức xác thực là con sống Biệt tích trong chiến tranh sau 05 năm, kể từ ngày chiến tranh kết thúc mà vẫn không có tin tức xác thực là con sống;

- Bị tai nạn hoặc thảm họa , thiên tài mà sau 02 năm, kể từ ngày tai nạn hoặc thảm họa thiên tai  đó chấm dứt vẫn không có tin tức xác thực là còn sống , trừ trường hợp pháp luật có quy khác;

 - Biệt tích 05 năm liền trở lên và không có tin tức xác thực là còn sống mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết;

Thời hạn 05 năm được tính từ ngày biết được tin tức cuối cùng về người đối nếu không xác định được ngày có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của tháng tiếp theo tháng có tin tức cuối cùng, nếu không xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng.

Theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, kèm theo đơn yêu cầu người yêu cầu phải gửi tài liệu, chúng cứ để chứng minh người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết thuộc các trường hợp nói trên. Trước khi ra quyết định tuyên bố một người là đã chết thì Tòa án phải ra quyết định thông báo tìm kiếm thông tin về người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết. Tùy từng trường hợp nêu trên mà Tòa án xác định ngày chết của người bị tuyên bố là đã chết 14 Quyết định của Tòa án tuyên bố một người là đã chết phải được gửi cho Ủy ban Nhân dân cấp xã nơi cư trú của người bị tuyên bố là đã chết để ghi chú theo quy định của pháp luật về hộ tịch. Theo khoản 1 Điều 611 "Trường hợp Tòa án tuyên bố một người là đã chết thì thời điểm mở thừa kế là ngày được xác định tại khoản 2 Điều 71 của Bộ luật này”. Với các quy định vừa nêu trên, thời điểm mở thừa kế được xác định trên cơ sở các quy định về tuyên bố cả nhân chết và ngày cá nhân bị coi là chết là ngày sau thời hạn 2–5 năm tính từ ngày xảy ra các sự kiện được quy định cụ thể tại khoản 1 Điều 7  Bộ luật Dân sự 2015. Xác định theo cách này thì vấn đề về thời hiệu được cải thiện hơn vì thời điểm mở thừa kẻ muộn hơn 2 - 5 năm nhưng lại phát sinh ra vấn đề những người chết trong thời gian 2 - 5 năm đó sẽ không được hưởng quyền thừa kế vì các quy định của luật hiện hành không cho phép người này được hưởng thừa kế do chết trước thời điểm mở thừa kế.

 

2. Ý nghĩa của việc xác định thời điểm mở thừa kế

Việc xác định thời điểm mở thừa kế là rất quan trọng cụ thể:

 - Xác định những người thừa kế của người đã chết là ai, vì “người thừa kế là cá nhân còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết. Trường hợp người thừa kế theo di chúc không là cá nhân thì phải tồn tại vào thời điểm mở thừa kế”. 

- Xác định được chính xác tài sản, quyền và nghĩa vụ về tài sản của người để lại thừa kế gồm những gì và đến khi chia di sản còn bao nhiêu.

- Xác định thời điểm có hiệu lực của di chúc (nếu người chết có để lại di chúc, Khoản 1 Điều 643 Bộ luật Dân sự năm 2015 đã quy định rõ: "Di chúc có hiệu lực từ thời điểm mở thừa kế"

- Xác định ngành quản lý di sản, quyền và nghĩa vụ của họ. Chỉ khi một người chết đi thì mới đất ra yêu cầu xác định khối di sản để lại và phát sinh chủ thể "người quản lý di sản". Di chúc có hiệu lực tù thời điểm mở thừa kể và người quan lý di sản theo di chúc cũng chính thức có các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. 

- Xác định thời hiệu thừa kế. Theo quy định tại Điều 625 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì:

Xác định văn bản pháp luật áp dụng trong từng thời kỳ, thời điểm mở thừa kế có ý nghĩa trong việc áp dụng quy định của Pháp lệnh Thừa kế năm 1990 đối với vấn đề xác định thời hiệu các vụ thừa kế đã mở trước ngày 10/9/1900; áp dụng Nghị quyết số 58/1998/NQ UBTVQH10 ngày 20/8/1998 của Ủy ban thường vụ Quốc hội để giải quyết các giao dịch dân sự về nhà ở (trong đó có quan hệ thừa kế) được xác lập trước ngày 01/7/1991. Áp dụng Nghị quyết số 1037/200 NQ - UBTVQH 11 ngày 27/7/2006 của Ủy ban thường vụ Quốc hội hướng dẫn giải quyết các trường hợp giao dịch về nhà ở (trong đó có quan hệ thừa kế) được xác lập trước ngày 01/7/1991 có người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia .

 

3. Quyền và nghĩa vụ của người mở thừa kế

Từ thời điểm mở thừa kế, người thừa kế có các quyền và nghĩa vụ sau đây:

Theo quy định tại điều 609 và 620 Bộ luật dân sự năm 2015 người thừa kế oc s các quyền sau:

+ Có quyền nhận di sản thừa kế.

+Có quyền từ chối nhận di sản, trừ trường hợp việc từ chối này nhằm để trốn tránh nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác Việc từ chối nhận di sản phải được lập thành văn bản, người từ chối phải báo cho những người thừa kế khác.

+ Việc từ chối nhận di sản phải đuộc lập thành văn bản người từ chối phải báo cáo cho những người thừa kế khác, người được giao nhiệm vụ phân chia tài sản. Công chứng nhà nước hoặc ủy ban nhân dân xã , phường - thị trấn nơi mở thừa kế về việc từ chối nhận di sản. Người thừa kế có nghĩa vụ liên quan đến di sản thừa kế (bảo quản, sửa chữa ) và các nghĩa vụ khác, cho nên pháp luật quy định thời hạn từ chối nhận di sản là 6 tháng kể từ ngày mở thừa kế. Sau 6 tháng kể từ ngày mở thừa kế, nếu không từ chối nhận di sản thì được coi là đồng ý nhận thừa kế.

Nghĩa vụ của người thừa kế, điều 615 Bộ luật dân sự năm 2015:

+ Những người hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Việc thực hiện những nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại được tiến hành như sau:

+ Trong trường hợp di sản chưa được chia thể nghĩa vụ tài sản do người chết để lại được ngành quản lý di sản thực hiện theo thỏa thuận của những người thừa kế.

+ Trong trường hợp di sản đã được chia thì mỗi người thừa kế thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại tương ứng nhưng không vượt qua phần tài sản mà mình đã nhận trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

+ Trong trường hợp Nhà nước, cơ quan tổ chức hướng di sản theo di chúc thì cũng phải thực hiện nghĩa vụ tái sản do người chết để lại như người thừa kế là cá nhân. 

 

4. Câu hỏi thường gặp về mở thừa kế theo luật

4.1 Địa điểm mở thừa kế là ở đâu?

Địa điểm mở thừa kế là nơi cư trú cuối cùng của nguời để lại di sản, nếu  không xác định được nơi cư trú thì địa điểm mở thừa kế là nơi có toàn bộ hoặc phần lớn di sản theo quy định tạ khoản 2 điều 633 BLDS năm 2015. 

Địa điểm mở thừa kế được xác định theo đơn vị hành chính cấp cơ sở (xã, phường, thị trấn).

 

4.2 Địa điểm mở thừa kế là nơi cư trú cuối cùng của người để lại di sản?

Theo quy định tại điều 40 BLDS 2015 

"1. Nơi cư trú của cá nhân là nơi người đó thường xuyên sinh sống.

2. Trường hợp không xác định được nơi cư trú của cá nhân theo quy định tại khoản 1 Điều này thì nơi cư trú của cá nhân là nơi người đó đang sinh sống.

3. Trường hợp một bên trong quan hệ dân sự thay đổi nơi cư trú gắn với việc thực hiện quyền, nghĩa vụ thì phải thông báo cho bên kia biết về nơi cư trú mới."

Ngoài ra, BLDS 2015 quy định về nơi cư trú của người chưa thành niên, người dám hộ, nơi cư trú của vợ chồng, của quân nhân và nơi cư trú của người làm nghề lưu động tại điều 41 đến điều 45 BLDS 2015

Trên đây là tư vấn của chúng tôi về Thời điểm mở thừa kế là gì? Quyền và nghĩa vụ của người mở thừa kế..  Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900 6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.