1. Tình hình thế giới sau chiến tranh thế giới thứ hai

Đầu năm 1945, Chiến tranh thế giới thứ hai bước vào giai đoạn kết thúc. Nhiều vấn đề quan trọng và cấp bách đặt ra trước các cường quốc Đồng minh. Đó là (1) Nhanh chóng đánh bại hoàn toàn các nước phát xít; (2) Tổ chức lại thế giới sau chiến tranh; (3) Phân chia thành quả chiến thắng giữa các nước thắng trận. Như vậy, chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc đã mở ra một giai đoạn phát triển mới của tình hình thế giới. Một trật tự thế giới mới được hình thành với đặc trưng lớn là chia thế giới thành hai phe - tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa, do hai siêu cường Mĩ và Liên Xô đứng đầu mỗi phe. Các quốc gia trên thế giới trong những năm đầu sau chiến tranh dần dần bị phân hoá theo đặc trưng đó. Liên hợp quốc từ đó đã ra đời như một công cụ duy trì trật tự thế giới mới vừa được hình thành.

 

2. Ba trung tâm kinh tế - tài chính lớn nhất sau chiến tranh thế giới thứ hai

Sau khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, ba trung tâm kinh tế - tài chính lớn nhất thời điểm đó là: Mỹ, Tây Âu, Nhật Bản.

 

2.1. Nước Mỹ

Sau chiến tranh thế giới thứ hai, nước Mỹ bước sang giai đoạn phát triển mới với tiềm năng kinh tế - tài chính và lực lượng quân đội to lớn. Dựa vào đó, các giới cầm quyền Mĩ theo đuổi âm mưu thống trị toàn thế giới và nô dịch các quốc gia - dân tộc trên hành tinh. 

Từ năm 1945 đến năm 1973, nền kinh tế của Mĩ phát triển rất mạnh mẽ. Trong khoảng nửa sau những năm 40, sản lượng công nghiệp Mĩ chiếm tới hơn một nửa sản lượng công nghiệp toàn thế giới ( năm 1948 là hơn 56%). Năm 1949, sản lượng nông nghiệp Mĩ bằng hai lần sản lượng của các nước Anh, Pháp, Cộng hoà Liên bang Đức, Italia và Nhật Bản cộng lại. Mĩ nắm hơn 50% số tàu bè đi lại trên mặt biển, 3/4 dự trữ vàng của thế giới; nền kinh tế Mỹ chiếm gần 40% tổng sản phẩm kinh tế thế giới. Khoảng 20 năm sau chiến tranh, Mĩ đã đủ khả năng trở thành trung tâm kinh tế - tài chính lớn nhất thế giới. Sở dĩ kinh tế Mĩ có được sự phát triển và sức mạnh to lớn như vậy là do một số nguyên nhân sau:

- Lãnh thổ Mĩ rộng lớn, tài nguyên thiên nhiên được đánh giá là phong phú, nguồn nhân lực dồi dào, trình độ kĩ thuật cao, năng động, sáng tạo; 

- Mĩ là quốc gia lợi dụng chiến tranh để làm giàu, trong khi các nước khác đang tốn thời gian và con người vào chiến trường thì Mĩ tập trung sản xuất và thu lợi nhuận từ việc buôn bán vũ khí cũng như phương tiện chiến tranh

- Mĩ đã áp dụng thành công và triệt để những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học - kĩ thuật hiện đại để nâng cao năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm, điều chỉnh hợp lí cơ cấu sản xuất.

- Các tổ hợp công nghiệp - quân sự, các công ti, tập đoàn tư bản lũng đoạn Mĩ có sức sản xuất, cạnh tranh lớn và có hiệu quả ở cả trong và ngoài nước

- Các chính sách và biện pháp điều tiết của Nhà nước đóng vai trò quan trọng thúc đẩy kinh tế Mĩ phát triển.

Bên cạnh đó, nước Mĩ là quốc gia khởi đầu cho cuộc cách mạng khoa học - kĩ thuật hiện đại và đã đạt được nhiều thành tựu lớn. Mĩ là một trong những nước đi đầu trong các lĩnh vực chế tạo công cụ sản xuất mới (máy tính điện tử, máy tự động), vật liệu mới (polime, vật liệu tổng hợp), năng lượng mới (năng lượng nguyên tử, nhiệt hạch), và đi đầu cuộc "cách mạng xanh" trong nông nghiệp,... Điều đáng nói là mặc dù Mĩ là nước tư bản phát triển, là trung tâm kinh tế - tài chính của thế giới nhưng thực tế, nước Mĩ không hoàn toàn ổn định, xã hội Mĩ thời điểm đó vẫn chứa đựng nhiều mâu thuẫn giữa các tầng lớp xã hội.

Từ năm 1973 đến năm 1982, do tác động của cuộc khủng hoảng năng lượng thế giới, dù kinh tế Mĩ có lâm vào tình trạng khủng hoảng và suy thoái kéo dài, nhưng đến năm 1983, kinh tế Mĩ đã bắt đầu phục hồi và vẫn là nước đứng đầu thế giới về sức mạnh kinh tế - tài chính. Có thế nói, nền kinh tế - tài chính của Mĩ đã thực sự vững chãi khi tiếp tục trải qua nhiều đợt suy thoái ngắn trong suốt thập kỉ 90 nhưng kinh tế Mĩ vẫn luôn đứng đầu thế giới. Năm 2000, GDP của Mĩ là 9765 tỉ USD, bình quân GDP đầu người là 34600 USD. Nước Mĩ tạo ra 25% giá trị tỏng sản phẩm của toàn thế giới và có vai trò chi phối trong hầu hết tổ chức kinh tế - tài chính quốc tế.

 

2.2. Tây Âu

Sau khi khôi phục nền kinh tế bị tàn phá do chiến tranh, các nước Tây Âu đã bước sang giai đoạn phát triển mới với những thay đổi to lớn mà nổi bật là sự liên kết kinh tế - chính trị của các nước trong khu vực. Từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, các nước Tây Âu đã phải gánh chịu rất nhiều hậu quả nặng nề, tuy nhiên nhờ sự cố gắng của từng nước và sự viện trợ của Mĩ trong khuôn khổ "Kế hoạch Mácsan", đến khoảng năm 1950, kinh tế các nước tư bản Tây Âu cơ bản đã phục hồi, đạt được mức kinh tế trước chiến tranh. Sau giai đoạn phục hồi, từ thập kỉ 50 đến thập kỉ 70, nền kinh tế của các nước tư bản chủ yếu ở Tây Âu đều có sự phát triển nhanh. Đến đầu thập kỉ 70, Cộng hoà Liên bang Đức đã là cường quốc công nghiệp đứng thứ ba, Anh đứng thứ tư và Pháp đứng thứ năm trong thế giới tư bản. 

Tây Âu đã trở thành một trong ba trung tâm kinh tế - tài chính lớn của thế giới do một số yếu tố sau:

- Các nước Tây Âu đã áp dụng những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học - kĩ thuật hiện đại để tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm;

- Nhà nước có vai trò rất lớn trong việc quản lí, điều tiết, thúc đẩy nền kinh tế;

- Các nước Tây Âu đã tận dụng tốt các cơ hội bên ngoài như nguồn viện trợ của Mĩ, tranh thủ được giá nguyên liệu rẻ từ các nước thuộc thế giới thứ ba, hợp tác có hiệu quả trong khuôn khổ của Cộng đồng châu Âu.

Đến năm 1973, giống như Mĩ, Tây Âu cũng lâm vào tình trạng suy thoái, phát triển không ổn định, kéo dài đến đầu thập kỉ 90. Nền kinh tế của các nước Tây Âu gặp không ít khó khắn, sự phát triển thường diễn ra xen kẽ với khủng hoảng, suy thoái, lạm phát và thất nghiệp. Tuy nhiên, bước vào thập kỉ 90, sau khi trải qua một đợt suy thoái ngắn, từ năm 1994 trở đi kinh tế Tây Âu đã có sự phục hồi và phát triển và vẫn là một trong ba trung tâm kinh tế - tài chính lớn nhất thế giới.

 

2.3. Nhật Bản

Là nước bại trận trong Chiến tranh thế giới thứ hai nhưng từ sau năm 1945, Nhật Bản bước vào một thời kì phát triển mới với những thay đổi căn bản về chính trị - xã hội cùng những thành tựu như một sự "thần kì" về kinh tế. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, Bộ Chỉ huy tối cao lực lượng Đồng minh (SCAP) đã thực hiện ba cuộc cải cách lớn:

 - Một là, thủ tiêu chế độ tập trung kinh tế, trước hết là giải tán các "Daibátxư" (tức là các tập đoàn, công ti tư bản lũng đoạn còn mang tính dòng tộc)

- Hai là, cải cách ruộng đất, quy định địa chủ chỉ được sở hữu không quá 3 hécta ruộng, số còn lại Chính phủ đem bán cho nông dân

- Ba là, dân chủ hoá lao động thông qua thực hiện các luật lao động.

Dựa vào sự nỗ lực của bản thân và viện trợ của Mĩ, đến khoảng năm 1951 Nhật Bản đã khôi phục kinh tế, đạt mức trước chiến tranh. Sau đó, từ năm 1952 đến năm 1960, kinh tế Nhật Bản có bước phát triển nhanh chóng, nhất là từ 1960 - 1973, thường được gọi là giai đoạn phát triển kinh tế thần kì. Tốc độ tăng trưởng bình quân hằng năm của Nhật Bản từ năm 1960 - 1969 là 10,8%; từ năm 1970 - 1973, tuy có giảm nhưng vẫn đạt bình quân 7,8%, cao hơn rất nhiều so với nhiều nước phát triển khác. Vì vậy, từ đầu những năm 20 trở đi, Nhật Bản đã được coi là một trong ba trung tâm kinh tế - tài chính lớn nhất thế giới sau chiến tranh thế giới thứ hai cùng Mĩ và Tây Âu.

Trên đây là những thông tin về ba trung tâm kinh tế - tài chính lớn nhất thế giới sau chiến tranh thế giới thứ hai mà Luật Minh Khuê muốn cung cấp đến bạn đọc. Hy vọng bài viết này đã đem đến cho bạn những kiến thức bổ ích. Xin chân thành cảm ơn!