Khách hàng: Kính thưa Luật sư Minh khuê, Luật sư hãy giúp tôi phân tích rõ hơn về quá trình hình thành, phát triển của pháp luật quốc tế điều chỉnh về đầu tư nước ngoài giai đoạn trước chiến tranh thế giới thứ hai diễn ra như thế nào?

Cảm ơn!

Trả lời:

 

1. Khái quát về đầu tư nước ngoài

Đầu tư nước ngoài là một hiện tượng mang tính thực tiễn của xã hội loài người khi con người muốn tìm kiếm lợi nhuận cao hơn tại nơi khác ngoài phạm vi lãnh thổ quốc gia của mình. Trong thế giới cổ đại, tại các quốc gia đã có những hình thức đầu tư nước ngoài mang tính sơ khai, như việc một quốc gia cho phép những cá nhân, tổ chức của quốc gia khác có cơ sở sản xuất thủ công hay thực hiện cung ứng một số loại dịch vụ tại quốc gia của mình. Tuy nhiên, ở thời kỳ này, nội luật của “các quốc gia nhận đầu tư” điều chỉnh những hoạt động như vậy mà chưa có Luật Đầu tư quốc tế. Tiếp theo đó, một thời gian dài trong lịch sử, các quan hệ đầu tư nước ngoài hoặc được điều chỉnh bằng pháp luật trong nước của các quốc gia nhận đầu tư hoặc bằng tập quán quốc tế.

 

2. Khái quát về đầu tư nước ngoài ở các nước trên thế giới

Đến thế kỷ XX, đầu tư nước ngoài tại các quốc gia phát triển mạnh mẽ, dẫn tới việc Luật Đầu tư quốc tế ra đòi xuất phát từ nhu cầu cần có khung pháp lý quốc tế điều chỉnh quan hệ giữa nước nhận đầu tư và nhà đầu tư nước ngoài. Theo nguyên tắc chủ quyền lãnh thổ, đầu tư nước ngoài sẽ thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật nước nhận đầu tư. Tuy nhiên, để bảo vệ tổ chức, cá nhân của mình có đầu tư tại nước ngoài, quốc gia mà nhà đầu tư mang quốc tịch đã tìm cách đạt được các cam kết quốc tế vối nước nhận đầu tư về việc khuyến khích và bảo hộ cho nhà đầu tư của mình cũng như tài sản của họ tại nước nhận đầu tư.

Nhà đầu tư tìm kiếm cơ hội kinh doanh ở nước ngoài vì nguồn tài nguyên, thị trường, hiệu quả, tài sản, chiến lược hay các cơ hội sinh lợi khác. Nước nhận đầu tư muôn thu hút đầu tư nước ngoài vì cần có các nguồn lực bên ngoài hỗ trợ quá trình phát triển kinh tế như vốn, kỹ thuật, công nghệ, kỹ năng quản lý.... Bên cạnh đó, nước nhận đầu tư cũng cần kiểm soát đầu tư nưốc ngoài để hạn chế các tác động tiêu cực có thể có đến tài nguyên, môi trường, văn hóa, sức khỏe và sự an toàn của người dân cũng như các vấn đề thuộc trật tự công cộng, lợi ích công khác. Nước mà nhà đầu tư mang quốc tịch cũng có các lợi ích trong việc công dân, công ty của nưốc mình đầu tư ra nước ngoài như tăng cường quan hệ kinh tế, chính trị với nước nhận đầu tư và nguồn vốn từ lợi nhuận nhà đầu tư chuyển về nước.

Khi nước xuất khẩu vốn muốn thúc đẩy đầu tư ra nước ngoài, hay ít nhất muốn bảo vệ công dân mình và tài sản của họ ở nước ngoài, họ sẽ tìm kiếm sự bảo đảm chắc chắn về pháp lý trong luật quốc tế thay vì chỉ phụ thuộc vào nội luật của nước nhận đầu tư. Khi nước nhập khẩu vốn muốn thu hút đầu tư nướ ngoài, họ có thể sử dụng các cam kết quốc tế về bảo hộ, khuyến khích đầu tư như một công cụ gửi tín hiệu chào đón, làm an lòng nhà đầu tư nước ngoài và tăng sức hấp dẫn của môi trường đầu tư. Xuất phát từ những lợi ích trong xây dựng khung pháp lý quốc tế điều chỉnh đầu tư nước ngoài mà lĩnh vực pháp luật đầu tư quốc tế ra đời và phát triển mạnh mẽ như hiện nay.

Ở giai đoạn trước Chiến tranh thế giới thứ hai, quá trình hình thành, phát triển của pháp luật quốc tế điều chỉnh về đầu tư nước ngoài ta có thể xem xét và nghiên cứu ở những mục sau:

 

3. Trong thời kỳ Trung cổ, từ thế kỷ V đến thế kỷ XV

Trong xuất bản phẩm nổi tiếng Pháp luật của các dân tộc (1758), Emmeric de Vattel (1714-1767) - Luật sư quốc tế người Thụy Sỹ khẳng định, các quốc gia có quyền kiểm soát, đặt ra pháp luật, quy định về việc người nước ngoài vào lãnh thổ nước đó. Khi đến lãnh thổ quốc gia khác, họ phải tuân theo pháp luật nước sở tại và được quốc gia đó đối xử một cách không phân biệt, được hưởng sự bảo hộ tương tự như công dân của nước đó. Việc quốc gia sở tại có biện pháp gây thiệt hại cho người nưóc ngoài hoặc tài sản của họ đồng nghĩa với việc quốc gia đó gây thiệt hại cho quốc gia mà người nước ngoài mang quốc tịch. Tài sản của người nước ngoài được coi là một phần tài sản của quốc gia mà người nước ngoài mang quốc tịch.

Thời kỳ này, quy tắc tập quán bảo hộ ngoại giao được hình thành trong luật quốc tế. Theo đó, tổn hại gây ra cho cá nhân hay công ty nước ngoài được xem như tổn hại gây ra cho chính quốc gia mà cá nhân, công ty đó mang quốc tịch. Vì thế, một quốc gia có quyền yêu cầu quốc gia sở tại phải bồi thường khi gây thiệt hại cho cá nhân, tổ chức mang quốc tịch của mình bằng hành vi vi phạm luật quốc tế.

Theo nguyên tắc này, các cá nhân, công ty nước ngoài phải thỏa mãn hai điều kiện: Có quốc tịch của quốc gia thực hiện quyền bảo hộ ngoại giao và Phải sử dụng hết các biện pháp yêu cầu bồi thường trong nước sở tại trước khi quốc gia của họ thực hiện quyền bảo hộ ngoại giao.

Tòa án thường trực Công lý quốc tế (PCIJ) - tiền thân của ICJ đã khẳng định trong Phán quyết Mavrommatis Palestine Concessions năm 1924 rằng, đây là một nguyên tắc cơ bản của luật tập quán quốc tế mà theo đó: “Một quốc gia được quyền bảo hộ ngưòi dân của mình bị thiệt hại vì các hành vi vi phạm luật quốc tế của quốc gia khác khi những công dân này không thể đòi bồi thường thông qua các cơ chế thông thường. Bằng việc tiếp nhận vụ kiện của công dân mình và bằng sử dụng hành động ngoại giao hay tiến trình tư pháp quốc tế, thực tế một quốc gia đang khẳng định quyền của chính mình - quyền bảo đảm sự tôn trọng các quy tắc của luật quốc tế thay cho công dân của mình”.

 

4. Quyền bảo hộ ngoại giao của các quốc gia

Trong thực tiễn, các quốc gia thực hiện quyền bảo hộ ngoại giao bằng nhiều biện pháp khác nhau. Ngoài đàm phán, tham vấn trực tiếp, từ cuối thế kỷ XVIII, các quốc gia thành lập các ủy ban ad hoc và hội đồng trọng tài để giải quyết các khiếu kiện về sự đối xử của quốc gia sở tại với người nước ngoài và tài sản của họ.

Ví dụ: Hiệp ước Jay giữa Vương quốc Anh và Hoa Kỳ năm 1794 (Hiệp ước về hữu nghị, thương mại và hàng hải) đặt ra cơ chế ủy ban để giải quyết khiếu kiện liên quan tói việc đốì xử với công dân Vương quốc Anh và Hoa Kỳ. Trong thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, nhiều ủy ban và hội đồng trọng tài như vậy đã được thành lập.

Trong suốt quá trình phát triển của pháp luật quốc tế, đến tận trước Chiến tranh thế giới thứ hai, lĩnh vực Luật Đầu tư quốc tế ít được chú ý. Trong thời kỳ này, đầu tư nước ngoài, nhà đầu tư nước ngoài được điều chỉnh theo các quy định chung trong pháp luật quốc tế về người nưóc ngoài và tài sản của người nước ngoài.

Một biện pháp được các quốc gia sử dụng khá phổ biến trước đây để bảo vệ công dân của mình có các khoản đầu tư ở nước ngoài là các quốc gia sử dụng vũ lực để buộc quốc gia sở tại bồi thường thiệt hại cho công dân, công ty của mình.

Ví dụ: Từ năm 1820 đến năm 1914, Vương quốc Anh can thiệp ỏ khu vực Mỹ Latinh ít nhất 40 lần để yêu cầu đáp ứng các đòi hỏi về bồi thường thiệt hại cho công dân của Vương quốc Anh (theo Andrew Newcombe and Lluis Paradell: The Law and Practice of Investment Treaties, Kluwer Law International, 2008); từ năm 1861 đến năm 1862, Pháp đã xâm lược Mêxicô vì Mêxicô không trả khoản vay cho một ngân hàng Pháp - Thụy Sĩ là J.B.Jecker & Co. và sau đó duy trì chính quyển bù nhìn ở Mêxicô đến nám 1867; Năm 1900, Hoa Kỳ cho một chiến hạm tới Vênêxuêla để ngăn chặn việc phá hủy tài sản thuộc sở hữu của một công ty Hoa Kỳ là New York and Bermudez. Cơ sở của những yêu sách này đôi khi không rõ ràng hay có sai sót. Hành động trả đũa bằng vũ trang thường không cân xứng với thiệt hại phải gánh chịu.

Các hành động sử dụng vũ lực này chưa bị cấm rõ ràng trong luật quốc tế trước năm 1945. Hai Công ước La Hay năm 1899 và năm 1907 về giải quyết hòa bình các tranh chấp quốc tế chỉ yêu cầu các quốc gia “nỗ lực hết sức để bảo đảm việc giải quyết hòa bình các bất đồng quốc tế”. Công ưởc La Hay II về tôn trọng các giói hạn trong việc sử dụng vũ lực để đòi nợ theo hợp đồng (còn gọi là Công ước Drago-Porter) thậm chí có dự liệu trường hợp được phép sử dụng vũ lực. Theo Công ước này, bên ký kết đồng ý không dùng lực lượng vũ trang với điều kiện bên ký kết kia chấp nhận giải quyết tranh chấp bằng trọng tài và chấp nhận phán quyết trọng tài đưa ra. Hiệp ước chung về từ bỏ chiến tranh (còn gọi là Hiệp ước Briand-Kellogg) năm 1928, quy định trong hai điều khoản duy nhất của Hiệp ước về nghĩa vụ các quốc gia phải từ bỏ chiến tranh và giải quyết hòa bình các tranh chấp của mình. Tuy nhiên, có lập luận cho rằng, Hiệp ước này không cấm hành vi sử dụng vũ lực chưa đến mức chiến tranh. Vì thế, trên thực tế, quyền bảo hộ ngoại giao trong tập quán quốc tế đã được tiến hành cả bằng sức mạnh quân sự, còn gọi là ngoại giao chiến hạm (gunboat diplomacy), hàm ý chỉ việc các nước mang tàu chiến của mình tới bến cảng của nước sở tại hay sử dụng quân đội can thiệp trực tiếp trên lãnh thổ của nước sở tại để bảo hộ ngoại giao. Thực tiễn này đã thúc đẩy nhu cầu xây dựng quy chế pháp lý quốc tế về người nước ngoài và tài sản của họ.

 

5. Bình luận về việc xây dựng khung pháp lý quốc tế bảo hộ đầu tư

Trước Chiến tranh thế giới thứ hai, việc xây dựng khung pháp lý quốc tế bảo hộ đầu tư không thực sự cấp thiết vì các hoạt động đầu tư kinh doanh thường diễn ra trên lãnh thổ thuộc địa, nơi mà các nước đế quốc có thể kiểm soát việc đối xử đối với đầu tư của họ. Từ cuối thế kỷ XVIII, trong quan hệ giữa các quốc gia độc lập khi đó như giữa Hoa Kỳ và các nước châu Âu đã có một số điều ước quốc tế quy định bảo vệ tài sản của công dân một bên ký kết trên lãnh thổ của bên ký kết kia.

Ví dụ: Điều ước quốc tế đầu tiên là Hiệp ước hữu nghị và thương mại ký kết giữa Hoa Kỳ và Cộng hòa Pháp ngày 16/7/1782. Một số điều ước quốc tế tương tự khác như Hiệp định hữu nghị và thương mại giữa Hoa Kỳ và Hà Lan ngày 10/10/1782, Hiệp định hữu nghị, thương mại và hàng hải giữa Hoa Kỳ và Vương quốc Anh ngày 19/11/1794, Hiệp ước hữu nghị, thương mại và hàng hải giữa Hoa Kỳ và Tây Ban Nha ngày 27/10/1795...2 Các điều ước quốc tế này thường được gọi chung là các hiệp định hợp tác hữu nghị, thương mại và hàng hải (Friendship, Commerce and Navigation - FCN).

Về mục đích của các hiệp định hữu nghị, thương mại và hàng hải (FCN) là thiết lập, mở rộng quan hệ ngoại giao, thương mại nói chung, trong đó có nội dung điều chỉnh cách đôì xử của bên ký kết đối vối cá nhân, công ty của bên ký kết kia và tài sản của họ. Nhiều quy định của các hiệp định FCN như đối xử quốc gia, đốĩ xử tối huệ quốc, bảo vệ an ninh, đốỉ xử công bằng và thỏa đáng, tưóc quyền sở hữu phải có bồi thường, giải quyết tranh chấp giữa hai bên ký kết đã được kế thừa trong các điều ước quốc tế về đầu tư sau này. Đây là những điều ước tiền thân của các BIT ra đời vào cuối những năm 1950. Thực tiễn ký kết các hiệp định FCN còn tiếp tục khoảng hai thập kỷ sau Chiến tranh thế giới thứ hai và chỉ ngừng khi các BIT trở nên phổ biến.

 

6. Quan điểm các trường pháp liên quan đến tranh chấp đầu tư quốc tế

Quan hệ giữa các nước xuất khẩu vốn ở châu Âu và Hoa Kỳ với một số quốc gia độc lập ở khu vực Mỹ Latinh phức tạp hơn do sự mâu thuẫn trong quan điểm về tiêu chuẩn đốì xử dành cho người nước ngoài và tài sản của họ. Các nước xuất khẩu vốn cho rằng luật tập quán quốc tế đòi hỏi người nước ngoài và tài sản của họ phải được hưởng tiêu chuẩn đối xử tốì thiểu, tương tự như tiêu chuẩn về công lý và đối xử ở các nước văn minh (civilized countries - cụm từ này trước đó được dùng để hàm ý chỉ các nước theo Kitô giáo ở châu Âu). Ngược lại, các nưóc khu vực Mỹ Latinh khẳng định tiêu chuẩn đối xử như công dân của nước sở tại.

Luật gia người Áchentina, ông Carlos Calvo đã đưa ra lý thuyết về chế độ đối xử với người nước ngoài trong cuốn sách Luật quốc tế: lý luận và thực tiễn (năm 1868). Quan điểm của ông, được gọi là Học thuyết Calvo như đã nêu trong Cuốn sách này, có tầm ảnh hưởng lớn trong pháp luật, chính sách của các nước khu vực Mỹ Latinh. Theo học thuyết này, người nước ngoài không có quyền yêu cầu bảo hộ ngoại giao và không được hưởng tiêu chuẩn đối xử tối thiểu. Theo luật quốc tế, nước sở tại chỉ phải dành sự đối xử như công dân cho người nước ngoài. Các quốc gia bình đẳng với nhau và không được can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bao gồm vấn đề thẩm quyền của quốc gia đối với người nước ngoài trong phạm vi lãnh thổ của họ. Biện pháp giải quyết tranh chấp quốc tế không được chấp nhận trong giải quyết tranh chấp với người nước ngoài. Người nước ngoài phải tuân theo pháp luật của nước sở tại và tòa án trong nước có thẩm quyền riêng biệt đối với tranh chấp liên quan đến người nước ngoài đó.

Sự bất đồng trong quan điểm của hai nhóm nước dẫn tới việc không thể thống nhất được các quy định điều ước về vấn đề này tại các diễn đàn đa phương. Trong khi đó, ở phạm vi khu vực, các nước châu Mỹ tiếp tục khẳng định trong Công ước về quyền và nghĩa vụ của các quốc gia năm 1933 (Công ước Montevideo) rằng “công dân và người nước ngoài được hưởng sự bảo vệ như nhau của pháp luật và chính quyền sở tại và người nước ngoài không được đòi hỏi các quyền nhiều hơn quyền của công dân”. Hoa Kỳ và các nước xuất khẩu vốn khi tham gia Công ước đã bảo lưu quy định này.

Cuộc tranh luận về cách xác định bồi thường khi có biện pháp tước quyền sở hữu vẫn tiếp tục kéo dài ở giai đoạn sau Chiến tranh thế giói thứ hai cho đến khi sự thắng thế nghiêng về các nước xuất khẩu vốn được ghi nhận trong các BIT. Tiêu chuẩn bồi thường mà ông Cordell Hull nêu ra và cho rằng đã tồn tại trong luật tập quán quốc tế có một ảnh hưởng quan trọng tới việc xây dựng quy định về bồi thường khi có tước quyền sở hữu của các điểu ước quốc tế về đầu tư.

 

Trên đây là nội dung Luật Minh Khuê sưu tầm và biên soạn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Luật Minh Khuê (Sưu tầm và Biên soạn).