Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, tình hình chính trị, kinh tế, xã hội ở khu vực Đông Nam Á và Nam Á có sự thay đổi sâu sắc: các nước trong khu vực đã giành được độc lập và bước vào thời kì xây dựng cuộc sống mới với nhiều thành tựu rực rỡ. Hãy cùng Luật Minh Khuê đi tìm hiểu nhé!

 

1. Khái quát chung về Indonesia

Lịch sử Indonesia là dải thời gian rất dài, bắt đầu từ thời Cổ đại khoảng 1,7 triệu năm trước dựa trên phát hiện về Homo erectus Java. Các giai đoạn lịch sử của Indonesia có thể chia thành 5 kỷ:

  • Thời đại tiền thực dân: Sự xuất hiện của các vương quốc theo đạo Hindu, đạo Phật, đạo Hồi tại đảo Java và Sunmatra. Các quốc gia này phát triển dựa trên thương mại, buôn bán hàng hải.
  • Thời đại thuộc địa: Chịu sự kiểm soát của người châu Âu, đặc biệt là người Hà Lan với sự kiểm soát của Công ty Đông Ấn Hà Lan, họ đã chiếm vùng đất này để kiểm soát con đường gia vị, hương liệu. Khoảng 3,5 thế kỷ là thuộc địa, bắt đầu từ thế kỷ 17 đến giữa thế kỷ 20.
  • Thời đại mới dành độc lập: Cột mốc là Tuyên bố độc lập của người Indonesia (1945) đến sự sụp đổ của chính quyền Sukamo (1966).
  • Thời đại trật tự mới: 32 năm dưới sự thống trị của Suharto (1966-1988)
  • Thời đại cải tổ: Sụp đổ của Suharto đến hiện tại
  • Trong chiến tranh thế giới thứ 2 Indonesia bị Nhật Bản chiếm đóng, sau chiến tranh ngày 17 tháng 8 năm 1945 tuyên bố độc lập, thông qua Liên Hợp Quốc, Hà Lan bắt đầu tuyên bố độc lập của Indonesia vào ngày 27 tháng 12 năm 1949, Liên Hợp Quốc ngày 28 tháng 9 năm 1950 Indonesia tham gia các nước thành viên.

 

2. Sự thành lập các quốc gia độc lập sau Chiến tranh thế giới thứ hai

Khu vực Đông Nam Á rộng 4,5 triệu km2 , hiện nay gồm 11 nước với số dân 528 triệu người (2000).

Vốn là thuộc địa của các nước đế quốc Âu - Mĩ (trừ Thái Lan), trong những năm Chiến tranh thế giới thứ hai, các nước Đông Nam Á bị biến thành thuộc địa của quân phiệt Nhật Bản. Tận dụng thời cơ Nhật Bản đầu hàng Đồng minh, vào giữa tháng 8 - 1945, nhân dân Đông Nam Á đứng lên đấu tranh, nhiều nước đã giành được độc lập dân tộc, hoặc đã giải phóng phần lớn lãnh thổ.

Ngày 17 - 8 - 1945, Indonesia tuyên bố độc lập và thành lập nước Cộng hòa Indonesia. Tháng 8 - 1945, nhân dân Việt Nam tiến hành Tổng khởi nghĩa; ngày 2 - 9, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời. Tháng 8 - 1945, nhân dân các bộ tộc Lào nổi dậy, đến ngày 12 - 10, nước Lào tuyên bố độc lập.

Mặc dù chưa giành được độc lập, nhưng nhân dân Miến Điện (nay là Mianma), Mã Lai (nay là Malaixia) và Philippin cũng đã giải phóng được nhiều vùng rộng lớn của đất nước khỏi ách quân phiệt Nhật Bản.

Nhưng ngày sau đó, thực dân Âu - Mĩ quay trở lại tái chiếm Đông Nam Á. Nhân dân các nước lại phải tiến hành kháng chiến chống xâm lược. Trải qua cuộc đấu tranh kiên cường và gian khổ, năm 1954, cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược của nhân dân ba nước Việt Nam, Lào và Campuchia đã kết thúc thắng lợi. Thực dân Hà Lan phải công nhận Cộng hòa Liên bang Indonesia (1949) và ngày 15 - 8 - 1950, nước Cộng hòa Indonesia thống nhất ra đời. Trong bối cảnh của cuộc đấu tranh chung đó, các đế quốc Âu - Mĩ lần lượt phải công nhận độc lập của Philippin (4 - 7 - 1946), Miến Điện (4 - 1 - 1948), Mã Lai (31 - 8 - 1975) và quyền tự trị của Xingapo (3 - 6 - 1959).

Tuy nhiên, nhân dân Việt Nam và Lào, tiếp đó là Campuchia phải tiến hành cuộc kháng chiến chống chủ nghĩa thực dân mới của Mĩ, đến năm 1975 mới giành được thắng lợi hoàn toàn.

Riêng Brunay, tới tháng 1 - 1984 mới tuyên bố là quốc gia độc lập. Đông Timo ra đời sau cuộc trưng cầu dân ý tách khỏi Indonesia (8 - 1999), ngày 20 - 5 - 2002 đã trở thành một quốc gia độc lập.

 

3. Quá trình xây dựng và phát triển của các nước Đông Nam Á

Các nước Đông nam Á sau khi giành được độc lập đã bước vào thời kì phát triển kinh tế với những chiến lược phát triển khác nhau.

Thời kì đầu sau khi giành được độc lập, nhóm năm nước sáng lập ASEAN (Indonesia, Malaixia, Philippin, Xingapo, Thái Lan) đều tiến hành công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu (chiến lược kinh tế hướng nội) với mục tiêu nhanh chóng xóa bỏ nghèo nàn, lạc hậu, xây dựng nền kinh tế tự chủ. Nội dung chủ yếu là đẩy mạnh phát triển các ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng nội địa thay thế hàng nhập khẩu, lấy thị trường trong nước làm chỗ dựa để phát triển sản xuất,...

Thực hiện chiến lược kinh tế hướng nội, các nước này đã đạt được một số thành tựu bước đầu về kinh tế - xã hội.

Sản xuất đã đáp ứng được nhu cầu cơ bản của nhân dân trong nước, góp phần giải quyết nạn thất nghiệp, phát triển một số ngành chế biến, chế tạo. Kế hoạch phát triển kinh tế 6 năm của Thái Lan (1961 - 1966) đã tăng thu nhập quốc dân 7,6% dự trữ ngoại tệ và vàng tăng 15%. Với Malaixia, sau kế hoạch 5 năm (1966 - 1970), miền Tây đã tự túc được lương thực, miền Đông giảm nhập khẩu gao...

Tuy nhiên, chiến lược kinh tế này cũng bộc lộ những hạn chế. Thiếu nguồn vốn, nguyên liệu và công nghệ, chi phí cao dẫn tới tình trạng thua lỗ, tệ tham nhũng, quan liêu phát triển, đời sống người lao động còn khó khăn, chưa giải quyết được quan hệ giữa tăng trưởng với công bằng xã hội.

Sự hạn chế đó đã buộc chính phủ các nước, từ những năm 60 - 70 trở đi chuyển sang chiến lược công nghiệp hóa lấy xuất khẩu làm chủ đạo (chiến lược kinh tế hướng ngoại). Các nước này đều tiến hành "mở cửa" nền kinh tế, thu hút vốn đầu tư và kĩ thuật của nước ngoài, tập trung sản xuất hàng hóa để xuất khẩu, phát triển ngoại thương.

Sau khi thực hiện chiến lược kinh tế hướng ngoại, bộ mặt kinh tế - xã hội của các nước này có sự biến đổi to lớn. Tỉ trọng công nghiệp trong nền kinh tế quốc dân cao hơn nông nghiệp, mậu dịch đối ngoại tăng trưởng nhanh.

Năm 1980, tổng kim ngạch xuất khẩu của nhóm nước này đạt tới 130 tỉ USD, chiếm 14% tổng kim ngạch ngoại thương của các quốc gia và khu vực đang phát triển. Vấn đề tăng trưởng và công bằng xã hội đã được chú trọng giải quyết.

Tốc độ tăng trưởng kinh tế của năm nước này khá cao: Trong những năm 70 của thế kỉ XX, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Indonesia là 7% - 7,5%, của Malaixia là 7,8%, của Philippin là 6,3% còn Thái Lan là 9%, Xingapo chuyển mình mạnh nhất với tốc độ tăng trưởng 12% (1966 - 1973) và trở thành con rồng nổi trội nhất trong bốn con rồng kinh tế của châu Á.

Năm 1997 - 1998 các nước ASEAN trải qua một cuộc khủng hoảng tài chính nghiêm trọng. Nền kinh tế bị suy thoái, tình hình chính trị một số nước không ổn định. Sau vài năm khắc phục, kinh tế dần dần được phục hồi, các nước ASEAN lại tiếp tục phát triển.

 

4. Trước Chiến tranh thế giới thứ hai, Indonesia là thuộc địa của nước nào?

Hãy cùng Luật Minh Khuê trả lời cho câu hỏi Trước chiến tranh thế giới thứ II, Indonesia là thuộc địa của nước nào?

A. Anh

B. Mĩ

C. Hà Lan

D. Pháp

Hướng dẫn trả lời: Đáp án C. Ở Indonesia ngay từ thế kỉ XV, XVI thực dân Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hà Lan đã có mặt và từng bước chiếm lĩnh thị trường. Đến giữa thế kỉ XĨ, Hà Lan hoàn thành việc xâm chiếm và thiết lập nền thống trị thực dân trên đất nước Indonesia. 

Trên đây là bài viết tham khảo của công ty Luật Minh Khuê, đã giúp các bạn trả lời câu hỏi trước Chiến tranh thế giới thứ hai, Indonesia là thuộc địa của nước nào? Hi vọng bài viết trên sẽ trở thành tài liệu tham khảo hữu ích đối với các bạn. Chúng tôi xin chân thành cảm ơn bạn đã theo dõi bài viết!