1. Một số quy định chung về bài thi

Đối tượng:

- Cán bộ, chiến sĩ trong Công an tỉnh.

- Cá nhân hoặc nhóm CBCS làm bài thi không quá 05 thành viên, công tác trong cùng một đơn vị; CBCS có thể tham gia nhiều bài thi.

Quy định chung:

- Bài thi đóng quyển, bìa cứng, trình bày rõ ràng, sạch đẹp; sử dụng ảnh minh họa phải phù hợp, chân thực, có chú thích ảnh rõ ràng, dẫn nguồn ảnh; có mục lục, nguồn tài liệu trích dẫn. Trên bìa ghi rõ: Bài dự thi tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về Công an nhân dân”; họ tên, cấp bậc, chức vụ, đơn vị công tác của tác giả, số điện thoại liên hệ (trường hợp bài thi của nhóm tác giả thì ghi đầy đủ thông tin vào trang lót của bài thi).

- Bài dự thi chỉ sử dụng tiếng Việt, ngôn từ phù hợp, đánh máy hoặc viết tay trên khổ giấy A4 hoặc A3, không quá 300 trang (bao gồm cả ảnh, tài liệu minh họa); không sử dụng mô hình, giá đỡ... Bài dự thi phải là tác phẩm mới; không có tranh chấp bản quyền; chưa tham dự cuộc thi nào tương tự trước đây; không giống nhau hoàn toàn với các bài thi khác cùng tham dự cuộc thi này hoặc các cuộc thi trước đây do Bộ Công an tổ chức.

- Bài dự thi phải nộp đúng thời gian quy định; trả lời đầy đủ các câu hỏi của Ban Tổ chức; không chứa nội dung thuộc phạm vi bí mật Nhà nước và ngành công an. Các đơn vị, địa phương và cá nhân làm bài thi chịu trách nhiệm về tính chính xác và yêu cầu chính trị, pháp luật, nghiệp vụ của nội dung bài thi. Ban Tổ chức không trả lại bài đã tham gia dự thi và được phép sử dụng nội dung, hình ảnh bài thi để phục vụ công tác tuyên truyền, giáo dục.

- Quá trình tổ chức cuộc thi nếu có vấn đề phát sinh, Ban Tổ chức sẽ điều chỉnh phù hợp. Ban Giám khảo căn cứ Thể lệ, thang điểm và nội dung sửa đổi, bổ sung của Ban Tổ chức để thống nhất việc chấm điểm và đề xuất giải thưởng. Ban Tổ chức chỉ giải quyết mọi khiếu nại về kết quả cuộc thi trong vòng 7 ngày kể từ ngày công bố kết quả; quyết định của Ban Tổ chức là quyết định cuối cùng.

- Bài thi không hợp lệ là bài thi trái với các quy định nêu trên.

 

2. Câu hỏi cuộc thi

Câu 1 (15 điểm): Phân tích cơ sở, quá trình hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về CAND?

Câu 2 (15 điểm): Làm rõ giá trị và ý nghĩa của tư tưởng Hồ Chí Minh 2 về CAND?

Câu 3 (20 điểm): Phân tích, làm rõ nội dung Bác Hồ dạy CAND về tư cách người Công an cách mạng? Đồng chí đã học tập và thực hiện lời dạy của Bác “Đối với tự mình phải cần, kiệm, liêm, chính” như thế nào?

Câu 4 (20 điểm): Trình bày tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của Nhân dân trong sự nghiệp bảo vệ an ninh, trật tự (10 điểm)? Theo đồng chí, lực lượng CAND cần làm gì để tiếp tục phát huy vai trò của Nhân dân trong giữ gìn trật tự, an ninh (10 điểm)?

Câu 5 (20 điểm): Đề xuất nhiệm vụ, giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác nghiên cứu, học tập, tuyên truyền, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về CAND ở đơn vị, địa phương mình?

 

3. Gợi ý câu trả lời

Câu 1: 

Phân tích cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về Công an nhân dân

- Cơ sở thực tiễn Thực tiễn cách mạng Việt Nam: Tư tưởng Hồ Chí Minh về Công an nhân dân được hình thành từ kinh nghiệm của Đảng trong việc tổ chức các đội tự vệ - tiền đề cho sự ra đời của Công an nhân dân Việt Nam: Trải qua từng bước phát triển của phong trào cách mạng, các đội vũ trang, tự vệ được xây dựng, từng bước hoàn thiện về mặt tư tưởng, tổ chức, chính trị và thể hiện vị trí, vai trò ngày càng quan trọng trong sự nghiệp cách mạng chung của cả dân tộc. Tư tưởng Hồ Chí Minh về Công an nhân dân là kết quả của sự tự tích lũy kinh nghiệm của bản thân Hồ Chí Minh trong quá trình hoạt động cách mạng: Hoạt động bí mật như một chiến sĩ điệp báo, đối mặt với rất nhiều loại mật thám, tình báo nhà nghề ở nhiều nước trên thế giới, Người càng nhận thức sâu sắc bản chất công an đế quốc và bọn tay sai thực chất là nanh vuốt của đế quốc thực dân, là lũ “đầu trâu mặt ngựa”. Thực tiễn đó cung cấp cho Hồ Chí Minh những kinh nghiệm và gợi ý về việc xây dựng lực lượng Công an nhân dân trong tương lai: Chuyên môn phải phục tùng chính trị, Công an cách mạng, hoàn toàn khác Công an đế quốc, phải là lực lượng của nhân dân, phục vụ nhân dân chứ không phải để đè đầu cưỡi cổ dân... Thực tiễn và kinh nghiệm trong xây dựng tổ chức bộ máy và hoạt động của lực lượng công an ở các nước trên thế giới: Các tác phẩm “Kinh nghiệm du kích Tàu”, “Kinh nghiệm du kích Pháp”, “Kinh nghiệm du kích Nga” được Quốc tế Cộng sản dùng làm tài liệu huấn luyện chứa đựng những kinh nghiệm to lớn của các nước trong đấu tranh chống phản cách mạng. Hồ Chí Minh rất chú ý đến việc học hỏi, vận dụng kinh nghiệm đấu tranh bảo vệ an ninh, trật tự, kinh nghiệm xây dựng lực lượng công an của các nước tiến bộ trên thế giới. Tuy nhiên, theo Người, việc học tập kinh nghiệm phải luôn luôn sáng tạo, phù hợp với thực tiễn đất nước.

- Tiền đề tư tưởng - lý luận. Tư tưởng Hồ Chí Minh về Công an nhân dân là kết quả của sự kế thừa sâu sắc những giá trị truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc: Truyền thống yêu nước; bài học lớn về tinh thần cảnh giác, bảo vệ bí mật quốc gia, bảo vệ độc lập dân tộc; bài học bảo vệ đất nước đi đôi với xây dựng, phát triển kinh tế, giữ yên bên trong, chủ động phòng ngừa ngay trong thời bình; bài học phải “yên dân”, “dựa vào dân”, “lấy dân làm gốc”... Tư tưởng Hồ Chí Minh về Công an nhân dân có sự tiếp thu tinh hoa văn hóa phương Đông: Tư tưởng “thân dân” của Nho giáo; tư tưởng từ bi, hỷ xả của Phật giáo... Tư tưởng và văn hóa phương Tây: Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nghiên cứu các cuộc cách mạng dân chủ tư sản phương Tây, tiếp thu tư tưởng dân chủ pháp quyền qua các tác phẩm của Rútxô và Môngtétxkiơ... Người đã tiếp nhận tinh hoa của triết lý phương Tây, đặc biệt là tư tưởng dân chủ, tư tưởng về quyền của con người. Chủ nghĩa Mác - Lênin: Là nền tảng tư tưởng, thế giới quan, phương pháp luận, tiền đề tư tưởng, lý luận trực tiếp của tư tưởng Hồ Chí Minh về Công an nhân dân. - Nhân tố chủ quan Hồ Chí Minh: Tinh thần yêu nước và nhiệt thành cách mạng: Đây là động lực thôi thúc Người ra đi tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc cho dân tộc Việt Nam. Khả năng quan sát, phân tích, đánh giá thực tiễn một cách tinh tường, sáng suốt. Tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo. Vốn kiến thức thực tiễn phong phú, đa dạng...

Quá trình hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về Công an nhân dân

- Thời kỳ trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945 Trải qua quá trình vừa học tập, khảo cứu, hoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh đã nhận ra chế độ nhà nước tư sản thực chất là công cụ của giai cấp tư sản được sử dụng để áp bức, bóc lột nhân dân. Trong các nhà nước đó, bộ máy quân đội, công an, cảnh sát là tay sai, nanh vuốt của đế quốc, hà hiếp, áp bức dân chúng, “chúng nó là lũ đầu trâu, mặt ngựa”. Bộ máy đó chỉ bảo vệ lợi ích cho một nhóm người và đi ngược lại lợi ích của đại đa số nhân dân lao động. Trong quá trình hoạt động cách mạng ở nước ngoài, qua khảo sát chế độ chính trị các nước dân chủ tư sản phương Tây, Hồ Chí Minh nhận thấy nhu cầu được sống trong an ninh là một trong những nhu cầu cơ bản của con người.

- Thời kỳ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến khi kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (năm 1954). Ngay sau khi công bố Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ngày 13-9-1945, Người ký Sắc lệnh số 33A/SL quy định về quyền hạn của Ty Liêm phóng và Sắc lệnh 33B/SL về trình tự, thủ tục khi bắt người của Sở Liêm phóng và Sở Cảnh sát. Để thống nhất công tác bảo vệ an ninh quốc gia và giữ gìn trật tự, an toàn xã hội, ngày 21-2-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 23/SL hợp nhất Sở Cảnh sát và Sở Liêm phóng thành Việt Nam Công an vụ và đặt dưới quyền quản lý của Bộ Nội vụ. Để đảm bảo cho các hoạt động điều tra tội phạm diễn ra theo đúng pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, ngày 20-7-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 131/SL về tổ chức tư pháp Công an. Trong văn bản này, lần đầu tiên Hồ Chí Minh đề cập đến vấn đề luật pháp tố tụng hình sự và tổ chức điều tra hình sự nhằm quy định hành lang pháp luật cho các hoạt động điều tra, xét xử phân công, phân cấp điều tra, xét xử, đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Những vấn đề tâm huyết nhất đối với Ngành Công an đã được Hồ Chí Minh bày tỏ đầy đủ trong tác phẩm “Tư cách người Công an cách mệnh” với sáu điều dạy cụ thể hàm chứa nhiều vấn đề lý luận sâu sắc, vẫn còn nguyên giá trị cho đến tận ngày nay. Trong “Thư gửi Hội nghị Công an toàn quốc”, tháng 01-1950, Người nhắc nhở: “Xây dựng bộ máy Công an nhân dân tức là Công an phải có tinh thần phục vụ nhân dân, là bạn dân. Đồng thời phải dựa vào các đoàn thể mà tổ chức và giáo dục nhân dân trong công việc phòng gian trừ gian, để nhân dân thiết thực giúp đỡ công an. Cách tổ chức công an phải giản đơn, thiết thực, tránh cái tệ quá hình thức, giấy má. Lề lối làm việc phải dân chủ. Cấp trên phải thường kiểm tra cấp dưới. Cấp dưới phải phê bình cấp trên. Giúp nhau kinh nghiệm và sáng kiến, giúp nhau tiến bộ. Tự phê bình và phê bình nhau theo tinh thần thân ái và lập trường cách mệnh. Phải hoan nghênh nhân dân phê bình công an, để đi đến hiểu công an, yêu công an, và giúp đỡ công an” . Ngày 14-5-1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 66/SL, chia Cục Tình báo Bộ Quốc phòng thành hai bộ phận: một bộ phận nhập vào Nha Công an thuộc Bộ Nội vụ và một bộ phận sáp nhập vào ngành quân báo Bộ Tổng tham mưu thuộc Bộ Quốc phòng. Sắc lệnh này cho thấy tư tưởng sáng suốt của Người trong việc phân định rõ ràng chức năng, nhiệm vụ của bộ máy tình báo bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội và chức năng, nhiệm vụ bộ máy tình báo phục vụ các mục đích quân sự - chính trị. Ngày 16-2-1953, Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 141/SL về việc đổi Nha Công an thuộc Bộ Nội vụ thành Thứ bộ Công an do một Thứ trưởng phụ trách. Những nhiệm vụ quan trọng nhất của Thứ bộ Công an được ghi rõ trong Sắc lệnh số 141/SL là: “Chống gián điệp, phản động ở trong nước để bảo vệ chính quyền dân chủ nhân dân, bảo vệ quân đội nhân dân, bảo vệ các đoàn thể nhân dân, bảo vệ kinh tế quốc dân; bảo vệ biên giới, chống đặc vụ và gián điệp quốc tế. Bài trừ lưu manh, trộm cướp, bài trừ các tệ nạn xã hội và giữ trật tự, an ninh trong nhân dân. Quản trị các trại giam, giáo dục, cải tạo phạm nhân”.

- Thời kỳ bảo vệ chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước Ngay từ ngày đầu tiếp quản Thủ đô Hà Nội (ngày 10-10-1954), bên cạnh “Lời kêu gọi nhân ngày Thủ đô giải phóng”, Hồ Chí Minh viết và cho công bố bài “Giữ gìn trật tự, an ninh”, đăng trên báo Nhân dân số 236 ra ngày 9 và ngày 10-10-1954. Người xác định: “Hiện nay, việc quan trọng nhất của Thủ đô là giữ vững trật tự, an ninh. Có giữ vững trật tự, an ninh thì nhân dân Thủ đô mới an cư lạc nghiệp. Giữ gìn trật tự, an ninh trước hết là việc của công an, bộ đội, cảnh sát. Nhưng chính quyền ta là chính quyền dân chủ, bất kỳ việc to việc nhỏ đều phải dựa vào lực lượng của nhân dân để phụng sự lợi ích của nhân dân. Việc an ninh trật tự càng phải dựa vào sáng kiến và lực lượng của nhân dân”. Cũng trong những ngày trọng đại đó, Người cho đăng bài viết “Ổn định sinh hoạt” trên báo Nhân dân số 238 ra ngày 13 và 14-10-1954, trong đó giao nhiệm vụ rõ ràng cho lực lượng công an là: “Công an, tự vệ phải cố gắng giữ gìn trật tự, an ninh được vững chắc”. Tháng 1-1956, tại Hội nghị Công an toàn quốc lần thứ 10, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định rất rõ nhiệm vụ của lực lượng Công an nhân dân là: “Nhân dân ta có hai lực lượng. Một là quân đội để đánh giặc ngoại xâm, để bảo vệ Tổ quốc, giữ gìn hòa bình. Một lực lượng nữa là công an để chống kẻ địch trong nước, chống bọn phá hoại. Có lúc chiến tranh, có lúc hòa bình. Lúc chiến tranh thì quân đội đánh giặc, lúc hòa bình thì tập luyện. Còn công an thì phải đánh địch thường xuyên, lúc chiến tranh có việc, lúc hòa bình lại càng nhiều việc... công việc công an phải thường xuyên, không phải có từng đợt, từng lúc”. Ngày 27-8-1953, Hội đồng Chính phủ dưới sự chỉ đạo của Hồ Chí Minh đã quyết định đổi Thứ bộ Công an thành Bộ Công an. Tại Luật tổ chức Hội đồng Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được Quốc hội khóa II, kỳ họp thứ nhất thông qua ngày 17-7-1960, xác định Bộ Công an là một trong 30 bộ và cơ quan ngang bộ được cơ cấu trong Hội đồng Chính phủ.

Câu 2:

Tư tưởng Hồ Chí Minh là tài sản tinh thần vô giá của dân tộc, là cơ sở để Đảng ta lãnh đạo xây dựng Công an nhân dân. Nét đặc sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh về Công an nhân dân ở chỗ: Hồ Chí Minh chủ trương xác định công an ta là Công an nhân dân, vì nhân dân mà phục vụ, dựa vào nhân dân mà làm việc. Trong thực tiễn cách mạng, tư tưởng Hồ Chí Minh về Công an nhân dân đã được hiện thực hóa vào trong quá trình Đảng lãnh đạo Công an nhân dân và được thực tiễn chứng minh là đúng đắn, sáng tạo. - Tư tưởng Hồ Chí Minh định hướng cho lực lượng Công an nhân dân từng bước trưởng thành và phát triển. Tư tưởng Hồ Chí Minh về Công an nhân dân đã, đang và sẽ mãi là ngọn đuốc soi đường, chỉ lối, dẫn dắt lực lượng Công an nhân dân vượt qua mọi khó khăn, thử thách, luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ an ninh, trật tự. Trong suốt chặng đường lịch sử cách mạng Việt Nam, tư tưởng Hồ Chí Minh về Công an nhân dân đã trở thành ngọn cờ dẫn dắt, “kim chỉ nam” cho mọi hành động của lực lượng Công an nhân dân. Ngày nay, những bài học quý báu mà Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn công an là cơ sở quan trọng để lực lượng Công an tiếp tục phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ, củng cố và phát triển lực lượng, xứng đáng với sự tin cậy của Đảng, Nhà nước, nhân dân. Những giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh về Công an nhân dân chính là cẩm nang để mỗi cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân học tập, góp phần thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình trong tình hình mới.

Câu 3:

- “Công an của ta là Công an nhân dân”. Đây là Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt tên cho lực lượng Công an Việt Nam. Hồ Chí Minh xác định nguồn gốc của Công an là từ nhân dân. Hồ Chí Minh xác lập mối quan hệ máu thịt giữa công an và nhân dân. Hồ Chí Minh xác định tính nhân dân, tính dân tộc của lực lượng Công an nhân dân Việt Nam. Là lời nhắc nhở của Người đối với toàn lực lượng Công an nhân dân về việc phải luôn gìn giữ bản chất giai cấp, tính nhân dân, tính dân tộc.

- “Vì nhân dân mà phục vụ”. Đây là một yêu cầu của Hồ Chí Minh đối với lực lượng Công an nhân dân phải thực hiện cho thật tốt. Vì nhân dân mà phục vụ là mục tiêu cao nhất của sự nghiệp bảo vệ an ninh, trật tự; mục tiêu cuối cùng của sự nghiệp cách mạng của dân tộc; khẳng định bản chất ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa. Công an nhân dân phải không ngừng cố gắng, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ, giữ vững an ninh, trật tự đấu tranh đập tan mọi âm mưu, hoạt động của các loại tội phạm bảo đảm sự ổn định cho xã hội để nhân dân an cư, lạc nghiệp; bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nhân dân. - “Dựa vào nhân dân mà làm việc”. Là mục tiêu, yêu cầu đối với lực lượng Công an nhân dân. Nhân dân có lực lượng vô cùng to lớn, nghìn tay, nghìn mắt; là cội nguồn của mọi thắng lợi trong sự nghiệp giữ gìn trật tự, an ninh. Dựa vào nhân dân trong tư tưởng Hồ Chí Minh là điều kiện tiên quyết giúp lực lượng Công an hoàn thành nhiệm vụ. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh bảo vệ an ninh, trật tự biện pháp kỹ thuật là cần thiết, nhưng quan trọng nhất là biện pháp vận động quần chúng. Vì vậy, Công an nhân dân phải “dựa vào nhân dân” mà làm việc.

Câu 4: 

 - Giữ gìn an ninh, trật tự là nhiệm vụ của nhân dân Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Mọi người công dân, bất kỳ già trẻ gái trai, bất kỳ làm việc gì, đều có nhiệm vụ giúp chính quyền giữ gìn trật tự, an ninh”. Trong lời chúc Tết năm 1955, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ nhiệm vụ của nhân dân ta và đặc biệt nhấn mạnh: “Đại đoàn kết, thi đua tăng gia sản xuất và tiết kiệm, thi hành triệt để hiệp định đình chiến, tỉnh táo đề phòng đế quốc Mỹ và bè lũ phá hoại hòa bình”. Người nhiều lần kêu gọi: “Ai nấy hãy làm tròn nghĩa vụ của người công dân, người chủ nước nhà; giúp chính quyền giữ gìn trật tự, an ninh”... Theo Hồ Chí Minh giữ gìn trật tự, an ninh liên quan trực tiếp đến lợi ích của mỗi người dân, có giữ gìn an ninh, trật tự thật tốt thì nhân dân mới an cư, lạc nghiệp. Hồ Chí Minh khẳng định bản chất của Nhà nước ta là nhà nước của dân, do dân, vì dân, tất cả lợi ích đều thuộc về nơi dân, mọi quyền bính của Nhà nước đều thuộc về dân. Song song với việc nhân dân thực hiện quyền lực, nhân dân cũng phải có nghĩa vụ, có trách nhiệm và có hành động thể hiện rõ vai trò là chủ và làm chủ qua việc có nhiệm vụ tham gia vào sự nghiệp giữ gìn trật tự, an ninh.

- Nhân dân là là cội nguồn của mọi sức mạnh trong sự nghiệp giữ gìn trật tự, an ninh. Nhân dân là điểm gốc, điểm cội nguồn sản sinh ra mọi sức mạnh trong sự nghiệp giữ gìn trật tự, an ninh. Nghĩa là trong sự nghiệp giữ gìn trật tự, an ninh mọi sức mạnh mà chúng ta có được đều xuất phát từ nơi dân, có nguồn gốc từ nơi dân. Người từng khẳng định “giữ gìn trật tự, an ninh trước hết là việc của công an, bộ đội, cảnh sát”. Sức mạnh mà hai lực lượng này có được theo Hồ Chí Minh không những do sự cố gắng trong học tập, rèn luyện, để nâng cao trình độ, năng lực chuyên môn, nâng cao phẩm chất đạo đức cách mạng của từng cán bộ, chiến sĩ của các lực lượng đó, mà còn xuất phát từ phía nhân dân. Đối với lực lượng quân đội, Hồ Chí Minh cho rằng “nhân dân là nền tảng, là cha mẹ của bộ đội”. Đối với lực lượng Công an nhân dân, ngay từ năm 1948, Hồ Chí Minh đã có lời căn dặn, công an phải chú trọng tuyên truyền để cán bộ, chiến sĩ luôn hiểu rõ: Công an của ta là Công an nhân dân. Sức mạnh to lớn của công an có được là nhờ nhân dân, những chiến công hiển hách của lực lượng Công an nhân dân giành được là do sự đồng tình, ủng hộ, giúp sức của nhân dân. Vì lẽ đó, theo Hồ Chí Minh, nhân dân là cội nguồn sản sinh ra mọi sức mạnh của các lực lượng khác trong sự nghiệp giữ gìn trật tự, an ninh. Mọi thắng lợi trong sự nghiệp giữ gìn trật tự, an ninh là xuất phát từ sức mạnh to lớn của nhân dân. Hồ Chí Minh từng chỉ rõ: “Nhờ sự hy sinh cố gắng của công nhân, ta đã khôi phục những xí nghiệp cũ và xây dựng một số nhà máy mới. Trật tự an ninh được giữ vững. Trường học mở thêm nhiều; bình dân học vụ phát triển mạnh. Đồng bào Tây Bắc và Việt Bắc đã thành lập tốt đẹp hai khu tự trị. Mặc dù gặp nhiều khó khăn gian khổ, đồng bào miền Nam ta vẫn giữ vững phong trào đấu tranh anh dũng đòi tự do dân chủ, đòi thống nhất nước nhà, thật xứng đáng là Thành đồng Tổ quốc”.

Để tiếp tục nhấn mạnh vai trò của nhân dân, Hồ Chí Minh khẳng định: “Nhờ sự cố gắng của nhân dân ta và sự giúp đỡ của các nước anh em, chúng ta đã vượt được nhiều khó khăn, thu được nhiều thành tích to lớn trong công cuộc khôi phục kinh tế, phát triển văn hóa, củng cố quốc phòng, giữ gìn an ninh trật tự. Đồng bào miền Nam thì anh dũng và bền bỉ đấu tranh cho hòa bình và thống nhất đất nước”.

- Nhân dân vừa là chủ thể vừa là mục tiêu của sự nghiệp giữ gìn trật tự, an ninh Hồ Chí Minh cho rằng, trong sự nghiệp giữ gìn trật tự, an ninh, nhân dân giữ vai trò chủ thể. Lý giải vấn đề này, Hồ Chí Minh nhấn mạnh, nhân dân là chủ thể của đất nước, chủ nhân của mọi quyền lực, nhân dân làm chủ, nhân dân là chủ, cho nên trong sự nghiệp giữ gìn trật tự, an ninh, nhân dân cũng giữ vai trò chủ thể. Nhân dân vừa có quyền được biết và tham gia vào sự nghiệp giữ gìn trật tự, an ninh. Bằng sức mạnh vô địch của mình và quyền lực có trong tay, nhân dân trực tiếp là người quyết định vận mệnh, tính mạng, tài sản của mình, thông qua việc tham gia vào sự nghiệp giữ gìn an ninh, trật tự. Nhân dân tham gia vào sự nghiệp giữ gìn an ninh, trật tự với tư cách là một chủ thể có vai trò quyết định sự thành công của sự nghiệp giữ gìn trật tự, an ninh. Theo Hồ Chí Minh, nhân dân là mục tiêu cao nhất của sự nghiệp giữ gìn trật tự, an ninh xuất phát từ bản chất của Nhà nước ta là Nhà nước vì dân, bao nhiêu lợi ích đều thuộc về nhân dân. Cho nên, lợi ích lớn nhất, đầu tiên của sự nghiệp giữ gìn trật tự, an ninh phải thuộc về nhân dân.

- Nhân dân - lực lượng quyết định sự thành công của sự nghiệp giữ gìn trật tự, an ninh. Trong tư tưởng của Hồ Chí Minh, sự nghiệp giữ gìn trật tự, an ninh là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của công an, quân đội, dân quân tự vệ,... và là trách nhiệm, nghĩa vụ của toàn dân. Tuy nhiên, trong tất cả các lực lượng tham gia giữ gìn an ninh, trật tự, đủ sức mạnh, theo Hồ Chí Minh chỉ có lực lượng duy nhất có vai trò quyết định đến sự thành công hay thất bại của sự nghiệp giữ gìn trật tự, an ninh đó là nhân dân. Theo Hồ Chí Minh, nhân dân quyết định sự thành công hay thất bại của sự nghiệp giữ gìn trật tự, an ninh trước hết là xuất phát từ số lượng đông đảo, to lớn của nhân dân. “Bác lấy một thí dụ: Công an có bao nhiêu người? Dù có vài ba nghìn hay năm bảy vạn đi nữa thì lực lượng ấy vẫn còn ít lắm bên cạnh lực lượng nhân dân. Năm vạn người thì chỉ có 5 vạn cặp mắt, 5 vạn đôi bàn tay...”. Nhân dân có sức mạnh to lớn. Lực lượng nhân dân ở khắp mọi nơi, địch không giấu được nhân dân, cái gì nhân dân cũng có thể nghe, có thể biết, có thể thấy; không âm mưu, thủ đoạn, hoạt động nào của địch có thể thoát được sự giám sát của nhân dân. “Mấy mươi vạn con mắt soi sáng, mấy mươi vạn lỗ tai nghe ngóng, thì bọn gian phi, côn đồ sẽ lòi mặt ra và sẽ phải cải tà quy chính dưới lực lượng to lớn của quần chúng”. Đánh giá khái quát vai trò to lớn của nhân dân, Hồ Chí Minh đã nêu ra một luận điểm nổi tiếng: “Khi nhân dân giúp đỡ ta nhiều thì thành công nhiều, giúp đỡ ta ít thì thành công ít, giúp đỡ ta hoàn toàn thì thắng lợi hoàn toàn”.

- Giữ gìn trật tự, an ninh phải dựa vào nhân dân Để khẳng định vai trò to lớn của nhân dân trong sự nghiệp giữ gìn an ninh, trật tự, Hồ Chí Minh đã nêu lên luận điểm mang tính nguyên tắc: Giữ gìn trật tự, an ninh phải dựa vào nhân dân. Trên cơ sở đó, Hồ Chí Minh đi tới kết luận: “Phải gần gũi nhân dân, dựa vào lực lượng của nhân dân, xa rời nhân dân thì tài tình mấy cũng không làm gì được”. Nhấn mạnh sự cần thiết phải dựa vào nhân dân trong sự nghiệp giữ gìn trật tự, an ninh, trong Bài nói chuyện với đồng bào và cán bộ tỉnh Hà Giang, Hồ Chí Minh khẳng định: “Các đồng chí bộ đội, công an nhân dân và dân quân tự vệ giữ gìn tốt trật tự trị an. Đó là ưu điểm mà Bác thay mặt Đảng và Chính phủ khen ngợi các đồng chí. Nhưng các đồng chí chớ chủ quan khinh địch; mà phải luôn luôn nâng cao cảnh giác; luôn luôn đoàn kết giúp đỡ nhân dân, dựa vào lực lượng nhân dân; luôn luôn có quyết tâm khắc phục khó khăn để làm trọn nhiệm vụ. Đồng thời phải học thêm chính trị, văn hóa và nghiệp vụ để tiến bộ mãi”. Hồ Chí Minh khẳng định sự cần thiết phải dựa vào nhân dân xuất phát từ âm mưu thâm độc của các thế lực thù địch: “Một việc nữa, chúng ta xây dựng chủ nghĩa xã hội thì bọn Mỹ - Diệm không muốn cho chúng ta thành công. Chúng âm mưu phá hoại ta bằng nhiều cách. Chúng còn bịa đặt tin đồn nhảm, phá hoại tinh thần nhân dân ta. Vì vậy toàn Đảng, toàn dân ta phải cảnh giác để đập tan âm mưu phá hoại của chúng, cố nhiên bộ đội, công an, dân quân là lực lượng bảo vệ chính, là những cơ quan trực tiếp phụ trách. Nhưng chỉ bộ đội, công an, dân quân thì chưa đủ. Phải dựa vào nhân dân, vì đông đảo nhân dân rất nhiều tai mắt, cho nên bộ đội, công an không những phải đoàn kết nội bộ, lại phải đoàn kết với nhân dân, dựa vào nhân dân, giáo dục nhân dân cảnh giác thì địch không làm gì được”. Trong thư gửi Hội nghị tình báo vào tháng 8-1949, Hồ Chí Minh viết: “Tình báo cũng như mọi việc khác phải dựa vào dân. Tai mắt của người tình báo có hạn. Nhân dân có hàng chục triệu tai mắt. Việc gì họ cũng có thể nghe, có thể thấy, có thể biết. Vì vậy, tình báo phải cố gắng làm thế nào cho nhân dân giúp sức, thì sẽ thành công to”. Tại buổi nói chuyện với lớp Chỉnh huấn khóa II của Bộ Công an, Người nói: “Làm công an thì phải làm cho dân tin, dân yêu, dân ủng hộ. Có dựa vào nhân dân thì công an mới hoàn thành được tốt nhiệm vụ của mình. Nhân dân có hàng triệu tai mắt thì kẻ địch khó mà che giấu được. Nếu trong công tác, các cô, các chú được dân ủng hộ, làm cho dân tin, dân phục, dân yêu thì nhất định các cô, các chú thành công”. Sự cần thiết phải dựa vào nhân dân trong sự nghiệp giữ gìn trật tự, an ninh trong tư tưởng Hồ Chí Minh có mối quan hệ biện chứng. Một mặt, công an, quân đội muốn giữ gìn trật tự, an ninh thì phải dựa vào nhân dân; mặt khác, nhân dân phải luôn hết sức giúp đỡ công an, quân đội hoàn thành tốt nhiệm vụ. Người nói: “Vậy bộ đội, công an, dân quân tự vệ phải dựa vào dân, còn dân thì phải hết sức giúp đỡ và luôn luôn đề cao cảnh giác. Các cô, các chú hiểu chưa? Hiểu rồi thì phải làm cho tốt”. Dựa vào nhân dân theo tư tưởng của Hồ Chí Minh là dựa vào tài năng của nhân dân, trí tuệ của nhân dân, sức sáng tạo vĩ đại của nhân dân để giữ gìn trật tự, an ninh. Đồng thời người cán bộ, chiến sĩ làm công tác giữ gìn trật tự, an ninh phải dựa vào nhân dân mà rèn luyện, dựa vào nhân dân mà chiến đấu, học hỏi ở nhân dân. Phát huy tài năng và trí tuệ của nhân dân, trong sự nghiệp giữ gìn trật tự, an ninh.

Câu 5:

Nâng cao nhận thức cho mỗi cán bộ, chiến sỹ trong toàn lực lượng về vai trò của nhân dân trong bảo vệ an ninh, trật tự; Tuyên truyền cho mỗi người dân hiểu rõ về quyền và nghĩa vụ tham gia bảo vệ an ninh, trật tự; Tăng cường đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia bảo vệ an ninh, trật tự; Chú trọng xây dựng, phát triển và nâng cao chất lượng các hình thức tự quản, tự phòng, tự bảo vệ, tự hòa giải từ gia đình đến cộng đồng dân cư, các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, nhà trường; Chủ động phòng ngừa, tích cực đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hành động phá hoại, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân của các thế lực thù địch; Coi trọng phát huy vai trò của người có uy tín trong các vùng dân tộc và các chức sắc tôn giáo có uy tín để vận động nhân dân tham gia bảo vệ an ninh, trật tự; Nghiên cứu tham mưu cho các cấp có thẩm quyền luật hóa rõ ràng, đầy đủ về quyền, nghĩa vụ, nội dung phát huy vai trò của nhân dân trong bảo vệ an ninh, trật tự; Xây dựng và thực hiện tốt chế độ, chính sách khuyến khích, động viên, khen thưởng đối với nhân dân tham gia bảo vệ an ninh trật tự.

Trên đây Luật Minh Khuê chia sẻ các bạn Bài dự thi tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về Công an nhân dân hay nhất. Hy vọng bài viết trên có ích đối với bạn đọc. Cảm ơn các bạn đã theo dõi bài viết!