1. Bài tập cuối tuần Tiếng Việt lớp 4 Tuần 32 Kết nối tri thức

Đề bài:

I - Bài tập về đọc hiểu

Gấu bông Các-men

Ba năm trước, Át-li, con gái tôi bị ung thư. Sau cuộc đại phẫu thuật, con bé trở nên nhút nhát và đầy nghi ngại với thế giới xung quanh. Một hôm, khi chúng tôi đang cùng xem chương trình ti vi về một phóng viên đã đi vòng quanh nước Mỹ bằng cách đi nhờ xe. Át-li bỗng thốt lên: “Con ước gì có thể làm được như vậy!”. Tôi nhìn vào đôi mắt với ánh lửa nhiệt tình của con gái và chợt nhớ đến con gấu bông Các-men của Át-li. Tại sao không để cho Các-men thay Át-li đi vòng quanh nước Mỹ?

Chúng tôi mua cho Các-men một cuốn sổ xinh xắn để làm nhật ký hành trình và Át-li viết vào trang đầu tiên trong cuốn nhật ký hành trình của Các-men:

“Tên tôi là Át-li và tôi mới lên mười. Tôi xem trên ti vi thấy có một phóng viên đi vòng quanh nước Mỹ bằng cách đi nhờ xe. Tôi rất muốn làm được như vậy, nhưng bố mẹ tôi không đồng ý. Tôi muốn gấu bông Các-men thay tôi làm điều đó. Tiếc là nó không thể tự đi được, bạn có thể giúp nó được không?.... Hãy để Các-men đi cùng bạn và hãy bảo vệ nó. Tôi sẽ nhớ Các-men nhiều lắm.

Những người bạn mới. “Các-men và Át-li.”

Đến khoảng giữa tháng Chín, Các-men trở về nhà trong một cái hộp đóng dấu bưu điện Ha-oai. Cái hộp đựng đầy vật lưu niệm của những vùng đất Các-men đã tới và những con người nó gặp. Một cái mũ rơm vùng Guy-con-sin. Một cái vòng của người da đỏ vùng Che-ro-ki. Một bức ảnh chụp chung với chuột Míc-ki. Một bức ảnh nữa chụp Các-men đang bơi ở một bể bơi A-ri-dô-na. Các-men đã đi tới mười sáu bang, kể cả Ha-oai.

Nhưng Các-men đã mang về nhà còn nhiều hơn thế, nó còn trở về với những người bạn. Những người bạn mà một cô bé mười tuổi sống ở vùng nông thôn I-ô-goa như Át-li đáng lẽ không bao giờ có cơ hội gặp mặt.

(Ma-ri-ta I-guyn)

Khoanh tròn chữ cái trước ý trả lời đúng

1. Át-li mong muốn điều gì khi xem chương trình ti vi?

a- Được đi vòng quanh nước Mỹ như người phóng viên trên ti vi

b- Được bố mẹ đưa đi dạo quanh chơi quanh nước Mỹ cùng với gấu bông

c- Được đi nhờ xe để đến chơi với các bạn khắp nơi trên thế giới

2. Át-li làm thế nào để thực hiện được mong muốn của mình?

a- Xin bố mẹ cho mình tự do dạo quanh nước Mỹ bằng cách đi nhờ xe

b- Cùng với gấu bông Các-men đi nhờ xe để dạo quanh nước Mỹ

c- Cho gấu bông Các-men thay mình đi nhờ xe dạo quanh nước Mỹ

3. Dòng nào dưới đây nêu đúng và đủ những vật lưu niệm mà gấu bông Các-men đem về cho Át-li?

a- Cái hộp đóng dấu bưu điện Ha-oai, mũ rơm vùng Guy-con-sin, cái vòng của người da đỏ vùng Che-ro-ki, ảnh chụp bể bơi A-ri-dô-na.

b- Mũ rơm vùng Guy-con-sin, cái vòng của người da đỏ vùng Che-ro-ki, ảnh chụp với chuột Mic-ki và chụp ở bể bơi A-ri-dô-na.

c- Cái vòng của người da đỏ vùng Che-ro-ki, bức ảnh chụp chung với chuột Míc-ki, ảnh chụp Các-men đang bơi ở bể bơi ở A-ri-dô-na.

4. Em hiểu “những người bạn” trong câu “Nhưng Các-men đã mang về nhà còn nhiều hơn thế, nó còn trở về với những người bạn” là ai?

a- Là những người theo Các-men về nhà sau chuyến vòng quanh nước Mỹ

b- Là những người Các-men gặp gỡ trên đường đi vòng quanh nước Mỹ

c- Là những người bạn tốt bụng đã đưa Các-men đi vòng quanh nước Mỹ

II - Bài tập về Chính tả, Luyện từ và câu, Tập làm văn

Câu 1.

Viết lại các câu thơ cho đúng chính tả sau khi điền vào chỗ trống:

a) s hoặc x

Ai đem con ….áo…ang…ông

Để cho con …áo….ổ lồng bay …a.

b) ong hoặc ông

D….s…..bên lở bên bồi

Cánh đ….vàng….niềm vui đôi bờ.

Câu 2.

a) Gạch dưới bộ phận trạng ngữ trả lời cho câu hỏi “Khi nào?” trong các câu sau:

(1) Đến lúc đường phố lác đác lên đèn, cậu bé mới chịu đứng dậy, lững thững bước ra khỏi công viên.

(2) Cứ vào khoảng năm giờ sáng, tiếng gà lại rộn rã vang lên khắp xóm

(3) Bên bếp lửa bập bùng, các già làng đã kể lại cho con cháu nghe biết bao kỉ niệm vui buồn.

(4) Khi nghe lao xao tiếng bà về chợ, cả lũ cháu chúng tôi đều tíu tít chạy ra đón.

b) Thêm bộ phận trạng ngữ trả lời cho câu hỏi “Khi nào?” cho các vế câu sau:

(1)………………………., trên quảng trường Ba Đình lịch sử, Bác Hồ đã đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

(2)………………………., cậu bé Nguyễn Hiền đã được phong Trạng nguyên.

(3)……………………….. Đác-uyn vẫn không ngừng học.

Câu 3.

a) Gạch dưới bộ phận trạng ngữ trả lời cho câu hỏi “Vì sao?” (hoặc “Nhờ đâu?”) trong các câu sau:

(1) Nhờ chăm chỉ học tập, Minh Trang đạt kết quả tốt tất cả các môn học.

(2) Sau trận mưa rào, mọi vật đều sáng và tươi.

(3) Vì thương con, mẹ tôi không quản thức khuya dậy sớm lo cơm gạo cho anh em tôi ăn học.

(4) Nhờ được chăm bón thường xuyên, vườn rau nhà tôi lúc nào cũng xanh tốt.

b) Thêm bộ phận trạng ngữ trả lời cho câu hỏi “Vì sao?” (hoặc “Nhờ đâu?”) cho các vế câu sau:

(1)………………………., Tuấn Anh bị cảm nắng.

(2)………………………., Lan Anh không trả lời được câu hỏi của cô giáo

(3)………………………….., bé Hoa mặc thêm áo len cho búp bê.

(4)………………………….., Nguyễn Ngọc Ký đã viết chữ rất đẹp.

Câu 4. Viết đoạn mở bài (gián tiếp) và đoạn kết bài (mở rộng) cho bài văn tả con vật nuôi trong nhà hoặc ở vườn thú mà em quan sát được

Mở bài (gián tiếp)

Kết bài (mở rộng)

Đáp án:

I - Bài tập về đọc hiểu

Khoanh tròn chữ cái trước ý trả lời đúng

1. a- Được đi vòng quanh nước Mỹ như người phóng viên trên ti vi

2. c- Cho gấu bông Các-men thay mình đi nhờ xe dạo quanh nước Mỹ

3. b- Mũ rơm vùng Guy-con-sin, cái vòng của người da đỏ vùng Che-ro-ki, ảnh chụp với chuột Mic-ki và chụp ở bể bơi A-ri-dô-na.

4. c- Là những người bạn tốt bụng đã đưa Các-men đi vòng quanh nước Mỹ

II- Bài tập về Chính tả, Luyện từ và câu, Tập làm văn

Câu 1. Điền và viết lại như sau:

a) Ai đem con sáo sang sông

Để cho con sáo sổ lồng bay xa.

b) Dòng sông bên lở bên bồi

Cánh đồng vàng óng niềm vui đôi bờ.

Câu 2.

a. (1) Đến lúc đường phố lác đác lên đèn, cậu bé mới chịu đứng dậy, lững thững bước ra khỏi công viên.

(2) Cứ vào khoảng năm giờ sáng, tiếng gà lại rộn rã vang lên khắp xóm

(3) Bên bếp lửa bập bùng, các già làng đã kể lại cho con cháu nghe biết bao kỉ niệm vui buồn.

(4) Khi nghe lao xao tiếng bà về chợ, cả lũ cháu chúng tôi đều tíu tít chạy ra đón.

b) VD:

(1) Ngày 2 tháng 9 năm 1945, trên quảng trường Ba Đình lịch sử, Bác Hồ đã đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

(2) Năm mười ba tuổi, ậu bé Nguyễn Hiền đã được phong Trạng nguyên.

(3) Khi đã trở thành bác học, Đác-uyn vẫn không ngừng học.

Câu 3:

a) (1) Nhờ chăm chỉ học tập, Minh Trang đạt kết quả tốt tất cả các môn học.

(2) Sau trận mưa rào, mọi vật đều sáng và tươi.

(3) Vì thương con, mẹ tôi không quản thức khuya dậy sớm lo cơm gạo cho anh em tôi ăn học.

(4) Nhờ được chăm bón thường xuyên, vườn rau nhà tôi lúc nào cũng xanh tốt.

b) Thêm bộ phận trạng ngữ:

(1) Vì mải mê đá bóng giữa trời nắng, Tuấn Anh bị cảm nắng.

(2) Do không ôn bài cũ, Lan Anh không trả lời được câu hỏi của cô giáo

(3) Vì sợ búp bê bị lạnh, bé Hoa mặc thêm áo len cho búp bê.

(4) Nhờ kiên trì luyện tập Nguyễn Ngọc Ký đã viết chữ rất đẹp.

Câu 4:

Mở bài (gián tiếp)

Ánh bình minh đang chớp lên, mang theo sắc hồng nhẹ nhàng, nhưng không gian vẫn bị che phủ bởi màn sương dày đặc của đêm tối. Bất ngờ, tiếng gáy vang lên, xé tan sự mờ ảo của buổi sớm: "Ò! ó! o!" - một âm thanh làm cho cảnh vật tỉnh giấc. Đó là tiếng gáy của chú gà trống quen thuộc trong nhà - chú đã ở với chúng tôi từ thời chú còn là một chú gà con, từ ngày chị em tôi bắt đầu sống độc lập. Chỉ mới thời gian ngắn nhưng đã trôi qua năm, sáu tuần, như những trăng lặng lẽ trôi qua.

Kết bài (mở rộng)

Chú gà trống này quý giá lắm đấy! Không chỉ vì cái mã của nó tạo niềm kiêu hãnh trong lòng tôi trước bạn bè, mà còn vì nó rất hữu ích - Tiếng gáy của chú luôn đánh thức mọi người đúng giờ, giúp chuẩn bị cho một ngày làm việc mới. Chú ta thật là một người bạn đáng trân trọng! Chăm chỉ, chín chắn và đáng khen ngợi.

2. Bài tập cuối tuần Tiếng Việt lớp 4 Tuần 32 Chân trời sáng tạo

Đề bài:

Câu 1: Đọc bài sau và trả lời câu hỏi:

Khoảng lặng

Một buổi sáng, tôi thức dậy với một tâm trạng thật nặng nề và chán nản: cuộc sống dường như chẳng dành cho tôi một chút ưu ái nào!

Trên xe buýt, tôi đưa mắt nhìn qua băng ghế đối diện. Một cô bé có gương mặt xinh xắn và ánh mắt sáng ngời khẽ gật đầu chào tôi với nụ cười rạng rỡ. Khi xe đến trạm cuối, mọi người nhanh chân bước xuống, chỉ riêng cô bé lê từng bước. Tôi bất giác nhìn lại và bàng hoàng nhận ra, cô bé đang di chuyển rất khó nhọc bằng đôi nạng gỗ.

Sau một ngày làm việc căng thẳng, tôi tranh thủ ghé vào tiệm tạp hóa để mua thực phẩm, một cậu bé chừng mười tuổi đang giúp mẹ bán hàng. Cậu nghiêng đầu mỉm cười khi trao tôi túi hàng đã được buộc chặt. Trước khi bước ra, tôi âu yếm xoa đầu và hỏi tên. Cậu bé chỉ lắc đầu quầy quậy rồi đưa mắt nhìn mẹ như nói điều gì.

- Cháu nó không nói được cô ạ. – Người mẹ hạ giọng trả lời thay con.

Khi băng qua đường, tôi bắt gặp một cậu bé đang đứng khép mình nơi góc tường, mắt chăm chú dõi theo những đứa trẻ khác chơi đùa trên hè phố, rồi khúc khích cười theo. Tôi đến bên cạnh và hỏi:

- Sao cháu không cùng các bạn?

Cậu bé không trả lời, đôi mắt vẫn hướng về phía trước. Tôi chợt nhận ra cậu bé không thể nghe được lời tôi nói.

Bây giờ, tôi mới nhận ra mình thật hạnh phúc vì được cuộc sống ban tặng một cơ thể lành lặn và khỏe mạnh.

Tôi tự nhủ sẽ sống thật xứng đáng với những điều may mắn mà cuộc sống đã ban tặng.

Trong hành trình đầy thử thách của cuộc đời, tôi và các bạn, tất cả chúng ta đều luôn phải đối mặt với những khó khăn. Hãy sẵn sàng đón nhận những gì cuộc sống mang đến và cố gắng vượt qua mọi thử thách. Hãy tin yêu và đón nhận cuộc sống này bằng tâm hồn lạc quan và niềm tin mãnh liệt như những cô bé, cậu bé đáng yêu kia.

Hôm nay, những cô bé, cậu bé ấy đã cho tôi một bài học về giá trị bản thân và ý nghĩa cuộc sống mà tôi may mắn có được.

(Theo Hạt giống tâm hồn)

a) Tìm từ ngữ, chi tiết thích hợp trong bảng điền vào bảng

 

Nhân vật Khó khăn Cách ứng xử với mọi người
Cô bé trên xe buýt    
Cậu bé bán hàng    
Cậu bé bên đường    

 

b) Điều gì làm tác giả thấy mình thật hạnh phúc?

c) Chép lại câu văn cho thấy rõ nhất bài học mà tác giả muốn gửi đến người đọc.

Câu 2: Gạch dưới từ ngữ chỉ thời gian trong đoạn văn sau:

Ngôi chùa cổ kính nằm trên một bán đảo nhỏ của Hồ Tây được coi là ngôi chùa cổ nhất Hà Nội, với lịch sử hơn 1500 năm mang tên Trấn Quốc mới đây đã lọt vào danh sách những ngôi chùa đẹp nhất thế giới. Buổi sáng cũng như chiều tà, người dân thường đến chùa tụng kinh để mong bình an cho gia đình và mọi người.

Câu 3: Thêm từ ngữ chỉ thời gian cho từng câu dưới đây:

a) …, Hà lại được về quê thăm bà nội.

b) … cả nhà em đi du lịch ở biển.

c) … đội bóng lớp 4A đã vô địch

Câu 4: Gạch dưới những từ ngữ chỉ nguyên nhân trong các câu sau:

a) Vì bão tuyết, học sinh ở Sa Pa phải nghỉ học.

b) Vì trời lạnh quá, nhiều trâu bò vùng cao bị chết.

c) Vì quá tham lam, con chuột ăn quá no, không chui qua được cái lỗ nhỏ.

d) Do chăm chỉ học tập, tôi đã tiến bộ hơn trước.

Câu 5: Viết mở bài gián tiếp và kết bài mở rộng cho bài văn miêu tả một con vật mà em đã từng biết hoặc nhìn thấy.

Đáp án

Câu 1:

a.

Nhân vật Khó khăn Cách ứng xử với mọi người
Cô bé trên xe buýt Phải di chuyển rất khó nhọc bằng đôi nạng Gật đầu chào với nụ cười rạng rỡ
Cậu bé bán hàng Không nói được Mỉm cười trao túi hàng
Cậu bé bên đường Không nghe được  

 

b. Điều khiến tác giả cảm thấy hạnh phúc đó là được cuộc sống ban tặng cho một cơ thể lành lặn và khỏe mạnh.

c. Trong hành trình đầy thử thách của cuộc đời, tôi và các bạn, tất cả chúng ta đều luôn phải đối mặt với những khó khăn. Hãy sẵn sàng đón nhận những gì cuộc sống mang đến và hãy cố gắng vượt qua mọi thử thách. Hãy tin yêu và đón nhận cuộc sống này bằng tâm hồn lạc quan và niềm tin mãnh liệt như những cô bé, cậu bé đáng yêu kia.

Câu 2:

Ngôi chùa cổ kính nằm trên một bán đảo nhỏ của Hồ Tây được coi là ngôi chùa cổ nhất Hà Nội, với lịch sử hơn 1500 năm mang tên Trấn Quốc mới đây đã lọt vào danh sách những ngôi chùa đẹp nhất thế giới. Buổi sáng cũng như chiều tà, người dân thường đến chùa tụng kinh để mong bình an cho gia đình và mọi người.

Câu 3:

a) Cuối tuần, Hà lại được về quê thăm bà nội.

b) Mùa hè này, cả nhà em đi du lịch ở biển.

c) Vào trận chung kết, đội bóng lớp 4A đã vô địch

Câu 4:

a) Vì bão tuyết, học sinh ở Sa Pa phải nghỉ học.

b) Vì trời lạnh quá, nhiều trâu bò vùng cao bị chết.

c) Vì quá tham lam, con chuột ăn quá no, không chui qua được cái lỗ nhỏ.

d) Do chăm chỉ học tập, tôi đã tiến bộ hơn trước.

Câu 5:

- Mở bài gián tiếp:

Em có rất nhiều quà sinh nhật nào là gấu bông, búp bê, nào là quả cầu pha lê… nhưng có một món quà em thích nhất đó là Lulu. Em được bố tặng Lulu vào dịp sinh nhật lần thứ 9. Cậu ấy hay làm nũng em trông đến là xinh xắn và đáng yêu.

- Kết bài mở rộng:

Từ ngày có Lulu trong nhà, em vui hẳn lên. Em không còn thấy cô đơn mỗi khi bố mẹ đi làm vắng, em phải ở nhà một mình. Cả nhà em ai cũng yêu quý cậu ấy. Em sẽ chăm sóc chú thật cẩn thận để chú mau lớn và khỏe mạnh.

3. Bài tập cuối tuần Tiếng Việt lớp 4 Tuần 32 Cánh diều

Câu 1. Điền những chữ bị bỏ trống trong mẩu chuyện sau bắt đầu bằng s hoặc x:

Chúc mừng năm mới sau một.... thế kỷ

Ngày 4-1-1889, ông Cô-lin từ Ô-xtrây-li-a gửi một tấm thiếp chúc mừng năm mới cho cô Uôn-đrốp ở thành phố A-béc-đin, nước Anh. Không hiểu vì............mãi đầu năm 2001, tức là 112 năm......... tấm bưu thiếp mới đến được A-béc-đin. Các nhân viên bưu điện............ sở sương mù đang gắng.......... tìm con cháu của cụ Uôn-đrốp để trao tấm thiếp và............. lỗi vì..........chậm trễ này.

Câu 2. Điền những chữ bị bỏ trống trong câu chuyện sau, biết rằng các chữ đó chứa o hoặc ô:

Người không biết cười

Nhà văn Mỹ nổi tiếng Mác-Tuên rất có khiếu khôi hài. Ai đã dự những buổi nói chuyện của ông thì không thể nào không bật cười vì những câu nói dí............. những mẩu chuyện............hỉnh. Nhưng trong một lần gặp gỡ...................... chúng, Mác-Tuên rất ngạc nhiên thấy một ông già suốt buổi không hề nhếch mép, mặc dù ai nấy cười ngả cười nghiêng. Mãi đến lúc ra về, Mác-Tuên mới biết ông già đó bị điếc từ mấy năm nay rồi, ông đến dự buổi.............. chuyện chỉ vì muốn biết mặt nhà văn................ tiếng.

Câu 3. Gạch dưới bộ phận trạng ngữ trong mỗi câu sau:

Không khí của triều đình thật là ảo não. Đúng lúc đó, một viên thị vệ hớt hải chạy vào:

- Tâu bệ hạ! Thần vừa tóm được một kẻ đang cười sằng sặc ngoài đường.

Câu 4. Trạng ngữ vừa tìm được bổ sung ý nghĩa ................. cho câu.

Câu 5. Đặt câu hỏi cho trạng ngữ nói trên:

Câu 6. Gạch dưới trạng ngữ trong mỗi câu sau:

a) Buổi sáng hôm nay, mùa đông đột nhiên đến, không báo cho biết trước. Vừa mới ngày hôm qua, trời hãy còn nắng ấm và hanh, cái nắng về cuối tháng mười làm nứt nẻ đất ruộng và làm giòn khô những chiếc lá rơi. Thế mà qua một đêm mưa rào, trời bỗng đổi gió bấc, rồi cái lạnh ở đâu đến làm cho người ta tưởng đang ở giữa mùa đông rét mướt.

b) Từ ngày còn ít tuổi, tôi đã thích những tranh lợn, gà, chuột ếch, tranh cây dừa, tranh tố nữ của làng Hồ. Mỗi lần Tết đến đứng trước những cái chiếu bày tranh làng Hồ giải trên các lề phố Hà Nội, lòng tôi thấm thía một nỗi biết ơn đối với những người nghệ sĩ tạo hình của nhân dân.

Câu 7. Hai đoạn văn sau không mạch lạc vì một số câu chưa có trạng ngữ (cho trong ngoặc đơn). Hãy gạch dưới những câu đó.

a) Cây gạo bền bỉ làm việc đêm ngày, chuyên cần lấy từ đất nước và ánh sáng nguồn sinh lực và sức trẻ vô tận. Cây chỉ còn những cành trơ trụi, nom như cằn cỗi. Nhưng không, dòng nhựa trẻ đang rạo rực khắp thân cây. Xuân đến, lập tức cây gạo già lại trổ lộc nảy hoa, lại gọi chim chóc tới, cành cây đây tiếng hót và màu đỏ thắm. Cây lại nhờ gió phân phát đi khắp chốn những múi bông trắng nuột nà.

(đến ngày đến tháng, mùa đông)

b) Ở Trường Sơn, mỗi khi trời nổi gió, cảnh tượng thật là dữ dội. Những cây đại thụ có khi cũng bị bật gốc cuốn tung xuống vực thẳm. Cánh chim đại bàng vẫn bay lượn trên nền trời. Có lúc chim cụp cánh lao vút đi như một mũi tên. Chim lại vẫy cánh đạp gió vút lên cao.

(có lúc, giữa lúc gió đang gào thét ấy)

Câu 8. Thêm trạng ngữ thích hợp vào những câu chưa có trạng ngữ nói trên để đoạn văn được mạch lạc.

a) -..................

b) -..................

Đáp án:

Câu 1. Những chữ bị bỏ trống trong mẩu chuyện sau bắt đầu bằng s hoặc x:

Chúc mừng năm mới sau một... thế kỷ

Ngày 4-1-1889, ông Cô-lin từ Ô-xtrây-li-a gửi một tấm thiếp chúc mừng năm mới cho cô Uôn-đrốp ở thành phố A-béc-đin, nước Anh. Không hiểu vì sao mãi đầu năm 2001, tức là 112 năm sau tấm bưu thiếp mới đến được A-béc-đin. Các nhân viên bưu điện xứ sở sương mù đang gắng sức tìm con cháu của cụ Uôn-đrốp để trao tấm thiếp và xin lỗi vì sự chậm trễ này.

Câu 2. Những chữ bị bỏ trống trong mẩu chuyện sau chứa o hoặc ô:

Người không biết cười

Nhà văn Mỹ nổi tiếng Mác-tuên rất có khiếu khôi hài. Ai đã dự những buổi nói chuyện của ông thì không thể nào không bật cười vì những câu nói dí dỏm, những mẩu chuyện hóm hỉnh. Nhưng trong một lần gặp gỡ công chúng, Mác-Tuên rất ngạc nhiên thấy một ông già suốt buổi không hề nhếch mép, mặc dù ai nấy cười ngả cười nghiêng. Mà đến lúc ra về, Mác-Tuên mới biết ông già đó bị điếc từ mấy năm nay rồi. Ông đến dự buổi trò chuyện chỉ vì muốn biết mặt nhà văn nổi tiếng.

Câu 3. Gạch dưới bộ phận trạng ngữ trong mỗi câu sau:

Không khí của triều đình thật là ảo não. Đúng lúc đó, một viên thị vệ hớt hải chạy vào:

- Tâu bệ hạ! Thần vừa tóm được một kẻ đang cười sằng sặc ngoài đường.

Câu 4. Trạng ngữ vừa tìm được, bổ sung ý nghĩa thời gian cho câu.

Câu 5. Đặt câu hỏi cho loại trạng ngữ nói trên: Viên thị vệ hớt hải chạy vào khi nào?

Câu 6. Gạch dưới trạng ngữ trong mỗi câu sau:

a) Buổi sáng hôm nay, mùa đông đột nhiên đến, không báo cho biết trước. Vừa mới ngày hôm qua, trời hãy còn nắng ấm và hanh, cái nắng về cuối tháng mười làm nứt nẻ đất ruộng và làm giòn khô những chiếc lá rơi. Thế mà qua một đêm mưa rào, trời bỗng đổi gió bấc, rồi cái lạnh ở đâu đến làm cho người ta tưởng đang ở giữa mùa đông rét mướt.

b) Từ ngày còn ít tuổi, tôi đã thích những tranh lợn, gà, chuột ếch, tranh cây dừa, tranh tố nữ của làng Hồ. Mỗi lần Tết đến đứng trước những cái chiếu bày tranh làng Hồ giải trên các lề phố Hà Nội, lòng tôi thấm thía một nỗi biết ơn đối với những người nghệ sĩ tạo hình của nhân dân.

Câu 7. Hai đoạn văn sau không mạch lạc vì một số câu chưa có trạng ngữ (cho trong ngoặc đơn). Hãy gạch dưới những câu đó.

a) Cây gạo bền bỉ làm việc đêm ngày, chuyên cần lấy từ đất, nước và ánh sáng nguồn sinh lực và sức trẻ vô tận. Cây chỉ còn những cành trơ trụi, nom như cằn cỗi. Nhưng không, dòng nhựa trẻ đang rạo rực khắp thân cây. Xuân đến, lập tức cây gạo già lại trổ lộc nảy hoa, lại gọi chim chóc tới, cành cây đầy tiếng hót và màu đỏ thắm. Cây lại nhờ gió phân phát đi khắp chốn những múi bông trắng nuột nà.

(đến ngày đến tháng, mùa đông)

b) Ở Trường Sơn, mỗi khi trời nổi gió, cảnh tượng thật là dữ dội. Những cây đại thụ có khi cũng bị bật gốc cuốn tung xuống vực thẳm. Cánh chim đại bàng vẫn bay lượn trên nền trời. Có lúc chim cụp cánh lao vút đi như một mũi tên. Chim lại vẫy cánh, đạp gió vút lên cao.

(có lúc, giữa lúc gió đang gào thét ấy)

Câu 8. Thêm trạng ngữ thích hợp vào những câu chưa có trạng ngữ nói trên để đoạn văn được mạch lạc.

a) - Mùa đông, cây chỉ còn những cành trơ trụi, nom như cằn cỗi.

- Đến ngày đến tháng, cây lại nhờ gió phân tán đi khắp chốn những núi bông trắng nuột nà.

b) - Giữa lúc gió đang gào thét ấy, cánh chim đại bàng vẫn bay lượn trên nền trời.

- Có lúc, chim lại vẫy cánh, đạp gió vút lên cao.

Xem thêm: Bài tập cuối tuần Tiếng Việt lớp 3 Tuần 26 (cả ba sách) có đáp án