1. Mua lại tài sản đã trộm cắp sẽ bị xử phạt?

Chào luật sư! Ba em có lấy cắp một cái máy của người ta trị giá khoảng 4~> 5 triệu đồng.Gia đình em nguyện ý mua lại cái máy để bồi thường. Vậy ba em có thể bị khởi tố như thế nào ? Cảm ơn

Trả lời:

- Hành vi trộm cắp tài sản: Căn cứ Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 về tội trộm cắp tài sản thi ba bạn có hành vi trộm cắp tài sản, người bị hại khởi kiện thì mức khung hình phạt của ba bạn sẽ theo khung bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

Mặt khác, khi 2 bên đã thỏa thuận được mức bồi thường cho nhau rồi và gia đình bên kia rút đơn bãi nại khởi hiện ba bạn thì ba bạn sẽ không bị khởi tố hành vi này theo quy định điều 155 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015. Theo đó nếu bên bị trộm cắp tài sản có đơn yêu cầu không khởi tố đối với hành vi trộm cắp của bạn bạn sẽ không bị truy tố nữa.

2. Trộm cắp đã trả lại thì có bị bắt không ?

Thưa luật sư, xin hỏi: Anh A là nhân viên cửa hàng điện thoại di động B. Do mâu thuẫn với chủ cửa hàng nên bị buộc cho nghỉ việc, trước khi nghỉ việc anh A đã trộm một số lượng điện thoại lớn, trị giá khoảng 400.000.000 VNĐ.
Sau khi kiểm tra camera an ninh, cửa hàng B phát hiện và tố cáo với cơ quan công an. 3 ngày sau anh A ra tự thú, khai báo thành khẩn, trả lại số tài sản lấy cắp và bồi thường cho bên B.
Xin hỏi bên B đã rút đơn tố cáo thì anh A có bị bắt không? Mức phạt là bao nhiêu? (Hiện nay anh A có bố mẹ già không có khả năng lao động, có một con nhỏ được khoảng 01 tháng tuổi, chưa từng có tiền án tiền sự)
Xin được tư vấn và cảm ơn luật sư!

Luật sư tư vấn:

Căn cứ Khoản 3, Điều 173 Bộ luật hình sự 2015 và Luật tố tụng hình sự 2015 - Tội trộm cắp tài sản quy định: “3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;”

Xác định hành vi trộm cắp tài sản có giá trị 400.000.000 VNĐ của A vi phạm Điểm a Khoản 3 Điều 173 BLHS, có thể bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm

2. Tình tiết khác nếu có:

+ Các tình tiết giảm nhẹ:

Căn cứ Điều 51 BLHS 2015

Xác định A được hưởng các tình tiết giảm nhẹ:

b/ Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả;

r) Người phạm tội tự thú;

s) Người phạm tội thành khẩn khai báo hoặc ăn năn hối cải;

* Quyết định mức phạt:

Căn cứ Điều 54 BLHS 2015, anh A có hơn 2 tình tiết giảm nhẹ, do đó Tòa án có thể áp dụng:

“một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật khi người phạm tội có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật này.”

3 Kết luận:

- Bên B đã rút đơn tố cáo: Anh A vẫn bị truy tố trách nhiệm hình sự

- Khung hình phạt áp dụng: Điểm Dịch vụ ăn uống Khoản 3 Điều 173 BLHS “phạt tù từ 07 năm đến 15 năm”.

Áp dụng các tình tiết giảm nhẹ có thể chuyển sang khung hình phạt liền kề, tức Khoản 2 Điều 173 “bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm

3. Trộm cắp tài sản có bị xử phạt hành chính không?

Thưa luật sư, xin hỏi: Bạn em có lỡ tay ăn cắp 2 cây son của quán có giá 620k sau đó mang trả 1 cây. Như vậy sẽ bị xử phạt thế nào và chủ quán có quyền phạt hành chính không ?
Cảm ơn!

Luật sư tư vấn:

Điều 173, Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 quy định:

"1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ;

đ) Tài sản là di vật, cổ vật.."

Theo thông tin bạn cung cấp thì giá trị của 2 thỏi son là 620.000đ nên chưa đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản. Bạn của bạn sẽ bị xử phạt hành chính theo quy định tại khoản 1 Điều 15 nghị định 167/2013/NĐ-CP:

"1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Trộm cắp tài sản;"

Về thẩm quyền xử phạt: Thực hiện theo quy định tại Điều 66 nghị định 167/2013/NĐ-CP.

Chủ cửa hàng không có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính đối với bạn của bạn.

4.Có cấu thành tội vu khống người khác trộm cắp tài sản?

Chào công ty luật Minh Khuê ! Em xin trình bày sự việc sau: Chiều hôm qua, mẹ em thấy có 2 người đứng trước cửa nhà em nhìn vào,tối hôm đó nhà em bị mất trộm. Em được cô út gọi điện thoại lên kể chuyện đó vì em đang học ở Sài Gòn, và em gọi về hỏi mẹ thì biết được 2 người lúc đó là 2 người gần nhà và không có mối quan hệ tốt với gia đình em.
Mẹ em chỉ nghi ngờ, nhưng do em không suy nghĩ kỹ lại đi nhắn tin trên facebook hỏi em của 1 trong 2 người đó với nội dung hỏi là " tối qua có thấy anh này đi chơi khuya không ? " Bạn em trả lời là không thấy. Sau đó em kể bạn nghe chuyện nhà em bị mất cắp và kể luôn chuyện mẹ em thấy 2 người đứng trước cửa. Sau đó em nói là " Anh bạn ở nhà thì thôi, chuyện không có gì hết" .Mấy ngày sau mẹ em gọi lên nói là nhà bạn này đòi kiện em vì tội vu khống nói oan cho anh bạn đó. Do sợ nên em đã nhắn tin lại cho bạn em à em của anh này bảo là xóa tin nhắn đi.
Vậy cho em hỏi em có bị xét vào tội vu khống không ? Em phải làm thế nào để chứng minh mình không có tội, vì xét trên tin nhắn thì em không có nói là anh này lấy trộm đồ nhà em.
Em xin cám ơn!

>> Luật sư tư vấn luật hình sự gọi : 1900.6162

Trả lời :

Điều 156 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định về tội vu khống:

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:

a) Bịa đặt hoặc loan truyền những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác;

b) Bịa đặt người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 03 năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Đối với 02 người trở lên;

d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh cho mình;

đ) Đối với người đang thi hành công vụ;

e) Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;

g) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%

h) Vu khống người khác phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

a) Vì động cơ đê hèn;

b) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên

c) Làm nạn nhân tự sát.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Theo quy định trên, một hành vi sẽ bị coi là phạm tội vu khống khi có một trong các biểu hiện sau đây:

- Tạo ra những thông tin không đúng sự thực và loan truyền các thông tin đó mặc dù biết đó là thông tin không đúng sự thực.

- Tuy không tự đưa ra các thông tin không đúng sự thực nhưng có hành vi loan truyền thông tin sai do người khác tạo ra mặc dù biết rõ đó là những thông tin sai sự thực.

Đối với cả hai trường hợp trên, nội dung của thông tin sai sự thực phải thể hiện sự xúc phạm đến danh dự, uy tín, gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác. Loan truyền thông tin sai sự thực có thể được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như truyền miệng, qua các phương tiện thông tin đại chúng, viết đơn, thư tố giác …Nếu người phạm tội nhầm tưởng thông tin mình loan truyền là đúng sự thực thì hành vi không cấu thành tội phạm.

- Bịa đặt người khác là phạm tội và tố cáo họ trước các cơ quan có thẩm quyền. Đây là một dạng đặc biệt của hành vi vu khống. Đối với dạng hành vi này, tính nguy hiểm cho xã hội của tội vu khống phụ thuộc nhiều vào loại tội bị vu khống. Bộ luật Hình sự quy định vu khống người khác phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng là cấu thành tăng nặng với mức hình phạt từ một năm đến bảy năm tù.

Trường hợp của bạn không thể cấu thành tội vu khống, dù tin nhắn bạn nhắn với em gái của người kia thì bạn vẫn không phải chịu trách nhiệm hình sự do bạn không loan truyền thông tin sai sự thực và không nhằm mục đích xúc phạmdanh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác.

5. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định như thế nào?

Theo Điều 174 Bộ luật hình sự quy định như sau:

Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ96.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

d) Tái phạm nguy hiểm;

đ) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

e) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

c) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chủ sở hữu, người quản lý tài sản tin tưởng và giao tài sản nhằm mục đích chiếm đoạt.

Để lừa được chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản, người thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản có thể sử dụng nhiều cách khác nhau như: bằng lời nói dối, giả mạo giấy tờ, giả danh người có chức vụ, quyền hạn, giả danh cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội…

Tùy thuộc vào giá trị tài sản bị chiếm đoạt mà người lừa đảo chiếm đoạt tài sản có thể bị phạt xử lý hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Nhà nước quy định.

căn cứ vào từng hình thực tế cũng như các căn cứ tại điều luật mà người phạm tội sẽ phải chịu các khung hình phạt khác nhau.

Thứ nhất, theo quy định của điều luật, người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 02 đến dưới 50 triệu đồng hoặc dưới 02 triệu đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

- Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

- Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội: cướp tài sản, bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, cưỡng đoạt tài sản, cướp giật tài sản, công nhiên chiếm đoạt tài sản, trộm cắp tài sản, lạm dụng uy tín nhằm chiếm đoạt tài sản, sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

- Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

- Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ.

Thứ hai, phạt tù từ 02 năm đến 07 năm khi phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây:

- Phạm tội có tổ chức;

- Có tính chất chuyên nghiệp;

- Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50 triệu đồng đến dưới 200 triệu đồng;

- Tái phạm nguy hiểm;

- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

- Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

Thứ ba, phạt tù từ 07 năm đến 15 năm khi phạm tội thuộc một trong các trường hợp:

- Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng;

- Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.

Nặng nhất, người phạm tội có thể bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân khi lừa đảo chiếm đoạt tài sản trị giá 500 triệu đồng trở lên hoặc lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp để lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Bên cạnh đó, người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 10 - 100 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Nếu căn cứ theo Điều 12 Bộ luật Hình sự hiện hàng, người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thì không phải chịu trách nhiệm hình sự về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Tuy nhiên, người dưới 16 tuổi vẫn có thể bị xử phạt hành chính với hành vi lừa đảo chiểm đoạt tài sản.

Nếu xảy ra thiệt hại, người lừa đảo chiếm đoạt tài sản còn phải đền bù cho người bị lừa đảo theo quy định tại Điều 586 Bộ luật Dân sự 2015. Cụ thế như sau:

- Người chưa đủ 15 tuổi gây thiệt hại mà còn cha, mẹ thì cha, mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại; nếu tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường mà con chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản đó để bồi thường phần còn thiếu.

- Người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê