Khách hàng: Kính thưa Luật sư Minh Khuê, tôi muốn Luật sư giúp tôi phân tích Đầu tư nước ngoài theo quy định pháp luật Việt Nam hiện hành như thế nào? Đặc điểm cũng như vai trò của đầu tư nước ngoài là gì?
Cảm ơn!
Trả lời:
1. Đầu tư nước ngoài theo quy định pháp luật Việt Nam
Liên quan đến đầu tư nước ngoài ở Việt Nam, Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam vào năm 1987, sửa đổi, bổ sung năm 1990, 1992 định nghĩa: “đầu tư nước ngoài” là “việc các tổ chức, cá nhân nước ngoài trực tiếp đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền nước ngoài hoặc bất kỳ tài sản nào được Chính phủ Việt Nam chấp thuận để hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hoặc thành lập xí nghiệp liên doanh hoặc xí nghiệp 100% vốn nước ngoài theo quy định của Luật này” (khoản 3 Điều 2).
Theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (năm 1996), sửa đổi, bổ sung năm 2000 định nghĩa “đầu tư nước ngoài” là “việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này” (khoản 1 Điều 2).
Như vậy, việc bỏ vốn vào sản xuất, kinh doanh theo các hình thức được Luật này cho phép, thực chất chỉ là các quan hệ đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam, trong khi nhiều hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài khác như các doanh nghiệp đặt chi nhánh hay văn phòng đại diện hoặc các hoạt động đầu tư gián tiếp thì đều không được pháp luật điều chỉnh. Cho đến khi Luật Đầu tư của năm 2005 được ban hành thì phạm vi điều chỉnh mới được mở rộng thành các hoạt động đầu tư chung, gồm cả việc thực hiện đầu tư ở trong nước và của nước ngoài. Luật đã đưa ra định nghĩa “Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan” (khoản 1 Điều 3).
Đến Luật Đầu tư năm 2014, khái niệm đầu tư, đầu tư trực tiếp hay đầu tư gián tiếp nước ngoài đã không còn xuất hiện nữa mà chỉ còn duy nhất một khái niệm đó là “Đầu tư kinh doanh”. Cụ thể đầu tư kinh doanh được quy định tại điều 3 như sau:
"Điều 3. Giải thích từ ngữ
Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
...
5. Đầu tư kinh doanh là việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinh doanh thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế; đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự án đầu tư..."
=> Như vậy, theo Luật đầu tư năm 2014 này, hoạt động đầu tư chính là “việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinh doanh thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốh góp của tổ chức kinh tế; đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự án đầu tư” (khoản 5 Điều 3). Định nghĩa nhà đầu tư nước ngoài trong Luật Đầu tư năm 2014 là “cá nhân có quốc tịch nước ngoài, tổ chức thành lập theo pháp luật nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam” (khoản 14 Điều 3).
Như vậy, định nghĩa về “đầu tư” theo các luật trên chỉ nêu các loại hình bỏ vốn đầu tư được phép thay vì xác đỊnh cả mục đích, kết quả của quá trình này. Cùng vối đó, đầu tư nưốc ngoài được xác định dựa vào yếu tô' nước ngoài của quốc tịch người sở hữu tài sản đầu tư.
Pháp luật quốc tế xác định đầu tư nước ngoài theo các cách khác nhau, tùy vào mục đích của các điều ước/thỏa thuận quốc tế. Đối với các hiệp định về dịch chuyển vốh, nguồn lực qua biên giới, đầu tư nước ngoài gắn vói yếu tố kiểm soát việc sử dụng vốn đầu tư của nhà đầu tư nưốc ngoài. Trong khi đó, các điều ước quốc tế về đầu tư thường quy định rộng dựa trên yếu tố tài sản; theo đó, đầu tư là “bất kỳ loại tài sản nào”. Có một số điều ưóc quốc tế đưa ra danh mục tài sản đầu tư như:
- Động sản, bất động sản và quyền về tài sản như thế chấp, thế nợ, cầm cố;
- Cổ phần, cổ phiếu, trái khoán hoặc quyền lợi về tài sản của các công ty;
- Quyền đòi tiền hay đòi thực hiện theo hợp đồng có giá trị tài chính;
- Các quyền về sở hữu trí tuệ;
- Các hợp đồng nhượng quyền kinh doanh.
Việc liệt kê hết các tài sản thuộc phạm vi bảo hộ của điều ước quốc tế về đầu tư đem lại sự chắc chắn về mặt pháp lý cho các nước nhận đầu tư. Tuy nhiên, cách quy định này lại không linh hoạt để mở rộng cho các loại tài sản đầu tư mới có thể phát sinh trong tương lai, bỏ sót những hình thức đầu tư mới mà nước nhận đầu tư muôn thu hút trong chiến lược phát triển của mình. Ngoài ra, các bên ký kết phải đàm phán lại nếu muốh đưa bổ sung vào phạm vi bảo hộ của điều ước quốc tế các khoản đầu tư như vậy. Chính vì vậy, nhiều điều ước quốc tế về đầu tư chỉ nêu minh họa các tài sản đầu tư còn vẫn áp dụng chung với mọi loại tài sản thỏa mãn các tiêu chí khác về đầu tư nước ngoài.
Một yêu cầu thường gắn với đầu tư nước ngoài trong pháp luật quốc tế là phải được tiến hành phù hợp với pháp luật và quy định của nước nhận đầu tư. Các quốc gia có thể thỏa thuận thêm là khoản đầu tư phải được phê duyệt bằng văn bản rõ ràng.
Ví dụ, Điều 1 của Hiệp định đầu tư song phương giữa Malaixia và Các tiểu Vương quốc Ả Rập thông nhất (UAE) quy đỉnh đầu tư vào Malaixia là “khoản đầu tư được phê duyệt” và đầu tư được bảo hộ là “các khoản đầu tư được các cơ quan có thẩm quyền của UAE chấp thuận và phân loại là đầu tư theo pháp luật và quy định của nước nhận đầu tư”. Ngoài ra, các hiệp định đầu tư còn nêu rõ hình thức đầu tư nếu có thay đổi sẽ vẫn được bảo hộ. Thu nhập từ đầu tư nước ngoài cũng được bảo hộ bằng việc bảo đảm quyền tự do chuyển nhượng các khoản lợi nhuận ra khỏi nước nhận đầu tư.
Như vậy, đầu tư nước ngoài nhìn từ góc độ pháp lý khác với khái niệm đầu tư trong kinh tế. Định nghĩa đầu tư trong pháp luật có thể không bao hàm một số loại hình đầu tư có trong thực tiễn. Khi đưa vào văn bản pháp luật ở cấp độ quốc gia hay quốc tế một định nghĩa đầu tư nước ngoài, các quốc gia xác định loại hình tài sản nước ngoài mà mình muốn thu hút và có thể được bảo hộ. Việc giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế phải dựa trên cơ sở các cơ chế có trong văn bản pháp luật liên quan và chỉ thực hiện đối với những khoản đầu tư được bảo hộ theo các văn bản đó.
Dưới đây là những đặc điểm cụ thể của đầu tư nước ngoài ta tìm hiểu ở những mục dưới đây.
2. Chủ đầu tư
Trước tiên, ta phải thừa nhận, đầu tư nước ngoài mang đầy đủ những đặc trưng của đầu tư nói chung, Tuy nhiên, đầu tư nước ngoài cũng có một số đặc trưng khác với đầu tư trong nước.
Cụ thể điểm đầu tiên là chủ đầu tư, chủ đầu tư là chủ có quốc tịch nước ngoài và các yếu tố đầu tư được di chuyển qua biên giới quốc gia.
Đối với đầu tư nước ngoài bao gồm đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI) và đầu tư gián tiếp của nước ngoài (FPI).
3. Đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI)
Đối với đầu tư nước ngoài trực tiếp, cho đến nay, có nhiều định nghĩa của các chuyên gia pháp luật, kinh tế cũng như được ghi nhận trong các tài liệu về đầu tư nước ngoài của các tổ chức quốc tế và trong nước.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (tiếng Anh: Foreign Direct Investment, viết tắt là FDI) là hình thức đầu tư dài hạn của cá nhân hay công ty nước này vào nước khác bằng cách thiết lập cơ sở sản xuất, kinh doanh. Cá nhân hay công ty nước ngoài đó sẽ nắm quyền quản lý cơ sở sản xuất kinh doanh này.
Theo tổ chức Thương mại Thế giới đưa ra định nghĩa như sau về FDI:
Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác. Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh. Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay được gọi là "công ty mẹ" và các tài sản được gọi là "công ty con" hay "chi nhánh công ty".
Về mặt định lượng, một định nghĩa được chấp nhận rộng rãi về FDI là đầu tư ít nhất 10% phần vốn góp có giá trị biểu quyết của một doanh nghiệp ỏ nước ngoài.
Về mặt định tính, FDI là vốn của các doanh nghiệp và cá nhân nước ngoài đầu tư sang các nước khác và trực tiếp quản lý hoặc tham gia trực tiếp quản lý quá trình sử dụng và thu hồi số vốn bỏ ra.
4. Đầu tư gián tiếp của nước ngoài (FPI)
Đầu tư gián tiếp nước ngoài (trong tiếng Anh là Foreign Portfolio Investment), viết tắt: FPI. Đó là hoạt động mua tài sản tài chính nước ngoài nằm mục đích kiếm lời, chủ sở hữu vốn không trực tiếp điều hành và quản lí quá trình sử dụng vốn.
Trong khi đó, đầu tư gián tiếp nước ngoài là khoản đầu tư ít hơn 10% phần vốn góp có giá trị biểu quyết.
Như vậy, theo Jeswald Salacuse: The Law of Investment Treaties, Oxford University Press, 2009, p. 18, điểm khác biệt cơ bản là mức vốn góp đủ lớn để nhà đầu tư có thể tham gia vào việc kiểm soát doanh nghiệp trong trường hợp FDI và không đủ lớn để có được sự kiểm soát như vậy trong trường hợp đầu tư gián tiếp (FPI).
5. Vai trò đầu tư nước ngoài
Đầu tư nước ngoài đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp vốn, kỹ năng quản lý, công nghệ hiện đại, góp phần phát triển kinh tế của nước nhận đầu tư.
Các yếu tố thu hút đầu tư nước ngoài thường là nguồn tài nguyên thiên nhiên như khoáng sản (như ở dầu mỏ ở Inđônêxia ) hay giá lao động rẻ (như ở Trung Quốc, Malaixia), chính sách thay thế nhập khẩu ở nước nhận đầu tư.
Ngoài ra, nhiều quốc gia đưa ra các biện pháp khuyến khích đầu tư như miễn giảm thuế, khấu hao nhanh, giảm thuế nhập khẩu đầu vào sản xuất, đặc khu kinh tế, hay khuyến khích xuất khẩu. Môi trường kinh tế vĩ mô và môi trường chính trị tốt cũng là những yếu tố quan trọng hấp dẫn nhà đầu tư nước ngoài. Chính sách bảo hộ chống cạnh tranh từ hàng hóa nhập khẩu đôi khi thúc đẩy các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư tìm kiếm thị trường. Chính sách của nước đi đầu tư có thể thúc đẩy hoạt động đầu tư ra nưởc ngoài của các công ty, cá nhân ở nước đó.
Ví dụ, một số nước cho phép các nhà đầu tư nước ngoài được nhập khẩu miễn thuế một số sản phẩm chế tạo tại các chi nhánh của họ tại nước ngoài. Cuối cùng, nhà đầu tư có thể cân nhắc kinh doanh tại nhiều địa điểm khác nhau, kể cả ở nước ngoài để phân tán rủi ro.
Trân trọng!