1. Đầu tư
Theo nghĩa thông thường, theo tác giả Nguyễn Lân, Từ điển Từ và Ngữ Việt Nam, Nxb. Thành phô' Hồ Chí Minh, 2000, tr. 594 , “đầu tư’ được hiểu là việc bỏ vốn, công sức nhằm mục đích sinh lời.
Theo Jeswald Salacuse: The Law of Investment Treaties, Oxford University Press, 2009, p.18, trong tiếng Latinh “investire” (đầu tư) có nghĩa là “cung cấp”, tức là nhà đầu tư cung cấp vốn cho doanh nghiệp thông qua hoạt động đầu tư.
Hay trong tiếng Anh, theo Longman Group Ltd.: Longman Dictionary of Contemporary English, Cayfosa, Barcelona, 1999, p.175 từ “investment” (đầu tư) có nghĩa là việc bỏ tiền của cá nhân, tổ chức vào một công ty, hoạt động kinh doanh hay ngân hàng để có được lợi nhuận hoặc để tiến hành thành công một hoạt động kinh doanh.
Theo trang web www.investopedia.com (Trang điện tử về giáo dục, tài chính và đầu tư) định nghĩa khoản đầu tư là một tài sản hoặc hàng hóa được mua với hy vọng nó sẽ tạo ra thu nhập hay đánh giá cao hơn trong tương lai. Theo nghĩa kinh tế, đầu tư là việc mua sắm hàng hóa, dịch vụ được sử dụng trong tương lai để tạo ra của cải, không phải là tiêu thụ trong hiện tại. Trong tài chính, đầu tư là một tài sản tiền tệ mua với ý tưỏng rằng, các tài sản sẽ đem lại thu nhập trong tương lai hoặc đánh giá cao hơn và được bán với giá cao hơn.
Theo từ điển bách khoa toàn thư, đầu tư có ý nghĩa khác nhau trong tài chính và kinh tế học. Trong kinh tế học, đầu tư có liên quan đến tiết kiệm và trì hoãn tiêu thụ. Đầu tư có liên quan đến nhiều khu vực của nền kinh tế, chẳng hạn như quản lý kinh doanh và tài chính dù là cho hộ gia đình, doanh nghiệp, hoặc chính phủ. Trong tài chính, đầu tư tài chính là đặt tiền vào một tài sản với kỳ vọng của vốn đánh giá cao, thường là trong tương lai dài hạn. Điều này có thể được hoặc không được hỗ trợ bởi nghiên cứu và phân tích. Hầu hết hoặc tất cả các hình thức đầu tư liên quan đến một số hình thức rủi ro, chẳng hạn như đầu tư vào cổ phần, bất động sản và thậm chí các chứng khoán lãi suất cố định mà có thể, ngoài những điều khác, rủi ro lạm phát. Theo pháp luật một số nước hiện nay, việc đầu tư nước ngoài cần phải được cơ quan nhà nước cấp giấy chứng nhận đầu tư, đơn cử ở Việt Nam, việc đầu tư phải được cấp giấy chứng nhận nhằm đảm bảo quyền lợi chính đáng của nhà đầu tư
2. Đầu tư nước ngoài
Trong khoa học pháp lý có khá nhiều cách hiểu về đầu tư nước ngoài, tùy thuộc vào khía cạnh nhìn nhận khác nhau của quá trình này và chúng được thể hiện ở cả pháp luật quốc tế và pháp luật của các quốc gia.
Theo nội luật của nhiều quốc gia, khái niệm đầu tư nước ngoài hoặc được định nghĩa rõ ràng hoặc gộp với định nghĩa về đầu tư nói chung (bao gồm cả đầu tư trong nước và đầu tư nựớc ngoài).
Ví dụ, theo Luật Đầu tư của năm 2007 (Inđônêxia) quy định, “đầu tư nước ngoài” là hoạt động đầu tư để kinh doanh trên lãnh thổ của nước Cộng hòa Inđônêxia được thực hiện bởi một nhà đầu tư nước ngoài cả bằng hình thức 100% vốn nước ngoài và tham gia vào hên doanh với nhà đầu tư trong nước.
Tuy nhiên, Luật Đầu tư năm 2014, sửa đổi, bổ sung năm 2015 theo Luật Khí tượng thủy văn; năm 2016 theo Luật sửa đổi, bổ sung Điều 6 và Phụ lục 4 về Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có đỉều kiện của Luật Đầu tư; năm 2017 theo Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa; năm 2018 theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 11 Luật có hên quan đến quy hoạch; năm 2019 theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật sở hữu trí tuệ thì không có định nghĩa riêng về đầu tư nưổc ngoài mà gộp chung vào định nghĩa “đầu tư kinh doanh”.
Trong pháp luật Việt Nam, khái niệm “đầu tư nước ngoài” được ghi nhận trong Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam của năm 1987, sửa đổi, bổ sung năm 1990, 1992. Mặc dù có khác biệt về nội hàm, khái niệm này tiếp tục được ghi nhận trong luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1996, sửa đổi, bổ sung năm 2000 và Luật Đầu tư năm 2005.
Ở góc độ pháp luật quốc tế, hầu hết các điều ước quốc tế định nghĩa đầu tư bằng cách liệt kê các tài sản, quyền tài sản được nhà đầu tư nước ngoài đưa (chuyển) vào quốc gia sở tại để thực hiện quá trình đầu tư sinh lời của mình thì được gọi là các khoản đầu tư. Pháp luật đầu tư một số quốc gia cũng định nghĩa theo cách này.
Tuy vậy, dù có hay không có định nghĩa cụ thể về đầu tư nước ngoài trong pháp luật, dường như các quốc gia đều quan niệm giống nhau về đầu tư nước ngoài, theo đó là việc bỏ vốn của cá nhân, tổ chức để thực hiện các hoạt động đầu tư, kinh doanh hợp pháp tại quốc gia mà họ không mang quốc tịch hoặc không phải là người thường trú.
Theo Luật Đầu tư năm 2014, khái niệm đầu tư, đầu tư trực tiếp hay đầu tư gián tiếp nước ngoài đã không còn xuất hiện nữa mà chỉ còn duy nhất một khái niệm đó là “Đầu tư kinh doanh”.
Theo Luật đầu tư năm 2014 này, hoạt động đầu tư chính là “việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinh doanh thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốh góp của tổ chức kinh tế; đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự án đầu tư” (khoản 5 Điều 3). Định nghĩa nhà đầu tư nước ngoài trong Luật Đầu tư năm 2014 là “cá nhân có quốc tịch nước ngoài, tổ chức thành lập theo pháp luật nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam” (khoản 14 Điều 3).
Như vậy, định nghĩa về “đầu tư” theo các luật trên chỉ nêu các loại hình bỏ vốn đầu tư được phép thay vì xác đỊnh cả mục đích, kết quả của quá trình này. Cùng vối đó, đầu tư nưốc ngoài được xác định dựa vào yếu tô' nước ngoài của quốc tịch người sở hữu tài sản đầu tư.
3. Lý thuyết về đầu tư nước ngoài
Các lý thuyết kinh tế có ảnh hưởng không nhỏ tới các quan điểm trong xây dựng nội luật cũng như cam kết quốc tế về đầu tư nước ngoài của các quốc gia, trong đó phải kể đến ba lý thuyết , đó là: Lý thuyết cổ điển về đầu tư nước ngoài; Lý thuyết phụ thuộc và Lý thuyết trung dung.
4. Lý thuyết cổ điển về đẩu tư nước ngoài
Lý thuyết cổ điển về đầu tư nước ngoài cho rằng, đầu tư nước ngoài là hoàn toàn có lợi cho nước chủ nhà vì mang đến vốn và nguồn lực từ nước ngoài, thúc đẩy vốn trong nước được sử dụng có hiệu quả hơn, kèm theo công nghệ mới, góp phần phát triển công nghệ của nước chủ nhà, tạo việc làm, cải thiện kỹ năng của người lao động, nâng cao chất lượng quản lý, góp phần phát triển cơ sở hạ tầng,... Do những lợi ích của đầu tư nước ngoài nên theo lý thuyết này, đầu tư nước ngoài phải được pháp luật quốc tế bảo vệ khỏi các loại rủi ro chính trị tại nước nhận đầu tư.
Tuy nhiên, lý thuyết này bị thách thức trước việc có nhiều nước chậm phát triển cho dù thu hút được nguồn vốn đầu tư nước ngoài và việc các chính phủ vẫn can thiệp, kiểm soát đầu tư nước ngoài. Lý thuyết này được chủ nghĩa tân tự do “neo-liberalism” hỗ trợ vì theo đó nên có ít sự can thiệp của nhà nước về lập pháp và quản lý vào nền kinh tế. Quan điểm tự do hóa chiếm ưu thế những năm 1990, được nhiều học giả của các nưốc phát triển, các định chế tài chính quốc tế chuyên xuất khẩu vôn như WB, IMF ủng hộ, phản ánh trong những thỏa thuận quốc tế về sở hữu trí tuệ, dịch vụ và đầu tư.
Trên cơ sở lý thuyết cổ điển, các điều ước quốc tế đã ghi nhận nghĩa vụ khuyến khích, thúc đẩy và bảo hộ đầu tư và trao cho nhà đầu tư quyền khởi kiện trực tiếp quốc gia nhận đầu tư, lựa chọn cơ quan giải quyết tranh chấp, trong đó có trọng tài quốc tế, không bị ràng buộc nhiều về thủ tục, một quyền lợi mà nhà đầu tư chưa từng có trong luật quốc tế. Công ước ICSID nêu rõ sự tin tưỏng rằng giải quyết tranh chấp sẽ dẫn đến gia tăng dòng chảy đầu tư nước ngoài và có lợi cho phát triển nói chung. Lý thuyết cũng được phản ánh qua Hiệp định bảo đảm đầu tư đa phương (MIGA), nhiều văn kiện quốc tế, phán quyết tòa trọng tài.
Tuy nhiên, trên thực tế, nhiều nhà kinh tế, chính trị, luật học đã chỉ ra rằng, đầu tu nước ngoài còn mang lại nhiều lợi ích hơn cho nước xuất khẩu vốh. Đồng thời, không phải đầu tư nước ngoài luôn đồng nghĩa với phát triển kinh tế, nếu nhà đầu tư nước ngoài tận dụng sức lao động theo những cách vi phạm quyền lợi của người lao động, hoặc đầu tư vào những ngành công nghiệp bẩn, gây hại cho môi trường,...
Một số chuyên gia phản đối quan điểm một chiều về đầu tư nước ngoài chỉ có lợi cho quốc gia nhận đầu tư. Họ nhận xét rằng đầu tư nước ngoài còn mang lại nhiều lợi ích hơn cho nước xuất khẩu vốn, có trường hợp dòng đầu tư nước ngoài vào lại ít hơn dòng tiền lợi nhuận chuyển về nước1, thậm chí còn gấp hai lần. Đầu tư nước ngoài có thể làm gia tăng những vấn đề như khoảng cách giàu nghèo, công nghệ lỗi thời ỗ Áchentina, Inđônêxia và nhiều nước châu Phi, bóc lột lao động, vi phạm nhân quyển, khai thác quá mức tài nguyên hoặc đầu tư vào những ngành công nghiệp bẩn, gây hại cho môi trường. Cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008 làm dấy lên nghi ngờ về tính một chiều của lý thuyết này.
5. Lý thuyết phụ thuộc
Trái ngược với lý thuyết cổ điển, Lý thuyết phụ thuộc (dependency) - Lý thuyết này cho rằng, đầu tư gây ra sự phụ thuộc vào nhà đầu tư nước ngoài của nước nhận đầu tư, cản trở phát triển kinh tế, nhấn mạnh những mặt trái của đầu tư nước ngoài trong thực tiễn.
6. Lý thuyết trung dung
Với Lý thuyết trung dung, kết hợp cả hai lý thuyết Lý thuyết cổ điển về đẩu tư nước ngoài và lý thuyết phụ thuộc nói trên. Theo đó, các khoản đầu tư nước ngoài cần phải có sự bảo hộ thì mới có thể khuyến khích đầu tư, thương mại vào nước sở tại, nhưng khoản đầu tư đó phải được phê duyệt kỹ lưỡng để tránh những ảnh hưởng tiêu cực mà Lý thuyết phụ thuộc nêu ra như ô nhiễm môi trường, nhân quyền, công nghệ lạc hậu... Lý thuyết này làm rõ cả các lợi ích và tác hại mà đầu tư nưốc ngoài có thể mang lại. Từ đó, những học giả ủng hộ Lý thuyết này khuyến khích xây dựng pháp luật ở nước nhận đầu tư như các bộ nguyên tắc ứng xử, quy định bảo hộ đầu tư kinh doanh, pháp luật cạnh tranh, các quy tắc điều chỉnh hoạt động kinh doanh cũng như hoàn thiện các cam kết quốc tế. Rõ ràng, học thuyết thứ ba phản ánh thực tiễn về đầu tư nước ngoài và cho thấy cần phải có sự quản lý, điều tiết hợp lý, rà soát kỹ lưỡng của nước nhận đầu tư đối với nguồn vốn này.
Trên đây là nội dung Luật Minh Khuê sưu tầm và biên soạn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.
Luật Minh Khuê (Sưu tầm và Biên soạn).