1. Khái niệm

Theo quy định tại Điều 54 Bộ luật hình sự, thì người phạm tội có thể được miễn hình phạt trong trường hợp phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự, đáng được khoan hồng đặc biệt, nhưng chưa đến mức được miễn trách nhiệm hình sự.

Như vậy, người phạm bất cứ tội gì cũng có thể được miễn hình phạt, không phân biệt tội đó là tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng hay tội đặc biệt nghiêm trọng. Tuy nhiên, điều kiện để người phạm tội được miễn hình phạt lại không cụ thể, ngoài điều kiện về tình tiết giảm nhẹ và nếu chỉ căn cứ vào tình tiết giảm nhẹ thì người phạm tội chỉ có thể được quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt theo quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự chứ chưa thể được miễn hình phạt. Vì vậy, người phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ mới chỉ là một điều kiện cần mà chưa đủ mà phải có thêm điều kiện khác, mà điều kiện này mới có ý nghĩa quyết định có cho miễn hình phạt hay không, đó là: "đáng được khoan hồng đặc biệt, nhưng chưa đến mức được miễn trách nhiệm hình sự".

Người phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự là phải có từ hai tình tiết giảm nhẹ trở lên và các tình tiết đó phải được quy định tại khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự. Điều kiện này hoàn toàn giống với điều kiện để người phạm tội được áp dụng hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, vấn đề còn lại là xác định điều kiện "đáng được khoan hồng đặc biệt, nhưng chưa đến mức được miễn trách nhiệm hình sự". Để xác định điều kiện này, không thể không nghiên cứu các quy định về miễn trách nhiệm hình sự tại Điều 25 Bộ luật hình sự. Có thể nói, người phạm tội được miễn hình phạt là người có điều kiện để miễn trách nhiệm hình sự nhưng chưa được miễn trách nhiệm hình sự. Cũng chính vì thế mà Bộ luật hình sự năm 1985 quy định trường hợp miễn hình phạt trong cùng một điều luật với trường hợp miễn trách nhiệm hình sự (khoản 2 Điều 48)

Theo Điều 25 Bộ luật hình sự, thì người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự trong những trường hợp sau:

  • Người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự, nếu khi tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử, do chuyển biến của tình hình mà hành vi phạm tội hoặc người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa.
  • Trong trường hợp trước khi hành vi phạm tội bị phát giác, người phạm tội đã tự thú, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm, thì cũng có thể được miễn trách nhiệm hình sự.

- Người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự khi có quyết định đại xá.

Trong ba trường hợp trên, thì trường hợp thứ nhất và thứ ba là đương nhiên được miễn trách nhiệm hình sự. Chỉ còn trường hợp thứ hai là trường hợp phải đánh giá, phải xác định xem người phạm tội có được miễn trách nhiệm hình sự hay không, nếu không được miễn trách nhiệm hình sự thì có thể được miễn hình phạt.

Trong trường hợp thứ hai, người phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự nếu trước khi hành vi phạm tội bị phát giác, người phạm tội đã tự thú, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, có gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm. Chúng ta sẽ lần lượt nghiên cứu các điều kiện này.

2. Người phạm tội tự thú trước khi hành vi phạm tội bị phát giác

Tự thú là tự khai ra hành vi phạm tội của mình với cốc nhà chức trách. Việc người phạm tội tự khai ra hành vi phạm tội của mình với nhà chức trách là biểu hiện của sự ăn năn hối cải về việc làm sai trái của mình nên đáng được khoan hồng, nhưng mức độ khoan hồng tới đâu thì lại phải căn cứ vào chính sách hình sự của Nhà nước; căn cứ vào tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, hậu quả đã xảy ra; thái độ khai báo; sự góp phần vào việc phát hiện và điều tra tội phạm cửa người tự thú. Tại Thông tư liên ngành số 05/TTLN ngày 2-6-1990 của Bộ nội vụ (nay là Bộ công an), Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tôi cao, Bộ tư pháp hướng dẫn thi hành chính sách đối với người phạm tội ra tự thú đã quy định: “Người đã thực hiện hành vi phạm tội, nhưng chưa bị phát giác, không kể phạm tội gì, thuộc trường hợp nghiêm trọng hay ít nghiêm trọng mà ra tự thú, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả tội phạm thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự hoặc được giảm nhẹ hình phạt theo quy định tại Điều 46 Bộ luật hình sự; nếu cùng với việc tự thú mà còn lập công lớn, vận dộng được nhiều người khác đã phạm tội ra tự thú thì có thể được khen thưởng theo quy định chung của nhà nước” Như vậy người tự thú được miễn trách nhiệm hình sự khi có đủ những điều kiện sau: 

  • Tội phạm mà người tự thú đã thực hiện chưa bị phát giác, tức là chưa ai biết có tội phạm xảy ra hoặc có biết nhưng chưa biết ai là thủ phạm. Ví dụ: Phạm Thanh H thấy gia đình nhà anh Trần Quốc T không có ai ở nhà nên đã cậy cửa vào nhà lấy đi một chiếc Ti vi mầu. Sau hai tháng vụ trộm cắp này chưa tìm ra thủ phạm thì H đã đến cơ quan công an khai rõ hành vi phạm tội của mình và đem trả cho gia đình anh T chiếc Ti vi mà H đã lấy trộm.
  • Người tự thú phải khai rõ sự việc góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, tức là khai đầy đủ tất cả hành vi phạm tội của mình cũng như hành vi phạm tội của những người đồng phạm khác, không giấu giếm bất cứ một tình tiết nào của vụ án, đồng giúp cơ quan điều tra phát hiện tội phạm như: chỉ nơi ở của kẻ đồng phạm hoặc dẫn cơ quan điều tra đi bắt kẻ đồng phạm đang bỏ trốn, thu thập các dấu vết của tội phạm, thu hồi tang vật.v.v... Nếu khai không rõ ràng hoặc khai báo không đầy đủ thì không được coi là tự thú để làm căn cứ miễn trách nhiệm hình sự. Ví dụ: Mai Ngọc T nhận làm gián điệp cho nước ngoài, T đã cung cấp nhiều tài liệu bí mật Nhà nước cho nước ngoài trong một thời gian từ năm 1980 đến năm 1993 thì T ra tự thú với Cơ quan an ninh điều tra, nhưng T chỉ khai làm gián điệp cho nước ngoài từ năm 1985 và đã chấm dứt việc làm gián điệp từ năm 1990, nhiều tài liệu bí mật Nhà nước T cung cấp cho nước ngoài, T không khai đầy đủ.

- Cùng với việc tự thú người tự thú phải cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm như: Trả lại tài sản đã chiếm đoạt; thông báo kịp thời cho người bị hại biết những gì đang đe dọa đến tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm danh dự hoặc tài sản để họ đề phòng; đòi lại hoặc thu lại những nguồn nguy hiểm mà họ đã tạo ra cho người hoặc cho những lợi ích khác v.v... Ví dụ: Đào Văn H đã bỏ thuốc độc vào bể nước của gia đình anh Đỗ Văn Q nhằm đầu độc anh Q, nhưng H đã tự thú và thông báo cho gia dinh anh Q biết trong bể nước có thuốc độc để gia đình anh không dùng nước đã có thuốc độc, hậu quả được hạn chế tới mức thấp nhất nên H có thể được miễn trách nhiệm hình sự.

Cả hai trường hợp khoản 2 Điều 25 Bộ luật hình sự quy định cũng chỉ có thể được miễn trách nhiệm hình sự chứ không phải đương nhiên được miễn trách nhiệm hình sự, và vì vậy khi xem xét để miễn trách nhiệm hình sự cho người ra tự thú phải xem xét một cách tổng hợp, toàn diện căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; vào hậu quả đã xảy ra; vào thái độ khai báo của người tự thú; vào sự góp phần vào việc phát hiện, điều tra tội phạm; vào việc hạn chế hậu quả của tội phạm. Đồng thời phải cảnh giác với những người giả vờ tự thú để trốn tránh một tội phạm nghiêm trọng hơn hoặc chờ thời cơ lại tiếp tục thực hiện tội phạm.​

3. Người phạm tội chủ động ngăn chặn hậu quả của tội phạm

Hậu quả của tội phạm là những thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra cho những quan hệ xã hội được luật hình bảo vệ. Những thiệt hại này có thể là thiệt hại cho Nhà nước (độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, chế độ chính trị, chế độ kinh tế, sở hữu nhà nước, trật tự xã hội...); cho công dân (tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp khác...)

Người phạm tội chủ động ngăn chặn tức là chủ động làm cho hậu quả không xảy ra hoặc hạn chế tới mức thấp nhất những thiệt hại cho Nhà nước hoặc cho công dân. Ngoài những trường hợp ngăn chăn hậu quả do tự thú, do tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội, thực tiễn xết xử còn nhiều trường hợp người phạm tội chủ động ngăn chặn hậu quả khi hành vi phạm tội đã được thực hiện, nếu người phạm tội không chủ động ngăn chặn thì hậu quả tất yếu sẽ xảy ra. Ví dụ: A đã bỏ thuốc độc vào bể nước của nhà B, nhưng sau đó A đã viết một mảnh giấy dán vào thành bể có nội dung “ nước có thuốc độc” vì có mảnh giấy này nên gia đình B không ai uống nước, do đó không ai bị ngộ độc. Nếu phân tích hành vi này của A thì không thuộc trường hợp trường hợp tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội vì A đã thực hiện hết hành vi khách quan của tôị phạm, cũng không phải là tự thú vì A không tự nhận mình là người bỏ thuôc độc vào bể nước. Hành vi của A trong trường hợp này chỉ là hành vi chủ động ngăn chặn hậu quả. Bộ luật hình sự hiện hành của nước ta chưa quy định hành vi chủ động ngăn chặn hậu quả được loại trừ trách nhiệm hình sự, nhưng trên thực tế những trường hợp này cơ quan tiến hành tố tụng đều không truy cứu trách nhiệm hình sự đốì với người có hành vi phạm tội đã chủ động ngăn chặn hậu quả.

Cần phân biệt hành vi chủ động ngăn chặn hậu quả với hành vi tự nguyện khắc phục hậu quả. Hành vi khắc phục hậu quả là hậu quả đã xảy ra rồi, người phạm tội chỉ tự nguyện sửa chữa, bồi thường những thiệt hại mà họ đã gây ra những thiệt hại này chủ yếu là thiệt hại về tài sản. Ví dụ: Một người đã tham ô 100.000.000 đồng của cơ quan, nhưng khi bị phát hiện họ đã tự đem nộp lại số tiền trên cho cơ quan. Hành vi tự nguyện khắc phục hậu quả chỉ được coi là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 46 Bộ luật hình sự chứ không được loại trừ trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự quy định: “Người phạm tội đã ngăn chặn, làm giảm bớt tác hại của tội phạm hoặc tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại”. Như vậy, theo quy định này thì hành vi ngăn chặn, làm giảm bớt tác hại của tội phạm chỉ được coi là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự chứ không được loại trừ trách nhiệm hình sự.

Người phạm tội được miễn hình phạt, nhất thiết phải có những điều kiện về trường hợp miễn trách nhiệm hình sự, nhưng vì tính chất và mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội và các tình tiết khác của vụ án mà không thể miễn trách nhiệm hình sự đối với họ được thì mới miễn hình phạt.

4. Hậu quả của việc áp dụng chế định miễn hình phạt

Hiện nay, theo pháp luật hình sự Việt Nam thì, về cơ bản, hậu quả của việc áp dụng chế định miễn hình phạt là người được miễn hình phạt là người có tội, họ có trách nhiệm hình sự và phải chịu trách nhiệm hình sự. Người này đã bị tiến hành điều tra, truy tố, xét xử nhưng khi xét xử, họ không bị Tòa án áp dụng biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước là hình phạt về tội mà họ đã thực hiện, do có căn cứ để miễn hình phạt, nếu không có, họ sẽ bị áp dụng hình phạt trên những cơ sở chung.

Như vậy, hậu quả pháp lý hình sựcủa việc áp dụng chế định miễn hình phạt cũng khác với miễn trách nhiệm hình sự. Theo đó, với người được miễn trách nhiệm hình sự thì họ đương nhiên không bị áp dụng bất kỳ hình phạt nào, bao hàm cả việc được miễn hình phạt, nhưng miễn hình phạt thì người phạm tội vẫncó trách nhiệm hình sự và phải chịu trách nhiệm hình sự. Đối với người này, họ bị tiến hành điều tra, truy tố, xét xửtheo quy định chung của pháp luật,mặc dù họ đương nhiên được xóa án tích theo Điều 64 Bộ luật Hình sự.

Tuy nhiên, qua nghiên cứu chúng tôi nhận thấy, Bộ luật Hình sự chưabảo đảm được công bằng giữa trường hợp người được miễn hình phạt với người vi phạmhành chính trong trường hợp cụ thể. Điều 54 Bộ luật quy định: "Người phạm tội có thể được miễn hình phạt trong trường hợp người phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 của Bộ luật này, đáng được khoan hồng đặc biệt, nhưng chưa đến mức được miễn trách nhiệm hình sự", và theo khoản 1 Điều 64 thì người được miễn hình phạt đương nhiên được xóa án tích. Như vậy, cũngnhư người được miễn trách nhiệm hình sự, người được miễn hình phạt không phải chịu hậu quả pháp lý bất lợi của việc phạm tội hoặc (và) của việc quyết định hình phạt là án tích. Trong khi đó, nếu một người vi phạm hành chính và bị xử phạt, thì trong thời hạn một (01) năm sau họ mới được xóa án và coi như chưa bị xử lý vi phạm hành chính (Điều 11 Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2002, sửa đổi năm 2007, 2008 trước đây và nay là Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012). Đặc biệt, trong nhiều trường hợp, Bộ luật Hình sự quy địnhdấu hiệu nhân thân (đã bị xử phạt hành chính) là dấu hiệu định tội, nếu người đó tái phạm sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Như vậy, xét ở góc độ pháp lý, hậu quả pháp lý mà người phạm tội (được miễn hình phạt) gánh chịu còn nhẹ hơn so với người vi phạm hành chính (mà bị xử phạt hành chính), vì ngoài phải chịu trách nhiệm hành chính ra, người này còn phải chịu thời hạn là một (01) năm thử thách, không tái phạm thì mới được coi như chưa bị xử phạt vi phạm hành chính. Để bảo đảm sự công bằng giữa người được miễn hình phạt và người bị xử phạt hành chính, vấn đề nên được sửa đổi, bổ sung theo hướng:Trong trường hợp cần thiết, Tòa án áp dụng một trong các biện pháp tư pháp của Bộ luật này hoặc kiến nghị cơ quan, tổ chức hay người có thẩm quyền xử lý hành chính hoặc kỷ luật đối với người được miễn hình phạt.

5. Trường hợp miễn hình phạt chung

Bên cạnh các điều kiện khác, Điều 54 Bộ luật Hình sự không hạn chếquy định loại tội gì để được miễn hình phạt, nhưng đã gián tiếp thông qua Điều 29 Bộ luật Hình sự về "Cảnh cáo": "Cảnh cáo được áp dụng đối với người phạm tội ít nghiêm trọng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhưng chưa đến mức miễn hình phạt". Do đó, đối với trường hợp miễn hình phạt chung, các nhà làm luật nênhạn chế phạm vi loại tộimà người phạm tội có thể được miễn hình phạt, đó là loại tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng để có sự phân hóa hơn nữa trong chính sách hình sự, phân biệt với trường hợp áp dụng hình phạt cảnh cáo, cũng như tránh việc lạm dụng áp dụng đối với cả những trường hợp phạm tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng, làm ảnh hưởng đến tính nghiêm minh của pháp luật, không bảo đảm yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong thực tiễn xét xử, gây bức xúc trong dư luận quần chúng nhân dân. Ngoài ra, cần bổ sung cụm từ "TNHS" sau cụm từ "tình tiết giảm nhẹ" của Điều 54 Bộ luật Hình sự nhằm bảo đảm chính xác và chặt chẽ hơn.