NỘI DUNG TƯ VẤN
1. Bằng độc quyền sáng chế đang làm cuộc cách mạng trong nông nghiệp ngày nay:
Nông nghiệp là một trong nhưng ngành kinh tế lớn nhất thế giới, tạo việc làm cho 1,3 tỷ người trên toàn thế giới và làm ra lượng hàng hoá trị giá 1,3 nghìn tỷ USD mỗi năm. Giống như trong những ngành kinh tế then chốt khác, sự tăng trưởng của nền kinh tế nông nghiệp hiện đại là nhờ hàng loạt những đổi mới liên tục và những tiến bộ công nghệ, từ những sáng chế về cơ khí cho đến hoá chất nông nghiệp và mùa vụ có năng suất cao hơn, chất lượng được cải thiện và sức kháng bệnh tốt hơn, nhiều sáng chế trong số này có thể đã không được tạo ra nếu không có sự hỗ trợ của quyền SHTT
Ngày nay, sự thay đổi đang tăng tốc, vì công nghệ sinh học đang làm cuộc cách mạng trong nền khoa học nông nghiệp.
2. Bảo hộ giống cây trồng mới:
Giống cây trồng mới với năng suất cao, chất lượng được cải thiện hoặc sức kháng sâu bệnh tốt hơn có thể nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm trong ngành nông nghiệp, nghề làm vưòn và lâm nghiệp. Ví dụ, ngành tạo giống đã đóng góp khoảng một nửa vào mức tăng gấp ba lần trong năng suất lúa mỳ đạt được ở Vương quốc Anh trong 50 năm vừa qua. Ngoài ra, năng suất lúa trung bình ở Nam Á và Đông Nam Á đã tăng hơn hai lần từ giai đoạn 1964 đến 1966, tức là thời kỳ ngay trươc khi đưa giống hiện đại đầu tiên có năng suất cao vào gieo trồng. Trong lịch sử, rất nhiều quy trình tạo giống bắt nguồn từ các viện nghiên cứu do nhà nươc tài trợ; tuy nhiên, ở nhiều nước không có sự tài trợ như vậy hoặc tài trợ đang bị rút lại, dẫn đến tình trạng phải trông cậy vào các công ty tư nhân. Việc tạo ra giống thực vật mới đòi hỏi một sự đầu tư lớn về kỹ năng, lao động, nguồn lực vật chất và tiền bạc đồng thời có thể phải mất nhiều năm (10 đến 15 đối với nhiều loài thực vật). Tuy nhiên trong nhiều trường hợp, khi được đưa ra sử dụng thì một giống mới có thể bị người khác sao chép một cách dễ dàng và do đó tước đoạt mất cơ hội thu lợi từ việc đầu tư của người tạo giống.
Không có hệ thống bảo hộ giống thực vật có hiệu quả thì hoạt động tạo giống có thể bị bó hẹp trong những Chương trình được chính phủ tài trợ hoặc hạn chế đối với việc tạo ra những giống không thể tái tạo lại được từ hạt đã thu hoạch theo cách truyền thống. Sự tồn tại của một hệ thống bảo hộ giống thực vật (một loại SHTT), chẳng hạn như hệ thống được quy định theo Công ước quốc tế về bảo hộ giống thực vật mới (Công ưóc UPOV), cho phép người tạo ra một giống mới (trong nhiều trường hợp đó là những nhà nông tiên tiến) được độc quyền khai thác giống của mình và khuyến khích họ đầu tư vào việc tạo giống, qua đó đóng góp cho sự phát triển nông nghiệp, nghề làm vườn và lâm nghiệp. Ngoài ra, hệ thống bảo hộ giống thực vật mới theo Công ước UPOV còn có một nội dung quan trọng, thường được biết đến là ngoại lệ dành cho nhà tạo giống, cho phép sử dụng tất cả các giống được bảo hộ để phát triển những giống mới mà không có bất cứ nghĩa vụ gì với nhà tạo giống ban đầu, trừ một số trưởng hợp được quy định cụ thể. Quy định đặc biệt này tạo điều kiện cho sự tiến bộ mang tính hợp tác trong việc phát triển giống mới, nhờ dựa vào sự tiến bộ chung do tất cả các nhà tạo giống tạo ra. Một nội dung quan trọng khác của Công ưóc UPOV được gọi là "đặc quyền của nông dân, theo đó nông dân có thể giữ lại vật liệu đã thu hoạch từ giống được bảo hộ để nhân giống sử dụng trên đồng ruộng của mình, trong khi lợi ích hợp pháp của nhà tạo giống được bảo đảm.
3. Khuyến khích nhiều hơn cho R&D trong nông nghiệp thuộc khu vực tư nhân:
Hiện đang có một nhu cầu cấp bách đối với những kỹ thuật được cải tiến liên quan đến ngành nông nghiệp ở các nước đang phát triển, đặc biệt là bởi vì những vấn đề liên quan đến an ninh lương thực và sức ép tăng dân số toàn cầu sẽ xuất hiện chủ yếu ở các nước này. Để có được những kỹ thuật như vậy, sẽ cần phải có những đổi mới bản địa cũng như sự du nhập công nghệ từ nơi khác trên thế giới. Mặc dù những Chương trình dựa trên nghiên cứu đã được thực hiện ở các nước đang phát triển nhưng những Chương trình này chủ yếu do khu vực công tài trợ. Điều này trái ngược hoàn toàn với các nước như Hoa Kỳ và Vương quốc Anh, nơi phần lớn hoạt động R&D trong lĩnh vực nông nghiệp do khu vực tư nhân tiến hành. Hơn nữa, hỗ trợ của nước ngoài cho nông nghiệp đã giảm một nửa từ năm 1986. Do đó, có một thực tế là để tăng cường nỗ lực nghiên cứu ở những nước đang phát triển cần phải có những khoản đầu tư lớn ở trong nước. Những cách tiếp cận khả thi bao gồm việc khuyên khích phát triển công nghệ trong nông nghiệp hoặc công nghiệp công nghệ sinh học ở trong nước và tăng cường quan hệ đối tác với khu vực tư nhân. Các cách tiếp cận này chỉ có thể thực hiện được nhờ nhiều biện pháp trong đó có tăng cường pháp luật SHTT
Giống như trong những lĩnh vực công nghệ khác, quyền SHTT đóng một vai trò quan trọng trong việc bảo đảm lợi nhuận kinh tế cho sự đầu tư trí tuệ và tài chính tạo ra khả năng cho hoạt động R&D. Đồng thời, những tổ chức nghiên cứu công cũng cần bảo hộ các kết quả nghiên cứu của mình thông qua quyền SHTT vì các quyền này có thể được sử dụng cả trong đàm phán với khu vực tư nhân và mang lại thu nhập từ hoạt động li-xăng, cũng như sẽ cho phép các tổ chức này tiếp tục thực hiện các hoạt động R&D để đóng góp cho lợi ích của xã hội. Nhiều tổ chức nghiên cứu, kể cả những tổ chức nghiên cứu ở các nước đang phát triển, đã bát đầu yêu cầu cấp bằng độc quyền sáng chế cho các kết quả R&D của mình. Ví dụ, Hội đồng Nghiên cứu Khoa học và Công nghiệp của Ấn Độ do chính phủ tài trợ (CSIR) đã được cấp 95 bằng độc quyền sáng chế tại Hoa Kỳ trong khoảng thời gian từ năm 1995 đến 1999. Với vị trí mạng lưới R&D rộng lớn nhất ở Ấn Độ, CSIR là tổ chức đầu tiên công bố một chính sách rõ rằng về SHTT nhằm tối đa hoá nguồn vốn trí tuệ của mình thông qua một chiến lược 4 mũi nhọn. CSIR xác định mục tiêu của mình theo tiêu chí số đơn yêu câu cấp bằng độc quyền sáng chế và nguồn thu nhập thực sự từ hoạt động li-xăng. Quyền SHTT có tầm quan trọng đặc biệt đối với những sáng chế về công nghệ sinh học, vì các sáng chế này có thế dễ dàng bị sao chép nhờ khả năng tái tạo của vật liệu sinh học.
4. CSIR - Trung tâm tri thức Ấn Độ:
CSIR thành lập Phòng Quản lý SHTT (IPMD) năm 1996. Ban đầu, nhiệm vụ chính của Phòng này được giới hạn ở việc đạt được sự bảo hộ theo bằng độc quyền sáng chế cho các sáng chế được phát triển trong các phòng thí nghiệm thành viên của CSIR. Hoạt động của Phòng hiện nay có phạm vi rộng. Đối với các bằng độc quyền sáng chế có nguồn gốc từ Ấn Độ, CSIR là người nộp đơn lớn nhất, hoạt động yêu cầu cấp bằng độc quyền sáng chế quốc tế của CSIR đang tăng gấp đôi mỗi năm trong mọt số năm qua. Các số liệu thống kê về bằng độc quyền sáng chế cho ta thấy hoạt động ngày càng tăng trong thập niên vừa qua:
ẤN ĐỘ NƯỚC NGOÀI
| NĂM | Đơn | Bằng | Đơn | Bằng |
| 1990-1991 | 202 | 55 | 15 | 10 |
| 2000-2001 | 410 | 118 | 452 | 56 |
CSIR khuyến khích bán công nghệ, li xăng bằng độc quyền sáng chế và li-xăng các hình thức SHTT khác trên mạng. Hiện đang có nhiều trường hợp các phòng thí nghiệm của CSIR li-xăng được bằng độc quyền sáng chế của mình cho những công ty đa quốc gia, cho ngành công nghiệp trong nước và đối tượng khác. Trong khi CSIR có một khuôn khổ chung để mang lại lợi ích cho các nhà khoa học của mình, các phòng thí nghiệm đang thử nghiệm : những mô hình khác nhau phù hợp với hướng dẫn chung đó để bảo đảm rồng không chỉ những người làm công việc nghiên cứu mà cả những người làm công việc hỗ trợ kỹ thuật và quản lý ở các phòng thí nghiệm cũng được chia sẻ lợi ích từ việc khai thác SHTT Các phòng thí nghiệm của CSIR có nhiều cơ chế khác nhau để khuyến khích việc yêu cầù cấp bằng độc quyền sáng chế quốc tế đối với các sáng chế. Một số phòng thí nghiệm trao giấy chứng nhận, huy Chương và cung cấp thêm vốn dự án cho những người nộp đơn yêu cầu cấp bằng độc quyền sáng chế ở nước ngoài. Một cơ chế chia sẻ thu nhập để phân chia khoản phí nhận được từ việc li-xăng bằng độc quyền sáng chế đã được áp dụng. Những cơ chế nội bộ trong các phòng thí nghiệm chăm lo kiểm tra việc công bố trước khi nộp đơn yêu cầu câp bằng độc quyền sáng chế. IPMD của CSIR đóng vai trò then chốt trong việc thúc đẩy, hướng dẫn và hỗ trợ các nhà khoa học trong việc yêu cầu cấp bằng độc quyền sáng chế cho các kết quả nghiên cứu của họ.
5. Khoa học gen làm thay đổi vĩnh viễn bộ mặt của Y học:
Việc hoàn thành bản dự thảo đầu tiên về bộ gien người tạo ra bước khởi đầu cho một cuộc cách mạng trong ngành y học. Khoa học về bộ gen có thể được ứng dụng trong việc tạo ra những loại thuốc mới cũng như tạo ra những liệu pháp điều trị y học riêng biệt đối với những bệnh di truyển.
Thành công của việc lập bản dự thảo về bộ gen này là nhờ những nỗ lực chung của công-xoóc-xi-om do công quỹ tài trợ mang tên Dự án Bộ Gen người và một công ty tư nhân là Celera Genomic. Đầu tư và nỗ lực của Celera một phần dựa vào niềm tin của họ đối với SHTT trong việc giúp công ty thu hồi vốn đầu tư cho nghiên cứu về bộ gen nhờ chuyển đổi tri thức đó thành những sản phẩm có thể bán được. Khu vực tư nhân đã đóng một vai trò không thể thiếu trong việc đẩy nhanh tốc độ lập bản đồ bộ gen người và sự tham gia của khu vực này sẽ tiếp tục có ý nghĩa trọng yếu trong việc phát triển và thương mại hoá những loại thuốc và phương pháp điều trị mang tính cách mạng dựa trên cơ sở những thông tin thu được từ bộ gen người, vấn đề đáng quan tâm là nếu không có bảo hộ SHTT thì liệu có thể xây ra việc khu vực tư nhân chấp nhận rủi ro về tài chính và sự bất trắc đi kèm với những khoản đầu tư khổng lồ cần cho việc lập bản đồ bộ gen người hay không.
Bảo hộ SHTT đối với những sáng chế dựa trên cơ sở gen cũng sẽ đóng vai trò quan trọng trong kích thích sự phát triển những sản phẩm chăm sóc sức khỏe mới. Cũng có thể thấy được tác động của khoa học về bộ gen trong các liên minh đang xuất hiện giữa những doanh nghiệp non trẻ về công nghệ sinh học và các hãng khổng lồ trong ngành dược phẩm. Ví dụ, một doanh nghiệp công nghệ sinh học nhỏ của Hoa Kỳ là CuraGen đã lập một kế hoạch công nghệ lớn để dịch một số lượng lớn thông tin có được từ dự án về bộ gen người và đã nộp hàng trăm đơn yêu cầu cấp bằng độc quyền sáng chế. CuraGen và Bayer, một công ty dược của Đức, đã thỏa thuận cùng đầu tư tới 1,3 tỷ DM trong 15 năm để phát triển các loại thuốc.
Chúng ta phải bảo đảm rằng những lợi ích có được từ các tiến bộ khoa học và công nghệ được sử dụng để làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn đối với con người ở tất cả các nước chứ không chì đối với một số ít có đặc quyền. Khoa học gen đặt ra những câu hỏi mới cho hệ thống bằng độc quyền sáng chế . Ví dụ, các gen và các đoạn gen (được biết đến như các đánh dấu được biểu’ hiện bằng trình tự) có khả năng được cấp patent hay không và với những điêu kiện gì. Việc ứng dụng những kỹ thuật sắp xếp trình tự gen một cách tự động bằng máy tính và những vấn đề liên quan đến việc đánh giá các điều kiện cấp bồng độc quyền sáng chế với sự trợ giúp của máy tính cũng đang được các chuyên gia thảo luận. Cũng như đối với các bằng độc quyền sáng chế về phương pháp kinh doanh, việc thiếu sự hài hoà quốc tế trong lĩnh vực này làm này sinh những vấn đề lớn đối với hoạt động khẩn trương hơn trong việc cấp bằng độc quyền sáng chế ở những quốc gia để chấp nhận cấp bằng độc quyền sáng chế cho các trình tự gen. Những tác động kéo theo trong sự phát triển nói trên cần được xem xét cẩn thận và nghiêm túc.
Hiện nay, những nỗ lực nghiên cứu đang chuyển từ khoa học gen sang phân tích mới quan hệ giữa bộ gen và protein (protonomics) cần sử dụng một siêu máy tính rất tinh vi. Xét về sự đòi hỏi những khoản đầu tư lớn và trình độ chuyên môn cao, việc nghiên cứu protonomics sẽ được thực hiện bởi một số lượng hạn chế các hãng và viện nghiên cứu công lập tương tự như trong trường hợp nghiên cứu về bộ gen. Hệ thống bằng độc quyền sáng chế không những chỉ cần tự điều chỉnh cho phù hợp với những biến đổi công nghệ nói trên để khuyến khích đầu tư mà còn phải tạo ra một sự cần bằng hợp lý giữa lợi ích thương mại và lợi ích công cộng.“
Cảm ơn quý khách đã gửi yêu cầu đến Công ty Luật Minh Khuê, trên đây là nội dung tư vấn của Công ty, nội dung tư vấn có giá trị tham khảo, nếu còn vấn đề mà quý khách hang còn chưa rõ xin vui lòng liên hệ đến tổng đài của Công ty Luật Minh Khuê 1900.6162 hoặc vui lòng gửi tin nhắn đến email lienhe@luatminhkhue.vn để được giải đáp thắc mắc. Trân trọng!