NỘI DUNG TƯ VẤN​

1. Chu trình sáng chế:

Bản chất động của hệ thống bằng độc quyền sáng chế được mô tả đầy đủ bởi Hisamitsu Arai trong một số nội dung ông viết ví dụ về "Chính sách về sở hữu trí tuệ cho thế kỷ 21: Kinh nghiệm của Nhật Bản trong việc tạo ra sự thịnh vượng", một nguồn không thể thiếu cho những người quan tâm trong khi sử dụng hệ thống bằng độc quyền sáng chế để khuyến khích phát triển kinh tế

2. Thực thi quyền SHTT

Chu trình này mô tả cách thức hệ thống bằng độc quyền sáng chế thúc đẩy cạnh tranh trong công nghệ và kinh doanh, bởi người nắm giữ bằng độc quyền sáng chế và hoạt động cạnh tranh của họ chạy đua để cải tiến sáng chế và tạo ra sáng chế mới. Thông thường, người nắm giữ bằng độc quyền sáng chế đầu tư một phần lợi nhuận thu được từ việc thương mại hoá những công nghệ được cấp bằng độc quyền sáng chế trong R&D. Do đó, có tổn tại một chu trình từ một sáng chế ban đầu đến một sáng chế được cải tiến, rồi sáng chế sau lợi là cơ sở cho sự cải tiến tiếp theo. Những sáng chế mới được liên tục tạo ra dưới dạng hoặc là những phiên bản được cải tiến của bằng độc quyền sáng chế hoặc là những sáng chế mới. Mỗi một sáng chế có thể được sáp nhập vào bất kể bao nhiêu sản phẩm. Những đối thủ cạnh tranh sẽ tìm cách tạo ra những sáng chế mới "tránh các yêu cầu bảo hộ" của các bằng độc quyền sáng chế đã cấp. Sự cạnh tranh này tạo ra những cách thức mới thường có hiệu quả hơn hoặc thuận lợi hơn để sản xuất những sản phẩm tương tự. Hệ thống bằng độc quyền sáng chế đóng vai trò khuôn khổ giữ cho chiếc bánh sáng chế quay. Chu trình sáng tạo trí tuệ cũng góp phần làm thích nghi công nghệ nước ngoài để đáp ứng nhu cầu và thị trường trong nước, bởi vì những bằng độc quyền sáng chế đã cấp ở một nước thì được bộc lộ và có thể trở thành cơ sở cho các phiên bản cải tiến hoặc truyền cảm hứng cho sáng chế mới.

3. Những nỗ lực của Toyota

Mô hình đổi mới cổ điển là phải tiến theo Một chu trình đơn giản , bao gồm các giai đoạn sáng chế, bằng độc quyền sáng chế sản phẩm mới, lợi nhuận đầu tư cho R&D và trở lại sáng chế trong thập niên của thế kỷ 19, một công ty của Nhật Bản, trong đó có Toyota đã phát triển bằng nghề máy dệt cho ngành công nghiệp dệt. Hoạt động R&D chiếu soi của những doanh nghiệp nhỏ Nhật Bản được bổ sung sự ứng dụng tích cực của hệ thống bằng độc quyền sáng chế để bảo hộ các công nghệ mới. Tuy nhiên, vào thời điểm chuyển giao thế kỷ, khoảng cách giữa nền công nghiệp Nhật Bản cho đên lúc đó chủ yếu dựa vào khung dệt bằng gỗ và các đối tác châu Âu đế quốc hưởng lợi từ sáng chế máy dệt tự động sau năm 1894 là rất lớn. Năm 1896 Sqkichi Toyota đã nhận được bằng độc quyền sáng chế cho một phiên bản máy dệt chạy điện tự động với các máy có trước đã được sử dụng ở châu Âu từ thế kỷ 18 và gần đây hơn là ở Nhật Bản. Bấp chấp thành công quan trọng của Toyota, sự cạnh tranh trên thị trường ngày một phức tạp, sáng chế đó không thể giúp Toyota thu được đủ lợi để tiếp tục kinh doanh máy dệt chạy điện. Cả hai lần Toyota thừa nhận lập doanh nghiệp để thương mại hóa bằng đổi mới dây truyền bằng máy dệt chạy điện của mình thì cả hai lần kinh doanh đều thất bại.

Mười ba năm sau lần thử đầu tiên, Sakichi đã thành công trong việc sáng chế ra máy dệt tự động. Ông đã đưa một số thay đổi quan trọng vào máy dệt tự động của châu Âu, những thay đổi đã mang lại cho ông lợi thế so với các đối thủ cạnh tranh của mình. Một số bằng độc quyền sáng chế khác đã được cấp để bổ sung và hoàn thiện sáng chế và cuối cùng vào năm 1924, máy dệt tự động Toyota kiểu G đã được đưa ra thị trường. Kiichiro Toyota, con trôi của Sakichi đã đạt được một thỏa thuận quan trọng với Platt Bothers & Co về việc thương mại hoá máy dệt tự động. Platt Brothers đã trả cho Toyota 100.000 bảng Anh (tương đương với 25 triệu USD ngày nay) để có được độc quyền sản xuất và bán máy dệt tự động ở bất cứ nước nào trừ Nhật Bản, Trung Quốc và Hoa Kỳ. Thỏa thuận đã tiếp thêm một khoản vốn lớn để đầu tư tiếp cho R&D. Toyota đã quyết định đầu tư 100.000 bảng Anh làm vốn ban đầu để thành lập một công ty ô tô.

4. Bằng độc quyền sáng chế và phát triển kinh tế

Bằng độc quyền sáng chế và phát triển kinh tế - Cách thức vận hành hệ thống bằng độc quyền sáng chế trên thực tế

Phần thảo luận trên đây đã khẳng định tính hợp lý về mặt lý thuyết của hệ thống bằng độc quyền sáng chế. Tuy nhiên, thử thách đối với lý thuyết là nó hoạt động trên thực tế như thế nào. Sự mô tả thực tế về cách thức mà bằng độc quyền sáng chế kích thích phát triển kinh tế có thể là chủ đề của một công trình lý luận nhiều tập. Mục này sẽ cung cấp một số sự việc và ví dụ về cách thức biểu hiện của quy trình nói trên trong kinh doanh thường ngày và trong mới quan hệ về chính sách, đặc biệt là tập trung vào:

(1) cách thức bằng độc quyền sáng chế tạo điều kiện cho chuyển giao công nghệ và FDI;

(2) bằng độc quyền sáng chế trong vai trò tác nhân kích thích R&D tại trường đại học và trung tâm nghiên cứu;

(3) bằng độc quyền sáng chế trong vai trò là chất xúc tác đối với công nghệ mới và kinh doanh mới;

(4) cách thức doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs), tích luỹ tài sản thuộc SHTT và tham gia giao dịch trên cơ sở các tài sản đó.

Cuối cùng, chúng ta sẽ kết thúc bằng việc thảo luận về cách thức các nước đang phát triển có thể sử dụng bằng độc quyền sáng chế ở tầm chiến lược để tận dụng hết lợi thế của các quá trình kinh doanh năng động này.

5. Bằng độc quyền sáng chế tạo điều kiện cho chuyển giao công nghệ và đầu tư

Một hệ thống bằng độc quyền sáng chế mạnh và sự thực thi phù hợp là điểu kiện tiên quyết cho hoạt động chuyển giao công nghệ và đầu tư. Không có sự bảo hộ bằng độc quyền sáng chế thì không doanh nghiệp nào yên tâm bộc lộ các công nghệ của mình hoặc đầu tư vào R&D. Do đó, cách cơ bản nhất mà bằng độc quyền sáng chế tạo điều kiện thuận lợi cho chuyển giao công nghệ và đầu tư là tạo ra môi trường an toàn để có thể tiến hành kinh doanh và tiếp tục tiến hành hoạt động R&D. Với những quan hệ đầu tư và kinh doanh đó, dựa vào cơ cấu đúng đắn và các điều kiện thuận lợi trong các hợp đồng liên doanh, một mùa bội thu trong chuyển giao công nghệ dưới dạng bí quyết và phát triển nguồn vốn nhân lực có thể đạt được. Chúng ta đã từng chứng kiến kinh nghiệm của một số nên kinh tế đang nổi lên trong thế kỷ qua.

Khi phát động vòng đàm phán Kennedy của GATI Tổng thống Hoa Kỳ John F. Kennedy đã nhắc đến Nhật Bản như là một nước đang phát triển; tuy nhiên, để thấy sự thay đổi chúng ta chỉ cần nhìn vào Nhật Bản ngày nay. Các nhà xây dựng chính sách của Nhật Bản đã dựa vào hệ thống bằng độc quyền sáng chế như một công cụ quyết định cho việc phát triển nền kinh tế quốc dân và điều đó đã giúp Nhật Bản xúc tiến FDI và chuyển giao công nghệ trong giai đoạn quá độ từ một nước đang phát triển thành một nước phát triển .

Hàn Quốc cũng đã đón nhận hệ thống bằng độc quyền sáng chế và lý thuyết về chu trình sáng tạo. Sau thập kỷ vừa qua, Hàn Quốc đã vượt Đức và Vương quốc Anh về số bằng độc quyền sáng chế trong công nghệ thông tin (IT) của nước ngoài được cấp ở Hoa Kỳ. Trong khoảng thời gian từ năm 1986 đến năm 1996, Hàn Quốc có số bằng độc quyền sáng chế nhiều gấp 30 lần số đã có trong thập kỷ trước đó.

6. Về Sony và Western electric

Từ sự khởi đầu xoàng xoàng vào năm 1946 dưới hình thức một doanh nghiệp nhỏ với 20 nhân viên sửa chữa máy với một quyết định dũng cảm về mua li - xăng bằng độc quyền sáng chế đã thay đổi số phận của Công ty Sony. Năm 1954 trong chuyến đi Hoa Kỳ, ông Jbuka, người sáng lập công ty đã tình cờ phát hiện thông tin bằng độc quyền sáng chế nói về sáng chế của phòng thí nghiệm Bell sáng chế về transistor (bóng bán dẫn). Ông ta đã nhờ một người môi giới đang làm việc tại một chi nhanh ở Hoa Kỳ của một công ty thương mại Nhật Bản tiếp cận với công ty Western Electric (WE), chủ bằng độc quyền sáng chế vào thời điểm đó transistor chỉ được sử dụng cho máy trợ thính và WE đã không nhận thấy bất kỳ cơ hội nào cho thanh công lớn hơn trong việc áp dụng công nghệ transistor. Ông Jbuka thây có nhiều tiềm năng về máy trợ thính. Vì sự khan hiếm đồng ngoại tệ của Nhật Bản vào thời gian đó việc chuyện giao công nghệ nước ngoài cần phải có sự phê duyệt của chính phủ. Jbuka đã thành công trong việc thuyết phục Bộ Thương mại Quốc tế và Công nghiệp cho phép mua li-xăng bằng độc quyền sáng chế từ WE, bởi vì sự tổn tại của một bằng độc quyền sáng chế ẩn chứa tầm quan trọng của công nghệ đó. Ibuka đã đã tập hợp 25.000 USD để mua một li-xăng bằng độc quyền sáng chế và trở thành một trong những bên nhận li-xăng đầu tiên. WE đã tự hỏi liệu một hãng nhỏ như vậy có thể phát triển được bất cứ thiết bị hữu dụng nào từ transistor đó hay không. Tuy nhiên, WE đã chia sẻ thông tin kỹ thuật hữu ích về transistor cho một kỹ sư của Sony theo thỏa thuận trong hợp đồng li- xăng bằng dộc quyền sáng chế. Năm 1955, các kỹ sư của Ibuka đã sản xuất ra sản phẩm đầu tiên của Sony. Sản phẩm mới này ở Nhật Bản và điều đó đã thúc đẩy Sony đuổi kịp các doanh nghiệp khác và có sự cạnh tranh lớn hơn.

Bra-xin và Ấn Độ, hai nước đã đón nhận SHTT và đã tăng cường luật về bằng độc quyền sáng chế của mình trong đầu những năm 1990, đã chứng kiến sự tăng trưởng đáng kể và liên tục trong FDI và số đơn yêu cầu cấp bằng độc quyền sáng chế nộp tại các nước này trong nửa cuối những năm 1990. Ở một số nước đang phát triển khác, tỷ lệ cấp bằng độc quyền sáng chế cũng đã tăng lên nhanh chóng trong những năm gần đây. ở một số trong các nước này, quá trình hiện đại hoá chế độ bằng độc quyền sáng chế đã bắt đầu ngay từ đầu những năm 1980, rất lâu trước khi ký kết Hiệp định TRIPS. Sự thay đổi chính sách nhằm khởi xướng công cuộc hiện đại hoá hệ thống bằng độc quyền sáng chế ở nhiều nước trong số này đã được thúc đẩy bởi thực tế là họ dựa vào sự tăng trưởng nhờ xuất khẩu là chính và họ đã được thuyết phục rằng một hệ thống bảo hộ bằng độc quyền sáng chế mạnh có ý nghĩa quyết định trong việc kích thích đổi mới ở các ngành công nghiệp trong nước

Cảm ơn quý khách đã gửi yêu cầu đến Công ty Luật Minh Khuê, trên đây là nội dung tư vấn của Công ty, nội dung tư vấn có giá trị tham khảo, nếu còn vấn đề mà quý khách hang còn chưa rõ xin vui lòng liên hệ đến tổng đài của Công ty Luật Minh Khuê 1900.6162 hoặc vui lòng gửi tin nhắn đến email lienhe@luatminhkhue.vn để được giải đáp thắc mắc. Trân trọng!

Bộ phận tư vấn pháp luật - Công ty Luật Minh Khuê