Tăng giảm cỡ chữ:

Quy chế bằng sáng chế của Venetian và những vấn đề khác liên quan đến bằng sáng chế theo hiệp định Trips

Italy đã trở thành nơi đầu tiên hình thành một cơ chế bảo hộ sáng chế qua việc đồng ý rằng những phương pháp mới và sáng tạo khi đưa vào trong thực tiễn sử dụng phải được thông báo với Hội đồng thành phố để từ đó những phương pháp này sẽ được pháp luật bảo vệ chống lại những hành vi sao chép

1. Venetian Act 1474- Đạo luật đầu tiên ở Italy

Các Venetian bằng sáng chế điều lệ của ngày 19 Tháng Ba năm 1474, thành lập tại Cộng hòa Venice là người đầu tiên theo luật bằng sáng chế hệ thống ở châu Âu, và có thể được coi là hệ thống bằng sáng chế hệ thống hóa sớm nhất trên thế giới. Quy chế được viết bằng tiếng Venice cổ . Nó với điều kiện rằng các bằng sáng chế có thể được cấp cho "bất kỳ thiết bị mới và khéo léo nào, chưa được sản xuất trước đây", miễn là nó hữu ích.  Nhìn chung, những nguyên tắc này vẫn là những nguyên tắc cơ bản của luật sáng chế

2. Tầm quan trọng của Đạo luật Bằng sáng chế

Quan điểm chủ đạo giữa các nhà sử học và học giả pháp lý là Đạo luật Bằng sáng chế Venice cung cấp nền tảng pháp lý của hệ thống bằng sáng chế hiện đại  
Quyết định  được thông qua theo thẩm quyền của Hội đồng này, theo thẩm quyền của Hội đồng này, mỗi người sẽ thực hiện trong thành phố này bất kỳ thỏa thuận khéo léo mới nào, chưa được thực hiện trước đây trong sự thống trị của chúng tôi, ngay sau khi nó được giảm xuống mức hoàn thiện, để nó có thể được sử dụng và thực hiện, sẽ thông báo điều tương tự cho văn phòng của các Nhà cung cấp Chung của chúng tôi. Không được phép bất kỳ người nào khác ở bất kỳ lãnh thổ và địa điểm nào của chúng tôi thực hiện bất kỳ sự liên quan nào khác dưới hình thức và sự tương tự của chúng, mà không có sự đồng ý và cấp phép của tác giả trong vòng 10 năm. Và, tuy nhiên, nếu ai đó làm được điều đó, thì tác giả và nhà phát minh đã nói ở trên sẽ có quyền trích dẫn anh ta trước bất kỳ văn phòng nào của thành phố này, bởi văn phòng nói trên, người vi phạm sẽ bị buộc phải trả cho anh ta số tiền một trăm công đức và khiếu nại bị phá hủy ngay lập tức. Khi đó, Chính phủ của chúng tôi được tự do theo ý muốn của ông ấy để tiếp nhận và sử dụng khi cần bất kỳ phương tiện và công cụ nào đã nói, tuy nhiên, với điều kiện này, không ai khác ngoài tác giả sẽ thực hiện chúng. Nếu ai đó làm được điều đó, thì tác giả và nhà phát minh đã nói ở trên sẽ có quyền trích dẫn anh ta trước bất kỳ văn phòng nào của thành phố này, bởi văn phòng đó, người vi phạm sẽ bị buộc phải trả cho anh ta số tiền một trăm đồng và liên quan ngay lập tức bị phá hủy. Khi đó, Chính phủ của chúng tôi được tự do theo ý muốn của ông ấy để tiếp nhận và sử dụng khi cần bất kỳ phương tiện và công cụ nào đã nói, tuy nhiên, với điều kiện này, không ai khác ngoài tác giả sẽ thực hiện chúng. Nếu ai đó làm được điều đó, thì tác giả và nhà phát minh đã nói ở trên sẽ có quyền trích dẫn anh ta trước bất kỳ văn phòng nào của thành phố này, bởi văn phòng đó, người vi phạm sẽ bị buộc phải trả cho anh ta số tiền một trăm đồng và liên quan ngay lập tức bị phá hủy. Khi đó, Chính phủ của chúng tôi được tự do theo ý muốn của ông ấy để tiếp nhận và sử dụng khi cần bất kỳ phương tiện và công cụ nào đã nói, tuy nhiên, với điều kiện này, không ai khác ngoài tác giả sẽ thực hiện chúng.
 
Một học giả hàng đầu về bằng sáng chế cũng nói rằng "kinh nghiệm sáng chế quốc tế gần 500 năm chỉ mang lại những sửa đổi hoặc cải tiến dựa trên cốt lõi vững chắc được thiết lập ở Venice thời Phục hưng". 
 
Một số nhà sử học đặt câu hỏi về quan điểm chủ đạo này và cho rằng Quy chế Bằng sáng chế của Venice năm 1474 "chủ yếu hoạt động như một sự mã hóa các phong tục trước đây không đưa ra các nguyên tắc mới.  " Nó cũng không đánh dấu sự khởi đầu của hệ thống bằng sáng chế hiện đại. " Theo Joanna Kostylo, " tốt nhất nên được hiểu là công cụ khai báo hệ thống hóa các nguyên tắc chung hiện có và phong tục cấp bằng sáng chế cho các đổi mới ở Venice".  Theo đó, cô ấy nói rằng tầm quan trọng của quy chế Venice nằm ở chỗ " theo đặc điểm chung và rộng của nó, "theo nghĩa mà nó đã cố gắng"áp dụng các quy tắc chung để cấp bằng sáng chế thay vì trao các ưu đãi cá nhân không thường xuyên (gratiae) để đáp ứng các kiến ​​nghị riêng lẻ. " Điều quan trọng nữa là "luật pháp đặt ravề việc bảo vệ và khen thưởng các nhà phát minh cá nhân, trái ngược với các độc quyền dành cho các nhóm có tổ chức ( phường hội )."
 
Quan điểm thay thế này khó có thể dung hòa với sự thay đổi lớn trong hoạt động cấp bằng sáng chế được quan sát sau năm 1474.  Theo nhận xét của Allan Gomme, cựu thủ thư của Văn phòng Sáng chế Vương quốc Anh, "đã có một hoạt động thường xuyên cấp bằng sáng chế ở Venice bắt đầu khoảng năm 1475 .. ". Xem thêm Thống kê, bên dưới. Phần lớn quan điểm vẫn cho rằng Quy chế Bằng sáng chế của Venice đã đánh dấu một bước ngoặt và thực sự là cơ sở đầu tiên cho một hệ thống bằng sáng chế, mặc dù các bằng sáng chế riêng biệt đã được cấp trước đó.

3. Đối tượng có khả năng được cấp Patent ( Bằng sáng chế) theo hiệp định Trips

 

Điều 27 : HIỆP ĐỊNH VỀ CÁC KHÍA CẠNH LIÊN QUAN TỚI THƯƠNG MẠI CỦA QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ ( Hiệp định TRIPS) quy định

 

1. Tuỳ thuộc vào quy định tại các khoản 2 và khoản 3 sau đây, patent phải được cấp cho bất kỳ một sáng chế nào, dù là sản phẩm hay là quy trình, thuộc mọi lĩnh vực công nghệ, với điều kiện sáng chế đó phải mới, có trình độ sáng tạo và có khả năng áp dụng công nghiệp[5]. Tuỳ thuộc vào khoản 4 Điều 65, khoản 8 Điều 70 và khoản 3 Điều này, các patent phải được cấp và các quyền patent phải được hưởng không phân biệt nơi tạo ra sáng chế, lĩnh vực công nghệ và bất kể các sản phẩm được nhập khẩu hay được sản xuất trong nước.

2.  Các Thành viên có thể loại trừ không cấp patent cho những sáng chế cần phải bị cấm khai thác nhằm mục đích thương mại trong lãnh thổ của mình để bảo vệ trật tự công cộng hoặc đạo đức xã hội, kể cả để bảo vệ cuộc sống và sức khoẻ của con người và động vật hoặc thực vật hoặc để tránh gây nguy hại nghiêm trọng cho môi trường, với điều kiện những ngoại lệ đó được quy định không chỉ vì lý do duy nhất là việc khai thác các sáng chế tương ứng bị pháp luật của nước đó ngăn cấm.

3.  Các Thành viên cũng có thể loại trừ không cấp patent cho:

a) các phương pháp chẩn đoán bệnh, các phương pháp nội và ngoại khoa để chữa bệnh cho người và động vật;

b) thực vật và động vật không phải là các chủng vi sinh, và các quy trình sản xuất thực vật và động vật, chủ yếu mang tính chất sinh học và không phải là các quy trình phi sinh học hoặc vi sinh. Tuy nhiên, các Thành viên phải bảo hộ giống cây bằng hệ thống patent hoặc bằng một hệ thống riêng hữu hiệu, hoặc bằng sự kết hợp giữa hai hệ thống đó dưới bất kỳ hình thức nào. Các quy định của điểm này phải được xem xét lại sau 4 năm kể từ khi Hiệp định WTO bắt đầu có hiệu lực.

4. Điều kiện đối với người nộp đơn xin cấp patent theo hiệp định Trips

Điều 28 HIỆP ĐỊNH VỀ CÁC KHÍA CẠNH LIÊN QUAN TỚI THƯƠNG MẠI CỦA QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ ( Hiệp định TRIPS) quy định

1. Các Thành viên phải yêu cầu người nộp đơn xin cấp patent bộc lộ sáng chế một cách rõ ràng và đầy đủ đến mức căn cứ vào đó một chuyên gia trong lĩnh vực kỹ thuật tương ứng có thể thực hiện sáng chế, và có thể yêu cầu người nộp đơn chỉ ra cách thức tối ưu trong số cách thức thực hiện sáng chế mà tác giả sáng chế biết tính đến ngày nộp đơn, hoặc tính đến ngày ưu tiên của đơn nếu có yêu cầu hưởng quyền ưu tiên.

2.  Các Thành viên có thể yêu cầu người nộp đơn xin cấp patent cung cấp thông tin liên quan đến các đơn và văn bằng tương ứng ở nước ngoài của người nộp đơn đó

5. Thủ tục đăng ký sáng chế tại Việt Nam

Bước 1: Tra cứu khả năng bảo hộ của sáng chế tại Việt Nam

Tra cứu sơ bộ khả năng bảo hộ của sáng chế tại Việt Nam

Để tra cứu sơ bộ khả năng bảo hộ của sáng chế, khách hàng có thể thực hiện tra cứu miễn phí qua một trong hai cổng dữ liệu điện tử sau đây:

- Google patent: Cơ sở dữ liệu sáng chế toàn cầu được xây dựng bởi Google. Khách hàng có thể truy cập theo địa chỉ sau: https://patents.google.com/

- IP Lib: Cơ sở dữ liệu sáng chế của Việt Nam được xây dựng bởi Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam NOIP. Khách hàng có thể truy cập theo địa chỉ sau: http://iplib.noip.gov.vn/WebUI/WSearchPAT.php

Tuy nhiên việc thực hiện tra cứu trên các cơ sở dữ liệu trên rất phức tạp và tốn nhiều thời gian, thậm chí còn có phần lỗi thời so với thực tế. Quý Khách hàng có thể gửi tài liệu về sáng chế cho Công ty Luật Việt An để tra cứu chuyên sâu trước khi nộp đơn đăng ký sáng chế.

Tra cứu chuyên sâu trước khi nộp đơn đăng ký sáng chế tại Việt Nam

Tra cứu chuyên sâu là thủ tục hoàn toàn tự nguyện của người nộp đơn tại Việt Nam. Tuy nhiên, khách hàng nên tiến hành thủ tục này vì đây là bước đầu tiên và quan trọng để đánh giá sơ bộ một sáng chế có nên gửi đơn đăng ký bảo hộ hay không? Do đó, việc tra cứu sáng chế mang tính chất tham khảo và không là căn cứ để cấp văn bằng bảo hộ.

Bước 2: Chuẩn bị hồ sơ đăng ký sáng chế

Hồ sơ đăng ký sáng chế tại Việt Nam bao gồm:

- Tờ khai đăng ký sáng chế được làm theo mẫu của Cục Sở hữu trí tuệ ban hành (in 03 bộ). Vui lòng liên hệ trực tiếp Luật Việt An để được cung cấp mẫu tờ khai theo quy định.

- Giấy uỷ quyền (theo mẫu của Công ty luật Việt An);

- Bản mô tả sáng chế/giải pháp hữu ích, bao gồm tên sáng chế/giải pháp hữu ích, phần mô tả, phần ví dụ minh hoạ, phần yêu cầu bảo hộ và phần tóm tắt;

- Hình vẽ minh hoạ (nếu có);

- Bản sao tài liệu xin hưởng quyền ưu tiên có xác nhận của cơ quan nơi đơn ưu tiên được nộp (chỉ yêu cầu đối với đơn xin hưởng quyền ưu tiên theo Công ước Paris). Tài liệu này có thể được bổ sung trong thời hạn 03 tháng tính từ ngày nộp đơn.

- Đối với các đơn PCT nộp vào quốc gia Việt Nam thì ngoài các tài liệu nêu trên, cần phải cung cấp các tài liệu sau đây: Công bố đơn PCT, Báo cáo Xét nghiệm Sơ bộ Quốc tế (PCT/IPER/409) (nếu có), Thông báo về những thay đổi liên quan tới đơn (PCT/IB/306) (nếu có), Báo cáo Kết quả Tra cứu Quốc tế (PCT/ISA/210)… Đối với trường hợp này, có thể bổ sung bản gốc của Giấy Uỷ Quyền trong thời hạn là 34 tháng tính từ ngày ưu tiên. Các thông tin cần cung cấp:

- Họ tên đầy đủ, địa chỉ và quốc tịch của người nộp đơn;

- Họ tên đầy đủ, địa chỉ và quốc tịch của tác giả sáng chế/giải pháp hữu ích;

- Tên của sáng chế/giải pháp hữu ích;

- Số đơn ưu tiên, ngày ưu tiên và nước ưu tiên của đơn (trong trường hợp đơn có xin hưởng quyền ưu tiên);

- Số đơn quốc tế và số công bố đơn quốc tế (trong trường hợp là đơn PCT nộp vào quốc gia Việt Nam).

Bước 3: Nộp hồ sơ đăng ký sáng chế và theo dõi quá trình đăng ký sáng chế tại Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam

Sau khi hoàn thành hồ sơ, chủ đơn tiến hành đăng ký sáng chế tại Cục Sở hữu trí tuệ.

Bước 4: Thẩm định hình thức sáng chế tại Việt Nam

- Thời hạn: 01 tháng kể từ ngày nộp đơn.

- Cục Sở hữu trí tuệ sẽ xem xét đơn có đủ điều kiện về hình thức, từ đó đưa ra kết luận đơn hợp lệ hay không hợp lệ.

- Nếu đơn đăng ký của khách hàng đáp ứng điều kiện, Cục Sở hữu trí tuệ sẽ Thông báo chấp nhận đơn hợp lệ và cho đăng công bố đơn.

- Nếu đơn đăng ký của khách hàng không đáp ứng điều kiện, Cục Sở hữu trí tuệ sẽ ra Thông báo không chấp nhận đơn và đề nghị khách hàng sửa đổi. Khách hàng tiến hành sửa đổi theo yêu cầu và nộp công văn sửa đổi cho Cục sở hữu trí tuệ.

Bước 5: Công bố đơn đăng ký sáng chế tại Việt Nam:

Thời hạn công bố đơn: tháng thứ 19 kể từ ngày ưu tiên hoặc ngày nộp đơn nếu đơn không có ngày ưu tiên, hoặc trong thời hạn 02 tháng kể từ ngày được chấp nhận là hợp lệ, tùy theo ngày nào muộn hơn.

- Nếu  có yêu cầu công bố sớm thì sẽ được công bố trong thời hạn 02 tháng kể từ ngày Cục Sở hữu trí tuệ nhận được yêu cầu công bố sớm hoặc kể từ ngày chấp nhận đơn hợp lệ, tùy theo ngày nào muộn hơn.

- Nội dung công bố là các thông tin liên quan đến đơn hợp lệ ghi trong thông báo chấp nhận đơn hợp lệ, bản tóm tắt sáng chế kèm theo hình vẽ (nếu có).

Bước 6:Thẩm định nội dung sáng chế tại Việt Nam:

- Thời hạn nộp yêu cầu thẩm định nội dung: 02 tháng kể từ ngày nộp hồ sơ đăng ký bằng sáng chế. Nếu trong thời hạn quy định nêu trên, không có yêu cầu thẩm định thì đơn được coi như đã rút tại thời điểm kết thúc thời hạn đó.

- Thẩm định nội dung là đánh giá khả năng được bảo hộ của sáng chế nêu trong đơn theo các điều kiện bảo hộ. Thời gian thẩm định nội dung là 18 tháng kể từ ngày nhận được yêu cầu.

- Cục Sở hữu trí tuệ xem xét các điều kiện đăng ký sáng chế từ đó đánh giá khả năng cấp văn bằng cho sáng chế mà khách hàng đăng ký. Nếu đơn đăng ký sáng chế đáp ứng đủ điều kiện thì Cục Sở hữu trí tuệ ra Thông báo dự định cấp văn bằng cho sáng chế mà khách hàng đã đăng ký.

- Nếu đơn đăng ký sáng chế không đáp ứng đủ điều kiện, Cục Sở hữu trí tuệ ra Thông báo không cấp văn bằng cho sáng chế mà khách hàng đăng ký. Trong trường hợp Quý khách hàng có yêu cầu Luật Việt An sẽ tiến hành thủ tục phúc đáp, khiếu nại quyết định của Cục Sở hữu, đồng thời đưa ra các căn cứ để cấp văn bằng bảo hộ sáng chế cho sáng chế của Khách hàng. Phí phúc đáp, khiếu nại không bao gồm trong phí đăng ký sáng chế.

Bước 7: Cấp văn bằng bảo hộ cháng chế tại Việt Nam

Đơn đăng ký sở hữu công nghiệp không thuộc các trường hợp từ chối cấp văn bằng bảo hộ và người nộp đơn nộp lệ phí thì cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp quyết định cấp văn bằng bảo hộ. Sau khi cấp bằng sẽ được ghi nhận vào Sổ đăng ký quốc gia về sở hữu công nghiệp.

Bước 8: Duy trì và hạn gia hạn hiệu lực văn bằng bảo hộ sáng chế tại Việt Nam:

- Trong vòng 06 tháng trước ngày văn bằng bảo hộ sáng chế hết hiệu lực, khách hàng phải nộp đơn yêu cầu gia hạn cho Cục Sở hữu trí tuệ.

- Tuy nhiên, cần lưu ý nếu việc gia hạn được thực hiện trong 06 tháng sau thời điểm hết hiệu lực, người nộp đơn sẽ phải nộp thêm 10% lệ phí gia hạn cho mỗi tháng nộp muộn.

- Để duy trì hiệu lực Bằng độc quyền sáng chế, Bằng độc quyền giải pháp hữu ích, chủ văn bằng bảo hộ phải nộp lệ phí duy trì hiệu lực.

Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập)

 
5 sao của 1 đánh giá

Bạn thấy nội dung này thực sự hữu ích?

Bạn thấy nội dung này chưa ổn ở đâu?

Cảm ơn bạn đã nhận xét!

Like fanpage Luật Minh Khuê để nhận tin mới mỗi ngày
Liên hệ để được hỗ trợ tốt nhất
Chat zalo Liên hệ theo Zalo Liên hệ theo SĐT Liên hệ qua Facebook Messenger Liên hệ qua Email
Mở Đóng