1. Mục đích sủ dụng báo cáo tài chính của đơn vị kế toán

Theo khoản 1 Điều 3 của Luật Kế toán 2015, báo cáo tài chính được xác định là một hệ thống thông tin về tình hình kinh tế và tài chính của đơn vị kế toán, được thể hiện theo mẫu biểu được quy định trong các tiêu chuẩn và chế độ kế toán.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 29 của Luật Kế toán 2015, báo cáo tài chính của đơn vị kế toán được sử dụng để tổng hợp và minh họa về tình hình tài chính và hoạt động kinh doanh của đơn vị. Báo cáo tài chính của một đơn vị kế toán không chỉ là một công cụ để cung cấp thông tin về tình hình tài chính, mà còn là một công cụ quan trọng để tổng hợp và minh họa về hoạt động kinh doanh của đơn vị đó. Bằng cách cung cấp thông tin về thu nhập, chi phí, lợi nhuận, tài sản, và nợ phải trả, báo cáo tài chính cho phép người đọc hiểu rõ hơn về hiệu suất hoạt động kinh doanh của đơn vị kế toán. Thông qua báo cáo tài chính, người quản lý và các bên liên quan có thể đánh giá được các chỉ số quan trọng như biên lợi nhuận, tỷ suất sinh lời, cơ cấu tài sản và nguồn vốn, và mức độ nợ nần. Điều này giúp họ hiểu rõ hơn về cơ cấu và hiệu suất của hoạt động kinh doanh, từ đó có thể đưa ra các quyết định quản lý và chiến lược phù hợp để tối ưu hóa hiệu suất và tăng cường giá trị cho đơn vị.

Báo cáo tài chính của đơn vị kế toán bao gồm các phần sau:

- Báo cáo về tình hình tài chính: Phần này thường bao gồm bảng cân đối kế toán, thể hiện tình hình tài sản, nguồn vốn, và nợ phải trả của đơn vị tại một thời điểm nhất định.

- Báo cáo về kết quả hoạt động: Thường bao gồm bảng kết quả kinh doanh, thể hiện thu nhập và chi phí của đơn vị trong một khoảng thời gian nhất định, cũng như lợi nhuận hoặc lỗ sau thuế.

- Báo cáo về lưu chuyển tiền mặt: Thường bao gồm bảng lưu chuyển tiền, thể hiện nguồn gốc và sử dụng của tiền mặt trong một khoảng thời gian nhất định, bao gồm hoạt động kinh doanh, hoạt động đầu tư, và hoạt động tài chính.

- Thuyết minh kèm theo báo cáo tài chính: Là phần giải thích, minh họa, và bổ sung thông tin chi tiết liên quan đến các số liệu trong các báo cáo tài chính chính.

- Báo cáo các thông tin khác theo quy định của pháp luật: Bao gồm các thông tin bổ sung mà pháp luật yêu cầu phải được đính kèm vào báo cáo tài chính.

 

2. Thời điểm đơn vị kế toán phải lập báo cáo tài chính

Việc lập báo cáo tài chính của đơn vị kế toán được thực hiện theo các quy định sau đây theo khoản 2 Điều 29 Luật Kế toán năm 2015:

- Đơn vị kế toán phải lập báo cáo tài chính vào cuối kỳ kế toán năm. Trong trường hợp pháp luật có quy định về việc lập báo cáo tài chính theo các kỳ kế toán khác, đơn vị kế toán phải tuân thủ và lập báo cáo theo kỳ kế toán đó. Điều này có nghĩa là nếu có quy định đặc biệt từ pháp luật yêu cầu lập báo cáo tài chính theo các kỳ kế toán khác như quý, nửa năm, hoặc bất kỳ chu kỳ nào khác, đơn vị kế toán phải tuân thủ quy định đó và lập báo cáo tài chính theo kỳ kế toán được quy định. Việc này nhằm đảm bảo rằng báo cáo tài chính sẽ được cung cấp đúng kỳ và đảm bảo tính chính xác và đầy đủ của thông tin tài chính cho các bên liên quan.

- Việc lập báo cáo tài chính phải dựa trên số liệu sau khi đã hoàn thành quá trình khóa sổ kế toán. Đối với các đơn vị kế toán thuộc cấp trên, báo cáo tài chính tổng hợp hoặc báo cáo tài chính hợp nhất phải được lập dựa trên báo cáo tài chính của các đơn vị kế toán trong cùng hệ thống. Điều này đảm bảo rằng báo cáo tài chính của đơn vị cấp trên có thể phản ánh đầy đủ về tình hình tài chính và hoạt động của toàn bộ hệ thống, bao gồm cả các đơn vị thành viên.

- Báo cáo tài chính phải được lập với đúng nội dung, phương pháp và trình bày nhất quán giữa các kỳ kế toán. Trong trường hợp có sự khác biệt về trình bày giữa các kỳ kế toán, đơn vị kế toán phải thuyết minh rõ lý do. Thuyết minh này giúp người đọc hiểu được nguyên nhân và hậu quả của các thay đổi trong trình bày của báo cáo tài chính, đồng thời cung cấp thông tin bổ sung để họ có thể đánh giá tình hình tài chính một cách toàn diện và chính xác. Việc thuyết minh rõ lý do cho sự khác biệt trong trình bày giữa các kỳ kế toán là một phần quan trọng trong việc đảm bảo tính minh bạch và độ tin cậy của báo cáo tài chính.

- Báo cáo tài chính phải được ký kết bởi người lập, kế toán trưởng và người đại diện theo quy định của pháp luật đối với đơn vị kế toán. Người ký báo cáo tài chính phải chịu trách nhiệm về nội dung của báo cáo, tức là họ phải đảm bảo rằng thông tin trong báo cáo tài chính là chính xác, đầy đủ và minh bạch. Điều này đảm bảo tính minh bạch và độ tin cậy của báo cáo tài chính, từ đó cung cấp thông tin đáng tin cậy cho các bên liên quan để đưa ra các quyết định kinh doanh hoặc đầu tư.

Báo cáo tài chính năm của đơn vị kế toán phải được nộp cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong thời hạn 90 ngày, tính từ ngày kết thúc kỳ kế toán năm theo quy định của pháp luật. Bộ Tài chính sẽ chi tiết hóa các quy định về báo cáo tài chính cho từng lĩnh vực hoạt động cụ thể, bao gồm trách nhiệm, đối tượng, kỳ lập, phương pháp lập, thời hạn nộp, nơi nhận báo cáo và công khai báo cáo tài chính.

Điều đó có nghĩa là đơn vị kế toán phải tổ chức việc lập báo cáo tài chính vào cuối kỳ kế toán năm. Tuy nhiên, nếu có sự điều chỉnh từ pháp luật yêu cầu lập báo cáo tài chính theo kỳ kế toán khác, thì đơn vị kế toán phải tuân thủ và thực hiện việc lập báo cáo theo kỳ kế toán đó.

 

3. Thời hạn công khai báo cáo tài chính của đơn vị kế toán

Công khai báo cáo tài chính của đơn vị kế toán được thực hiện trong thời hạn quy định tại Điều 32 của Luật Kế toán 2015 theo các hình thức và thời hạn sau đây:

- Hình thức và thời hạn công khai báo cáo tài chính: Công khai báo cáo tài chính có thể thực hiện thông qua một hoặc một số hình thức sau đây: Phát hành ấn phẩm; Thông báo bằng văn bản; Niêm yết; Đăng tải trên trang thông tin điện tử; Các hình thức khác theo quy định của pháp luật.

- Thời hạn công khai báo cáo tài chính: Các đơn vị kế toán sử dụng ngân sách nhà nước sẽ thực hiện công khai báo cáo tài chính theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước. Đối với các đơn vị kế toán không sử dụng ngân sách nhà nước, hoặc sử dụng các khoản đóng góp của Nhân dân, thời hạn công khai báo cáo tài chính năm là 30 ngày, bắt đầu tính từ ngày nộp báo cáo tài chính. Đối với các đơn vị kế toán thuộc hoạt động kinh doanh, thời hạn công khai báo cáo tài chính năm là 120 ngày, tính từ ngày kết thúc kỳ kế toán năm. Những thời hạn này nhằm đảm bảo rằng thông tin tài chính được công bố kịp thời và đúng kỳ, giúp các bên liên quan có đủ thời gian để xem xét, đánh giá và sử dụng thông tin tài chính để ra quyết định.

- Xử lý trong trường hợp pháp luật có quy định cụ thể khác: Trong trường hợp pháp luật về chứng khoán, tín dụng, bảo hiểm có quy định cụ thể về hình thức và thời hạn công khai báo cáo tài chính khác với quy định của Luật Kế toán, các đơn vị kế toán sẽ tuân thủ theo quy định của pháp luật về lĩnh vực đó.

Ngoài ra, quý bạn đọc có thể tham khảo thêm bài viết Doanh nghiệp có bắt buộc phải công khai báo cáo tài chính không? Nếu có bất cứ vấn đề pháp lý nào cần hỗ trợ, vui lòng liên hệ tới bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua số điện thoại: 1900.6162 hoặc gửi yêu cầu qua địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn. Trân trọng!