1. Đặc trưng của bảo hiểm xã hội

Theo các quy định của pháp luật hiện hành và nhiều tài liệu nghiên cứu, bảo hiểm xã hội mang các đặc trưng cơ bản sau:

- Thứ nhất, quá trình bảo hiểm là quá trình trong và sau lao động. Trong quá trình lao động, khi người lao động tham gia bảo hiểm xã hội sẽ được hưởng những chế độ, trợ cấp trong những trường hợp ốm đau, thai sản, tai nạn lao động – bệnh nghề nghiệp theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội. Sau quá trình lao động đây là giai đoạn người lao động không còn tham gia vào hoạt động sản xuất để tạo ra thu nhập. Tùy vào tình trạng của mỗi người lao động mà bảo hiểm xã hội sẽ chi trả các chế độ thích hợp như hưu trí hay tử tuất.

- Thứ hai, các sự kiện bảo hiểm và các rủi ro xã hội của người lao động được bảo hiểm gồm: ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thai sản, già yếu – nghỉ hưu, chết… Những sự kiện và rủi ro này khiến người lao động bị giảm hoặc mất khả năng lao động khiến cuộc sống của họ trở nên khó khăn. Vì vậy, người lao động cần phải có khoản thu nhập khác bù vào để ổn định cuộc sống và sự bù đắp này được thông qua các trợ cấp bảo hiểm xã hội.

- Thứ ba, người lao động khi tham gia bảo hiểm xã hội có quyền được hưởng trợ cấp bảo hiểm, tuy nhiên theo nguyên tắc có đóng góp, có thụ hưởng thì quyền này chỉ có thể trở thành hiện thực khi họ thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đóng bảo hiểm xã hội. Người sử dụng lao động cũng phải có trách nhiệm đóng bảo hiểm cho người lao động mà mình thuê mướn.

- Thứ tư, Quỹ bảo hiểm xã hội. Quỹ bảo hiểm xã hội được hình thành từ nhiều nguồn trong đó có các nguồn chính sau:

Người lao động đóng góp: Người lao động đóng góp một phần vào quỹ bảo hiểm xã hội thể hiện sự gánh chịu trực tiếp rủi ro của chính mình đồng thời ràng buộc quyền và nghĩa vụ của họ một cách chặt chẽ.

Người sử dụng lao động đóng góp: Người sử dụng lao động đóng góp một phần quỹ bảo hiểm xã hội cho người lao động một mặt sẽ tránh được những thiệt hại to lớn như đình trệ sản xuất, đào tạo lại lao động khi có rủi ro xảy ra đối với người lao động mặt khác nó giảm bớt đi sự căng thẳng trong mối quan hệ vốn chứa đựng đầy mâu thuẫn, tranh chấp giữa người lao động và người sử dụng lao động.

Ngân sách Nhà nước bù thiếu: Nhà nước tham gia đóng góp một phần vào quỹ bảo hiểm xã hội trên cương vị của người quản lý xã hội về mội mặt với mục đích phát triển kinh tế, ổn định xã họi. Do mối quan hệ giữa người sử dụng lao động và người lao động có chứa nhiều mâu thuẫn mà hai bên không thể tự giải quyết được nên Nhà nước tham gia nhằm điều hòa mâu thuẫn, ngoài ra việc Nhà nước hỗ trợ một phần vào quỹ bảo hiểm nhằm giúp cho hoạt động bảo hiểm hội được diễn ra ổn định.

Ngoài ra, quỹ bảo hiểm xã hội còn được đóng góp từ các cá nhân và các tổ chức từ thiện ủng hộ và lãi từ các nguồn đầu tư vốn nhàn rỗi.

>> Xem thêm:  Quy định về thời hạn trong hợp đồng lao động của cơ quan quản lý nhà nước ?

- Thứ năm, các hoạt động bảo hiểm xã hội được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật, các chế độ bảo hiểm cũng do luật định. Nhà nước quản lý và bảo đảm thực hiện các hoạt động của bảo hiểm xã hội.

2. Các chủ thể xuất hiện trong quan hệ bảo hiểm xã hội

Bên cạnh sự quản lý của nhà nước, bảo hiểm xã hội còn chịu sự giám sát chặt chẽ của người lao động (thông qua tổ chức đại diện tập thể người lao động) và người sử dụng lao động (thông qua tổ chức đại diện của họ). Khác với bảo hiểm thương mại, trong bảo hiểm xã hội, mối quan hệ này dựa trên quan hệ lao động và diễn theo cơ chế 3 bên: bên tham gia, bên bảo hiểm và bên được bảo hiểm.

- Bên tham gia gồm có người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước (Nhà nước chỉ tham gia trong một số trường hợp).

Người lao động tham gia bảo hiểm xã hội để bảo hiểm cho chính mình trên cơ sở san sẻ rủi ro của số đông người lao động khác.

Người sử dụng lao động tham gia bảo hiểm xã hội vì nghĩa vụ phải đóng bảo hiểm cho người lao động đồng thời họ tham gia cũng vì lợi ích của bản thân (thực hiện san sẻ rủi ro trong tổ chức những người sử dụng lao động, để bảo đảm cho quá trình sản xuất của họ không bị ảnh hưởng khi phát sinh nhu cầu bảo hiểm của người lao động).

Nhà nước tham gia bảo hiểm xã hội với ba tư cách. Thứ nhất, Nhà nước tham gia với tư cách là người sử dụng lao động là công chức và những người hưởng lương từ ngân sách. Khi đó, Nhà nước phải tham gia đóng góp thông qua kinh phí từ ngân sách, với tỷ lệ đóng góp tương đương người sử dụng lao động trong các doanh nghiệp. Thứ hai, Nhà nước tham gia bảo hiểm xã hội với tư cách là người bảo hộ cho các hoạt động của quỹ bảo hiểm xã hội, bảo đảm giá trị quỹ bảo hiểm, và hỗ trợ cho quỹ bảo hiểm xã hội trong những trường hợp cần thiết. Thứ ba, Nhà nước tham gia bảo hiểm xã hội còn với tư cách chủ thể quản lý, định ra những chế độ, chính sách, định hướng cho các hoạt động bảo hiểm xã hội.

- Bên làm công tác bảo hiểm xã hội là bên nhận tiền đóng góp bảo hiểm xã hội từ những người tham gia. Bên bảo hiểm xã hội thường là một số tổ chức (cơ quan bảo hiểm xã hội, đại lý thu…) do Nhà nước lập ra (ở một số nước có thể do tư nhân, tổ chức kinh tế – xã hội lập ra theo quy định của pháp luật) và được Nhà nước bảo trợ, nhận sự đóng góp của người lao động, người sử dụng lao động, lập nên quỹ bảo hiểm theo quy định chặt chẽ của pháp luật. Bên bảo hiểm có trách nhiệm thực hiện chi trả trợ cấp cho bên được bảo hiểm khi có nhu cầu phát sinh và có trách nhiệm quản lý và đầu tư cho quỹ bảo hiểm xã hội phát triển.

- Bên được bảo hiểm xã hội là bên được quyền nhận các loại trợ cấp khi phát sinh những nhu cầu bảo hiểm, để bù đắp thiếu hụt về thu nhập do các loại sự kiện, rủi ro được bảo hiểm gây ra. Trong quan hệ bảo hiểm xã hội, bên được bảo hiểm là người lao động tham gia bảo hiểm xã hội và gia đình của họ theo quy định của pháp luật, khi họ có phát sinh nhu cầu được bảo hiểm do pháp luật bảo hiểm xã hội quy định.

3. Đối tượng bảo hiểm xã hội

>> Xem thêm:  Mẫu đơn xin xóa án tích mới nhất và Tư vấn lập hồ sơ đăng ký xóa án tích

Liên quan tới nội dung này, chúng ta cần phải hiểu một cách rõ ràng đối tượng của bảo hiểm xã hội là ai hay là cái gì. Người lao động là đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội đông đảo tuy nhiên điều đó không đồng nghĩa với việc người lao động là đối tượng của bảo hiểm xã hội. Đối tượng của bảo hiểm xã hội là thu nhập của người lao động hay đúng hơn là thu nhập bị mất của người lao động do gặp phải những rủi ro như ốm đau, bệnh tật,... Bởi bản chất bảo hiểm xã hội là sự bù đắp một phần thu nhập bị mất đi của người lao động do gặp phải những rủi ro, biến cố theo quy định của pháp luật. Người lao động tham gia vào quan hệ bảo hiểm xã hội với tư cách là bên được bảo hiểm. Bảo hiểm xã hội đảm bảo cho Người lao động đã tham gia bảo hiểm xã hội khi gặp phải những rủi ro, biến cố theo quy định của pháp luật sẽ có khả năng giữ cuộc sống của họ và gia đình ổn định.

4. Các chế độ bảo hiểm xã hội

Chính sách bảo hiểm xã hội là một trong những chính sách xã hội cơ bản, là hạt nhân của hệ thống an sinh xã hội. Để triển khai và thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội, vẫn đề cốt lõi là phải cụ thể hóa thông qua các chế độ bảo hiểm. Tùy theo điều kiện, hệ thống bảo hiểm xã hội của mỗi nước có thể có các chế độ bảo hiểm khác nhau trong số 09 chế độ mà ILO quy định. Hiện nay pháp luật bảo hiểm xã hội của Việt Nam tại Điều 4 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 quy định có 05 chế độ, quy định lần lượt từ Mục 1 đến Mục 5 Chương III gồm: Chế độ ốm đau, Chế độ thai sản, Chế độ tai nạn lao động – bệnh nghề nghiệp, Chế độ hưu trí và Chế độ tử tuất.

Chế độ ốm đau

Chế độ trợ cấp ốm đau được quy định nhằm đảm bảo thu nhập, đời sống cho người lao động tham gia bảo hiểm xã hội và gia đình họ khi họ ốm đau, tai nạn, rủi ro phải tạm thời nghỉ việc hoặc khi phải nghỉ việc để chăm sóc con ốm hay nghỉ việc để thực hiện các biện pháp kế hoạch hóa gia đình.

Thời gian và mức hưởng chế độ ốm đau phụ thuộc vào tình trạng bệnh của người lao động, độ tuổi của con ốm, điều kiện của người lao động và thời gian tham tham gia bảo hiểm xã hội theo quy định tại Điều 26, Điều 27 Luật Bảo hiểm xã hội 2014. Mức trợ cấp cho các trường hợp bình thường theo quy định tại khoản 1 Điều 28 là 75% mức tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của người lao động trước khi nghỉ. Các trường hợp đặc biệt được áp dụng mức trợ cấp tương ứng với thời gian tham gia bảo hiểm xã hội theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 28 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014.

Chế độ thai sản

Chế độ thai sản được quy định nhằm mục đích đảm bảo thu nhập cho người lao động tham gia bảo hiểm xã hội trong thời gian nghỉ sinh con hoặc phải tạm thời nghỉ việc khi nhận nuôi con nuôi. Điểm mới của Luật bảo hiểm xã hội năm 2014 so với Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006 là trong trường hợp cả vợ và chồng đều tham gia bảo hiểm xã hội mà vợ sinh con thì chồng sẽ được nghỉ và hưởng chế độ tùy theo phương thức sinh và số con được sinh ra.

Về mức hưởng chế độ, theo quy định tại khoản 1 Điều 39 Luật Bảo hiểm xã hội 2014, người lao động được hưởng 100% tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội khi nghỉ chế độ. Nếu hưởng chế độ theo ngày thì mức trợ cấp một ngày được tính bằng mức trợ cấp một tháng chia cho 24 ngày (đối với lao động nữ khám thai, lao động nam nghỉ chế độ) hoặc bằng mức trợ cấp theo tháng chia cho 30 ngày (khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi được tính theo mức trợ cấp tháng quy định tại điểm a khoản 1 Điều này, trường hợp có ngày lẻ hoặc trường hợp quy định tại Điều 33 và Điều 37 Luật Bảo hiểm xã hội 2014).

Chế độ tai nạn lao động – bệnh nghề nghiệp

>> Xem thêm:  Có giới hạn thời gian nộp hồ sơ để hưởng chế độ thai sản không ?

Chế độ này nhằm đảm bảo việc chữa trị và bù đắp thu nhập cho người lao động tham gia bảo hiểm xã hội khi bị tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp. Người sử dụng lao động chịu toàn bộ trách nhiệm về chi phí ý tế, tiền lương trong thời gian người lao động điều trị. Cơ quan Bảo hiểm xã hội thực hiện việc chi trả phí giám định thương tật, trợ cấp thương tật, trợ cấp phục vụ, phương tiện trợ giúp sinh hoạt dựa trên mức độ thương tật của người lao động theo quy định của pháp luật.

Chế độ hưu trí

Chế độ hưu trí được áp dụng nhằm hỗ trợ người lao động tham gia bảo hiểm xã hội có cuộc sống ổn định khi họ không còn khả năng lao động vì tuổi già. Chế độ hưu trí gồm chế độ lương hưu hàng tháng và chế độ hưởng trợ cấp một lần khi chưa đủ điều kiện hưởng lương hưu hàng tháng.

Theo quy định tại Điều 72, Điều 73 và Điều 74 Luật Bảo hiểm xã hội 2014, chế độ hưu hàng tháng thông thường được áp dụng với những người lao động đủ điều kiện về độ tuổi và thời gian tham gia bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật. Mức trợ cấp hàng tháng không vượt quá 75% mức tiền lương bình quân của người lao động trước khi nghỉ hưu. Ngoài ra, người lao động còn có thể được hưởng trợ cấp một lần khi thời gian đóng bảo hiểm xã hội cao hơn số năm tương ứng với tỷ lệ hưởng lương hưu 75%. Mức trợ cấp một lần này được tính theo số năm đóng bảo hiểm xã hội cao hơn số năm tương ứng với tỷ lệ hưởng lương hưu 75% (cứ mối năm tăng thêm thì được tính bằng 0,5 tháng mức bình quân tiền lương đóng bảo hiểm xã hội).

Trường hợp người lao động chưa đủ tuổi hưởng lương hưu hàng tháng sẽ được hưởng bảo hiểm xã hội một lần theo quy định tại Điều 60 Luật bảo hiểm xã hội 2014.

Chế độ tử tuất

Chế độ này được áp dụng nhằm san sẻ những chi tiêu liên quan đến việc mai táng cho người lao động tham gia bảo hiểm xã hội khi họ qua đời và hỗ trợ nuôi dưỡng thân nhân của người lao động mà họ có trách nhiệm nuôi dưỡng họ khi còn sống. Thân nhân của người lao động được hưởng trợ cấp mai táng theo Điều 66 và xét hưởng tiền tuất một lần hoặc tuất hàng tháng theo quy định tại Điều 67, Điều 68, Điều 69 và Điều 70 Luật Bảo hiểm xã hội 2014.

5. Quyền và trách nhiệm của các bên tham gia bảo hiểm xã hội

Quyền và trách nhiệm của các bên tham gia bảo hiểm xã hội được quy định tại Chương II Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 gồm các điều từ Điều 18 đến Điều 23. Cụ thể:

Đối với người lao động, khi tham gia bảo hiểm xã hội, người lao động sẽ được hưởng các quyền lợi gồm có:

>> Xem thêm:  Thủ tục, hồ sơ liên quan đến việc rút bảo hiểm xã hội một lần ?

Được nhận sổ bảo hiểm.

Được nhận lương hưu, trợ cấp kịp thời, đầy đủ thuận tiện khi có đủ điều kiện hưởng theo quy định của pháp luật hoặc ủy quyền cho người khác nhân lương hưu, trợ cấp bảo hiểm.

Được chủ động đi khám giám định mức suy giảm khả năng lao động.

Được cung cấp thông tin về việc đóng, hưởng bảo hiểm xã hội.

Khiếu nại với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khi người sử dụng lao động hoặc cơ quan, tổ chức bảo hiểm xã hội có hành vi vi phạm Điều lệ bảo hiểm xã hội.

Đồng nghĩa với việc đó, người lao động phải có trách nhiệm:

Đóng bảo hiểm theo đúng quy định;

Thực hiện đúng các quy định về việc lập hồ sơ để hưởng chế độ bảo hiểm xã hội;

Bảo quản, sử dụng sổ bảo hiểm xã hội đúng quy định.

Người sử dụng lao động, người sử dụng lao động có các quyền sau:

>> Xem thêm:  Người lao động tự làm hồ sơ nhận thai sản được không ?

Từ chối thực hiện những yêu cầu không đúng với quy định của Điều lệ bảo hiểm xã hội.

Khiếu nại với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khi cơ quan bảo hiểm xã hội có hành vi vi phạm Điều lệ bảo hiểm xã hội.

Đồng thời phải tuân thủ nghĩa vụ:

Đóng bảo hiểm xã hội theo đúng quy định.

Trích tiền lương của người lao động để đóng bảo hiểm xã hội đúng quy định.

Xuất trình các tài liệu, hồ sơ và cung cấp thông tin liên quan khi có kiểm tra, thanh tra về bảo hiểm xã hội của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

Cơ quan Bảo hiểm xã hội, về phía cơ quan bảo hiểm xã hội, cơ quan bảo hiểm xã hội có những quyền hạn và trách nhiệm sau:

Trình thủ tướng Chính phủ ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền các quy định để quản lí việc thu, chi bảo hiểm xã hội và để xác nhận đối tượng hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội quy định tại Điều lệ này.

Tổ chức phương thức quản lý quỹ bảo hiểm xã hội để đảm bảo thực hiện các chế độ bảo hiểm xã hội có hiệu quả.

Tuyên truyền, vận động để mọi người tham gia thực hiện bảo hiểm xã hội.

>> Xem thêm:  Đóng bảo hiểm xã hội bao lâu thì được hưởng chế độ thai sản?

Từ chối việc chi trả chế độ bảo hiểm xã hội cho các đối tượng được hưởng chế độ bảo hiểm xã hội khi có nghi vấn và có khi có kết luận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về hành vi man trá, làm giả hồ sơ, tài liệu.

Tổ chức thu, quản lý, sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội đúng quy định.

Thực hiện các chế độ bảo hiểm xã hội đúng quy định tại điều lệ này.

Tổ chức việc chi trả lương hưu và trợ cấp bảo hiểm xã hội kịp thời, đầy đủ, thuận tiện.

Giải quyết các tranh chấp, khiếu nại về bảo hiểm xã hội.

Thông báo định kỳ hàng năm về tình hình thực hiện bảo hiểm xã hội đối với người sử dụng lao động và người lao động.

Tóm lại, Bảo hiểm xã hội đang phát huy vai trò hết sức to lớn đối với người lao động và góp phần ổn định đời sống của hàng triệu người lao động và gia đình của họ. Bảo hiểm xã hội luôn gắn liền với quyền lợi, trách nhiệm của người lao động và người sử dụng lao động. Việc thực hiện nghiêm túc pháp luật bảo hiểm xã hội là điều kiện để đảm quyền lợi hợp pháp của người lao động và thể hiện uy tín của chủ sử dụng lao động đồng thời cũng giảm bớt áp lực cho bộ máy quản lý, duy trì trật tự, an toàn xã hội.

Trân trọng!

>> Xem thêm:  Nộp giấy khai sinh sau bao lâu thì được nhận tiền thai sản?

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Thưa Luật sư, Công ty có được giữ sổ bảo hiểm xã hội của người lao động để làm tin không ? Tôi xin cảm ơn!

Trả lời:

Trả lời:

Khoản 2 Điều 18 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 quy định người lao động có quyền được cấp và quản lý sổ bảo hiểm xã hội của mình. Khác với các văn bản luật trước, người sử dụng lao động sẽ không quản lý sổ bảo hiểm xã hội của người lao động nữa. Do vậy, việc công ty giữ sổ bảo hiểm xã hội để làm tin là sai.

Trân trọng!

Câu hỏi: Hồ sơ hưởng chế độ thai sản khi đã nghỉ việc ở công ty gồm những giấy tờ gì thưa Luật sư ?

Trả lời:

Trả lời:

Trường hợp lao động nữ thôi việc trước thời điểm sinh con, cần chuẩn bị các giấy tờ sau:

01 bản Giấy khai sinh của con;

01 bản sổ hộ khẩu; 01 bản chứng minh thư;

01 bản sổ bhxh.

Các giấy tờ trên là bản phô tô, công chứng hoặc chứng thực. Khi tới cơ quan bảo hiểm xã hội quận, huyện mang theo bản chính để đối chiếu.

Trân trọng

Câu hỏi: Người lao động nghỉ việc tại công ty ngay sau khi sinh con xong thì ai chịu trách nhiệm nộp hồ sơ hưởng chế độ thai sản ?

Trả lời:

Trả lời:

Điều 102 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 quy định về trách nhiệm nộp hồ sơ hướng chế độ thai sản như sau:

1. Người lao động tự nộp hồ sơ hưởng chế độ thai sản nếu: " thôi việc trước thời điểm sinh con".

2. Người sử dụng lao động có trách nhiệm nộp hồ sơ cho những trường hợp còn lại.

Như vậy, trách nhiệm nộp hồ sơ thuộc về đối tượng nào phụ thuộc vào thời điểm người lao động thôi việc. Trường hợp thôi việc sau thời điểm sinh con, hồ sơ hưởng chế độ thai sản sẽ do người sử dụng lao động nộp cho cơ quan bảo hiểm xã hội.