- 1. Hiệu lực của Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu
- 2. Nhãn hiệu đã hết hiệu lực có thể được coi là nhãn hiệu đối chứng không ?
- 3. Có được đăng ký nhãn hiệu tương tự với nhãn hiệu đã hết hiệu lực không ?
- 3.1. Nhãn hiệu đã qua ba năm kể từ ngày hết hiệu lực bảo hộ
- 3.2. Nhãn hiệu chưa qua ba năm kể từ ngày hết hiệu lực
- 4. Dịch vụ soạn thảo Công văn phúc đáp nhãn hiệu của Luật Minh Khuê
1. Hiệu lực của Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu
Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu là một loại văn bằng bảo hộ do Cục Sở hữu trí tuệ cấp cho cá nhân, tổ chức với mục đích xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu. Khi đã được cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu, nhãn hiệu sẽ chỉ được sử dụng bởi chủ sở hữu được ghi nhận trên Giấy chứng nhận, bất kỳ cá nhân, tổ chức nào muốn sử dụng nhãn hiệu phải có sự đồng ý của chủ sở hữu.
Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu có hiệu lực trên toàn lãnh thổ Việt Nam và có hiệu lực từ ngày cấp. Hết mười năm kể từ ngày nộp đơn, để có thể tiếp sở hữu nhãn hiệu, chủ sở hữu cần tiến hành thực hiện thủ tục gia hạn hiệu lực tại Cục Sở hữu trí tuệ.
Hiệu lực của Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu giúp xác định rõ thời hạn mà một nhãn hiệu được bảo hộ. Trong tình hình thực tế, khi mà các cá nhân, tổ chức đều muốn xây dựng một nhãn hiệu độc quyền cho sản phẩm, dịch vụ mà mình cung cấp thì tỉ lệ nhãn hiệu bị trùng hay tương tự là vô cùng cao. Vì vậy, việc xác định thời hạn một nhãn hiệu được bảo hộ sẽ gia tăng cơ hội cho các cá nhân, tổ chức có nhu cầu sử dụng nhãn hiệu và không bị hạn chế trong quá trình xây dựng nhãn hiệu. Một nhãn hiệu hết hiệu lực bảo hộ sẽ là cơ hội để một tổ chức, cá nhân khác đăng ký bảo hộ độc quyền cho nhãn hiệu của mình.
2. Nhãn hiệu đã hết hiệu lực có thể được coi là nhãn hiệu đối chứng không ?
Nhãn hiệu có khả năng phân biệt với các nhãn hiệu đã được bảo hộ thì sẽ được coi là đáp ứng tiêu chuẩn bảo hộ. Ngược lại, nếu nhãn hiệu là dấu hiệu hoặc có dấu hiệu không có khả năng phân biệt thì sẽ bị từ chối không được bảo hộ. Theo quy định tại Điều 74.2h Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009, năm 2019 và năm 2022), "nhãn hiệu bị coi là không có khả năng phân biệt nếu nhãn hiệu đó là dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của tổ chức, cá nhân khác đã được bảo hộ cho hàng hóa, dịch vụ trùng hoặc tương tự mà đăng ký nhãn hiệu đó đã chấm dứt chưa quá ba năm, trừ trường hợp đăng ký nhãn hiệu đó bị chấm dứt hiệu lực theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 95..."
Theo đó, nhãn hiệu đã hết hiệu lực bảo hộ mười năm kể từ ngày nộp đơn nhưng chưa quá ba năm kể từ ngày hết hiệu lực thì nhãn hiệu đó vẫn sẽ được là nhãn hiệu đối chứng. Nhãn hiệu xin đăng ký vẫn sẽ bị từ chối nếu tại thời điểm thẩm định xuất hiện nhãn hiệu đối chứng như vậy. Vì vậy, người nộp đơn cần lưu ý và kiểm tra chính xác thời điểm hết hiệu lực của nhãn hiệu tương tự với nhãn hiệu dự định xin đăng ký.
3. Có được đăng ký nhãn hiệu tương tự với nhãn hiệu đã hết hiệu lực không ?
Kể từ ngày giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hết hiệu lực, trong thời hạn 3 năm, chủ sở hữu sẽ được ưu tiên nếu nộp đơn đăng ký lại cho nhãn hiệu đã hết hạn bảo hộ của mình. Không có quy định cụ thể theo Luật Sở hữu trí tuệ cho thủ tục này nhưng trên thực tế, khi tiến hành thẩm định đơn đăng ký, Cục Sở hữu trí tuệ vẫn đánh giá các nhãn hiệu chưa quá ba năm kể từ ngày hết hiệu lực bảo hộ là nhãn hiệu đối chứng. Tuy nhiên, nếu quá 3 năm, nhãn hiệu sẽ hoàn toàn hết hiệu lực bảo hộ và nếu có nhu cầu bảo hộ tiếp, chủ sở hữu cần "đấu tranh" lại từ những bước đầu tiên.
Tại sao lại là ba năm mà không phải một con số khác ? Vì cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho rằng, một nhãn hiệu sẽ mất khoảng ba năm để có thể hoàn toàn biến mất triệt để khỏi thị trường tiêu dùng và để người tiêu dùng lãng quên hoàn toàn. Như vậy, sẽ giúp tránh được các trường hợp gây ảnh hưởng và nhầm lẫn tới những nhãn hiệu tương tự sau này.
3.1. Nhãn hiệu đã qua ba năm kể từ ngày hết hiệu lực bảo hộ
Nếu nhãn hiệu đã hết hiệu lực bảo hộ và đã qua ba năm kể từ ngày hết hiệu lực bảo hộ thì nhãn hiệu đó sẽ không được coi là nhãn hiệu đối chứng. Người nộp đơn có thể nộp đơn xin đăng ký cho nhãn hiệu của mình dù nhãn hiệu đó tương tự hoặc trùng với nhãn hiệu đã hết hạn hiệu lực bảo hộ quá ba năm.
Khi nhãn hiệu đã hết hạn bảo hộ tức là nhãn hiệu đó không còn thuộc sở hữu độc quyền của bất kỳ đơn vị nào. Các cá nhân, tổ chức khác có thể nộp đơn đăng ký, kể cả nhãn hiệu xin đăng ký tồn tại dấu hiệu trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu đã hết hạn bảo hộ.
3.2. Nhãn hiệu chưa qua ba năm kể từ ngày hết hiệu lực
Nhãn hiệu đã hết hiệu lực bảo hộ nhưng chưa quá ba năm kể từ ngày hết hiệu lực thì nhãn hiệu đó vẫn sẽ được coi là nhãn hiệu đối chứng. Trong trường hợp này, nếu người nộp đơn xin đăng ký cho nhãn hiệu có dấu hiệu trùng hoặc tương tự thì sẽ xảy ra rủi ro về việc đơn đăng ký có thể bị từ chối.
Khi đó, để vượt qua được những lập luận từ chối của Cục Sở hữu trí tuệ, người nộp đơn cần có sự trợ giúp và tư vấn của Luật sư có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực Sở hữu trí tuệ. Dựa theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ, người nộp đơn cần đưa ra được những lập luận để chứng minh nhận định của Cơ quan nhà nước có thẩm quyền chưa thỏa đáng. Theo quy định tại Điều 26.8 Thông tư 23/2023/TT-BKHCN, "để đánh giá dấu hiệu yêu cầu đăng ký nêu trong đơn có trùng hay tương tự tới mức gây nhầm lẫn với một nhãn hiệu khác (sau đây gọi là "nhãn hiệu đối chứng") hay không, cần phải so sánh về cách phát âm, ý nghĩa (đối với dấu hiệu chữ), cấu tạo và cách thức thể hiện của dấu hiệu (đối với cả dấu hiệu chữ và dấu hiệu hình), đồng thời phải tiến hành so sánh hàng hóa, dịch vụ mang dấu hiệu với hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu đối chứng".
Từ quy định trên, người nộp đơn cần làm rõ và chi tiết từng tiêu chi để chứng minh nhãn hiệu xin đăng ký không gây nhầm lẫn với nhãn hiệu được coi là nhãn hiệu đối chứng. Đề xuất Cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét và thẩm định lại đơn đăng ký, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho người nộp đơn
4. Dịch vụ soạn thảo Công văn phúc đáp nhãn hiệu của Luật Minh Khuê
Công ty Luật Minh Khuê là đại diện Sở hữu công nghiệp có nhiều năm kinh nghiệm trong lĩnh vực Sở hữu trí tuệ. Ngoài việc đại diện nộp đơn cho nhiều cá nhân, tổ chức, Luật Minh Khuê còn thực hiện tư vấn và soạn thảo các Công văn, văn bản giải trình,... nộp Cục Sở hữu trí tuệ. Việc nộp công văn Phúc đáp, văn bản giải trình tới Cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần được thực hiện bởi Luật sư, chuyên viên có tư duy nhanh nhạy, những góc nhìn sắc bén để có thể đưa ra những lý lẽ, lập luận mang tính thuyết phục cao, giúp cho người nộp đơn không bỏ lỡ khả năng được bảo hộ thành công.
Bất kỳ cá nhân, tổ chức nào khi tiến hành nộp đơn đăng ký đều mong muốn nhãn hiệu của mình được thuận lợi bảo hộ. Tuy nhiên, khi xảy ra rủi ro bị từ chối, người nộp đơn nên bình tĩnh và giữ vững niềm tin vào nhãn hiệu mình đã xây dựng, cùng hợp tác với các đơn vị đại diện Sở hữu công nghiệp có uy tín để tìm ra phương án và giải pháp tối ưu.
Để có thể tư vấn và hỗ trợ giải đáp, Quý khách hàng vui lòng liên hệ với chúng tôi qua số điện thoại 0986386648 hoặc kết nối với chúng tôi qua email: lienhe@luatminhkhue.vn. Bên cạnh hỗ trợ việc giải đáp các thủ tục liên quan tới Lĩnh vực Sở hữu trí tuệ, để được hỗ trợ tư vấn, giải đáp các vấn đề pháp lý khác, Quý khách hàng vui lòng liên hệ qua số điện thoại 1900 6162, Luật Minh Khuê sẽ nhanh chóng tiếp nhận và xử lý yêu cầu của Quý khách.