1. Trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền trong việc bảo vệ quyền dân sự.

"Tòa án, cơ quan có thẩm quyền khác có trách nhiệm tôn trọng, bảo vệ quyển dân sự của cá nhân, pháp nhân." (Điều 14 Bộ luật dân sự 2015).

Khi quyền dân sự của một chủ thể bị xâm phạm hoặc có tranh chấp, thì chủ thể có quyền dân sự bị xâm phạm có thể sử dụng các biện pháp để bảo vệ theo quy định của pháp luật dân sự như: tự bảo vệ, ngăn cản, truy tìm, đòi lại tài sản, thực hiện các biện pháp tác động... hoặc yêu cầu Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc trọng tài bảo vệ.

Các Ccơ quan có thẩm quyền khi nhận được yêu cầu của người có quyền bị xâm phạm phải có trách nhiệm tôn trọng, thực hiện các biện pháp để bảo vệ quyền dân sự đang bị xâm phạm. Theo Hiến pháp 2013 - đạo luật có giá trị pháp lí cao nhất trong hệ thống pháp luật Việt Nam quy định:

Điều 30.

1. Mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

2. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải tiếp nhận, giải quyết khiếu nại, tố cáo. Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự theo quy định của pháp luật.

3. Nghiêm cấm việc trả thù người khiếu nại, tố cáo hoặc lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để vu khống, vu cáo làm hại người khác.

Hay theo Điều 186 Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2015 quy định: Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án (sau đây gọi chung là người khởi kiện) tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

2. Các Cơ quan có thẩm quyền bảo vệ quyền dân sự như thế nào?

"Trường hợp quyền dân sự bị xâm phạm hoặc có tranh chấp thì việc bảo vệ quyền được thực hiện theo pháp luật tổ tụng tại Tòa án hoặc trọng tài." (Điều 14 Bộ luật dân sự).

Việc bảo vệ quyền dân sự được thực hiện theo quy định của pháp luật tố tụng tại Điều 4 Điều 186 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Đây còn được gọi là quyền khởi kiện.

Điều 186. Quyền khởi kiện vụ án

Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án (sau đây gọi chung là người khởi kiện) tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Việc bảo vệ quyền dân sự theo thủ tục hành chính được thực hiện trong trường hợp luật quy định. Quyết định giải quyết vụ việc theo thủ tục hành chính có thể được xem xét lại tại Tòa án.

Khi có căn cứ cho rằng quyết định hành chính, hành vi hành chính là trái pháp luật, xâm phạm trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình thì người đó có quyền khiếu nại.

Người khiếu nại khiếu nại lần đầu đến người đã ra quyết định hành chính hoặc cơ quan có người có hành vi hành chính hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính. Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết lần đầu hoặc quá thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khiếu nại lần hai đến Thủ trưởng cấp trên trực tiếp của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính. Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần hai hoặc hết thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

>> Xem thêm:  Luật sư tư vấn khởi kiện vụ án dân sự, đại diện tranh tụng tại Toà án

3. Cơ quan có thẩm quyền có được từ chối giải quyết vụ án khi không có điều luật quy định?

Theo Khoản 2 Điều 14 Bộ luật dân sự 2015 có quy định:

"Tòa án không được từ chối giải quyết vụ án, việc dân sự vì lý do chưa có điểu luật để áp dụng; trong trường hợp này, quy định tại Điều 5 và Điều 6 của Bộ luật này được áp dụng" .

Cũng theo Khoản 2 Điều 4 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 có quy định:

2. Tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng.

Vụ việc dân sự chưa có điều luật để áp dụng là vụ việc dân sự thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân sự nhưng tại thời điểm vụ việc dân sự đó phát sinh và cơ quan, tổ chức, cá nhân yêu cầu Tòa án giải quyết chưa có điều luật để áp dụng.

Việc giải quyết vụ việc dân sự quy định tại khoản này được thực hiện theo các nguyên tắc do Bộ luật dân sự và Bộ luật này quy định.

Đây là nội dung hoàn toàn mới chưa được quy định trong các bộ luật dân sự trước đây, đây là lần đầu được quy định trong Bộ luật dân sự năm 2015. Điều này nhằm mục đích để bảo vệ tuyệt đối quyền của chủ thể trong quan hệ dân sự khi bị xâm phạm cũng như do sự đa dạng, phong phú và tính phức tạp của các quan hệ dân sự trong đời sống xã hội mà các nhà làm luật chưa thể dự liệu ngay được. Với quy định Tòa án không được từ chối giải quyết vụ, việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng sẽ tạo thuận lợi cho các chủ thể trong quan hệ dân sự khi bị xâm phạm luôn được pháp luật dân sự tôn trọng, bảo vệ.

4. Hủy quyết định cá biệt của Cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Khi giải quyết yêu cầu bảo vệ quyền dân sự, Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác có quyển hủy quyết định cá biệt trải pháp luật của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền. (Điều 15 Bộ luật dân sự 2015).

Trong cuộc sống, khi thực hiện nhiệm vụ áp dụng pháp luật để giải quyết các quan hệ dân sự thì các cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền đã có những quyết định sai lầm trong khi ra các quyết định cá biệt vì những lí do khách quan hoặc chủ quan nào đó. Quyết định cá biệt chưa phù hợp với thực tế nên đã gây ra thiệt hại hoặc có thể sẽ gây ra thiệt hại cho một chủ thể có thể bị xem là trái pháp luật. Có thực trạng này là do nhận thức và áp dụng pháp luật thiếu thống nhất của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền. Khi giải quyết yêu cầu bảo vệ quyền dân sự, Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác có quyền hủy quyết định cá biệt trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền. Như là một căn cứ để đảm bảo sự công bằng và để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong quan hệ dân sự Điều 15 Bộ luật dân sự năm 2015 cho phép: Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác có quyền hủy quyết định cá biệt trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền.

Việc hủy quyết định cá biệt trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền đã được quy định Cụ thể tại khoản 6 Điều 11 Bộ luật dân sự năm 2015, đây là một trong những giải pháp để bảo vệ quyền dân sự.

>> Xem thêm:  Khi nào thì khiếu nại lần hai? Khiếu nại về đất đai thì phải làm như thế nào mới đúng luật?

Điều 11. Các phương thức bảo vệ quyền dân sự

Khi quyền dân sự của cá nhân, pháp nhân bị xâm phạm thì chủ thể đó có quyền tự bảo vệ theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền:

1. Công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền dân sự của mình.

2. Buộc chấm dứt hành vi xâm phạm.

3. Buộc xin lỗi, cải chính công khai.

4. Buộc thực hiện nghĩa vụ.

5. Buộc bồi thường thiệt hại.

6. Hủy quyết định cá biệt trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền.

7. Yêu cầu khác theo quy định của luật.

Có thể xem Điều 15 Bộ luật dân sự năm 2015 là việc cụ thể hơn phương thức bảo vệ quyền dân sự. Một trong những phương thức bảo vệ quyền dân sự là pháp luật cho phép chủ thể khi bị thiệt hại hoặc có thể sẽ bị thiệt hại do những quyết định cá biệt trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền thì có quyền khởi kiện, khiếu nại. Hủy quyết định cá biệt trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền là một trong những phương thức bảo vệ quyền dân sự có ý nghĩa quan trọng khi chủ thể bị thiệt hại hoặc có thể sẽ bị thiệt hại khi khiếu nại, khiếu kiện yêu cầu giải quyết.

5. Hậu quả pháp lí của việc hủy quyết định cá biệt của Các cơ quan nhà nước.

Hậu quả pháp lý khi hủy quyết định cá biệt trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền là các quyết định cá biệt đó không còn giá trị áp dụng. Điều 15 BLDS năm 2015 đã quy định: “Trường hợp quyết định cá biệt bị hủy thì quyền dân sự bị xâm phạm được khôi phục và có thể được bảo vệ bằng các phương thức quy định tại Điều 11 của Bộ luật này”.

Ví dụ: Bản án 146/2020/HC-PT ngày 22/06/2020 về hủy quyết định xử phạt hành chính của Tòa án nhân dân cấp cao Hà Nội. Ngày 22 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 99/2020/TLPT-HC ngày 17/02/2020 về việc khởi kiện “yêu cầu hủy quyết định xử phạt hành chính”, do có kháng cáo của người khởi kiện đối với Bản án hành chính sơ thẩm số 29/2019/HC-ST ngày 22/10/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh N.

Người khởi kiện là Ông P.

Người bị kiện là Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh N.

Tóm tắt: Ông P mua một chiếc xe nhưng chưa làm thủ tục sang tên, với giá 350 triệu đồng của ông B (giấy mua bán viết tay). Khi giao xe, ông B giao cho ông P bản sao giấy Đăng ký xe ô tô do Phòng Cảnh sát giao thông trật tự Công an thành phố Hà Nội cấp. Ông P đã chuyển trước cho ông B 300 triệu đồng, số còn lại sẽ thanh toán sau khi ông B hoàn thành thủ tục sang tên cho ông P.

Quá trình sử dụng, ông P nhiều lần yêu cầu ông B làm thủ tục sang tên song ông B nói do bận nhiều việc nên chưa đi làm được, sau đó ông B giao cho ông P một giấy xác nhận chiếc xe hiện đang thế chấp tại Ngân hàng TMCP Đông Nam Á-SeaBank Kim Liên và 01 Giấy chứng nhận kiểm định số 3603741 cấp ngày 02/8/2016 với hiệu lực đến hết ngày 01/02/2018. Ông P tiếp tục sử dụng xe. Trong thời gian sử dụng ông P thấy xe bị nhiều lỗi nên đã liên lạc với ông B để trả lại xe nhưng ông B đã bỏ trốn.

Ngày 17/12/2017, ông P điều khiển xe từ N về H. Khi đến gần cầu B thì lực lượng chức năng yêu cầu dừng xe. Công an tỉnh N đã kiểm tra xe và giấy tờ do ông P xuất trình, thấy có dấu hiện giả mạo nên đã tạm giữ xe để tiến hành điều tra, xác minh.

Sau khi điều tra, Công an tỉnh N kết luận chiếc xe của ông P điều khiển là xe nhập lậu vì số khung và số máy không đúng với các loại giấy tờ ông P sử dụng nên đã chuyển toàn bộ hồ sơ đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh N xử lý.

>> Xem thêm:  Mua đất nông nghiệp theo Nghị định 64 thì có cấp sổ đỏ được không ?

Ngày 12/02/2018, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh N ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 637/QĐ-UBND đối với ông Cao Đình P về hành vi "kinh doanh hàng hóa nhập lậu" với số tiền 40.000.000 đồng và phạt bổ sung là tịch thu chiếc xe nêu trên.

Không đồng ý quyết định xử phạt vi phạm hành chính nên ông P đã làm đơn khiếu nại. Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh N ban hành quyết đinh giải quyết khiếu nại với nội dung "Giữ nguyên toàn bộ nội dung Quyết định số 637/QĐ-UBND ngày 12/02/2018…".

Ông P khởi kiện ra Tòa và yêu cầu hủy các quyết định trên.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Quy định mới về khiếu nại trong tố tụng dân sự hiện nay

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Quyền khởi kiện của cá nhân, tổ chức?

Trả lời:

Điều 4. Quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp (BLTTDS)

1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân do Bộ luật này quy định có quyền khởi kiện vụ án dân sự, yêu cầu giải quyết việc dân sự tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu Tòa án bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác.

Câu hỏi: Quyền khiếu nại của công dân?

Trả lời:

Hiến pháp năm 2013: Quy định: “Mọi người có quyền khiếu nại, quyền tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân. ... Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự theo quy định của pháp luật.

Câu hỏi: Cơ quan có thẩm quyền giải quyết khái nại?

Trả lời:

Luật khiếu nại năm 2011 quy định thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu là thuộc về người có quyết định hành chính, hành vi hành chính; khiếu nại lần hai do thủ trưởng cơ quan cấp trên trực tiếp của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu giải quyết.