1. Hoạt động mua bán nợ xấu của các tổ chức tín dụng

1.1 Khái niệm

Theo khoản 1 điều 3 Thông tư số 09/2015/TT-NHNN quy định về hoạt động mua, bán nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thì “Mua, bán nợ là thỏa thuận bằng văn bản về việc chuyển giao quyền đòi nợ đối với khoản nợ phát sinh từ nghiệp vụ cho vay, khoản trả thay trong nghiệp vụ bảo lãnh, theo đó bên bán nợ chuyển giao quyền sở hữu khoản nợ cho bên mua nợ và nhận tiền thanh toán từ bên mua nợ.”  Như vậy:

- Đối tượng mua bán là khoản nợ của bên nợ với bên bán nợ, đây là tài sản đặc biệt trên thị trường, giá trị của khoản nợ khó xác định và phụ thuộc vào sự thỏa thuận của các bên.

- Mua bán nợ là việc chuyển giao quyền sở hữu đối với khoản nợ từ bên bán sang bên mua nợ. Việc chuyển quyền đòi nợ bao gồm cả chuyển nhượng các quyền, lợi ích hợp pháp gắn với bảo đảm của khoản nợ như quyền phát mại tài sản bảo đảm, quyền yêu cầu bên bảo lãnh trả nợ thay, quyền giám sát hoạt động và mục đích sử dụng vốn, quyền đình chỉ khoản nợ, …

1.2 Nguyên tắc mua bán nợ xấu

Mua bán nợ xấu được thực hiện như các giao dịch thông thường và thông qua hợp đồng mua bán nợ. Chính vì vậy việc ký kết hợp đồng mua bán nợ trước hết cần tuân thủ các nguyên tắc của hợp đồng nói chung:

- Nguyên tắc tự nguyện: Hợp đồng mua bán nợ xấu phải được hình thành hoàn toàn dựa trên cơ sở tự nguyện thỏa thuận giữa các chủ thể, không có sự áp đặt ý chí của bất kỳ tổ chức, cá nhân nào.

- Nguyên tắc cùng có lợi: Các bên cùng nhau thỏa thuận những điều khoản có lợi nhất cho cả hai bên, không được lừa dối, chèn ép nhau.

- Nguyên tắc bình đẳng về quyền và nghĩa vụ: Quyền và nghĩa vụ của mỗi chủ thể bao giờ cũng tương xứng với nhau, khi đàm phán ký kết hợp đồng, các bên đều có quyền đưa ra những yêu cầu của mình và đều có quyền chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của bên kia.

- Nguyên tắc không trái pháp luật: Các bên tham gia ký kết hợp đồng có quyền tự do thỏa thuận các điều khoản của hợp đồng nhưng mọi sự thỏa thuận trong hợp đồng đều phải phù hợp với pháp luật và không trái với các quy tắc đạo đức xã hội.

- Nguyên tắc trực tiếp chịu trách nhiệm tài sản: Các bên phải dùng chính tài sản của mình để đảm bảo việc ký kết và thực hiện hợp đồng nhằm đảm bảo lợi ích của các bên trong quan hệ hợp đồng.

Ngoài ra mua bán nợ xấu cũng cần phải được tiến hành theo những nguyên tắc đặc thù được quy định tại điều 5 Thông tư số 09/2015/TT-NHNN, cụ thể như sau:

“Điều 5. Nguyên tắc thực hiện mua, bán nợ

1. Hoạt động mua, bán nợ không trái với nội dung quy định tại hợp đồng cấp tín dụng, hợp đồng bảo đảm đã ký kết giữa bên bán nợ, khách hàng và bên bảo đảm.

2. Hoạt động mua, bán nợ do các bên tự thỏa thuận, tuân thủ quy định tại Thông tư này và quy định của pháp luật có liên quan.

3. Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài chỉ được mua nợ khi được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (sau đây gọi là Ngân hàng Nhà nước) chấp thuận hoạt động mua nợ tại Giấy phép thành lập và hoạt động của tổ chức tín dụng, Giấy phép thành lập của chi nhánh ngân hàng nước ngoài (sau đây gọi là Giấy phép) và có tỷ lệ nợ xấu dưới 3%, trừ trường hợp mua nợ theo phương án tái cơ cấu đã được phê duyệt. Trường hợp bán nợ thì không phải xin phép Ngân hàng Nhà nước.

4. Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải ban hành quy định nội bộ về hoạt động mua, bán nợ (trong đó có quy định rõ về phân cấp thẩm quyền theo nguyên tắc phân định trách nhiệm giữa khâu thẩm định và quyết định mua, bán nợ; phương thức mua, bán nợ; quy trình mua, bán nợ; quy trình định giá khoản nợ; quy trình bán đấu giá khoản nợ trong trường hợp tự đấu giá khoản nợ và quản trị rủi ro đối với hoạt động mua, bán nợ) trước thực hiện mua, bán nợ.

5. Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài mua nợ phải tuân thủ các quy định pháp luật về bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.

6. Bên bán nợ không mua lại các khoản nợ đã bán.

7. Tổ chức tín dụng không được bán nợ cho công ty con của chính tổ chức tín dụng đó, trừ trường hợp bán nợ cho công ty quản lý nợ và khai thác tài sản của tổ chức tín dụng mẹ theo phương án tái cơ cấu đã được phê duyệt.

8. Công ty quản lý nợ và khai thác tài sản là công ty con của tổ chức tín dụng chỉ được mua nợ củatổ chức tín dụng khác, chi nhánh ngân hàng nước ngoài khi tổ chức tín dụng mẹ có tỷ lệ nợ xấu dưới 3%, trừ trường hợp mua nợ theo phương án tái cơ cấu đã được phê duyệt.

9. Trường hợp bán một phần khoản nợ hoặc bán một khoản nợ cho nhiều bên mua nợ, thì bên bán nợ và các bên mua nợ thỏa thuận với nhau về tỷ lệ tham gia, phương thức thực hiện, quyền vànghĩa vụ của mỗi bên, phân chia giá trị tài sản đảm bảo (nếu có) cho phần nợ được mua, bán vàcác nội dung cụ thể khác tại hợp đồng mua, bán nợ đảm bảo phù hợp với quy định của pháp luật.

10. Các khoản nợ được mua, bán nợ phải được theo dõi, hạch toán kế toán và báo cáo thống kê theo quy định của pháp luật.”

2. Hợp đồng mua bán nợ xấu

2.1 Khái niệm

Hợp đồng mua, bán nợ là văn bản thỏa thuận giữa bên mua nợ, bên bán nợ và các bên có liên quan (nếu có) về việc mua bán nợ, chuyển quyền chủ nợ từ bên bán nợ sang bên mua nợ và các thỏa thuận khác liên quan. Hợp đồng mua bán nợ có bản chất là hợp đồng mua bán quyền tài sản có tính chất thương mại tuy nhiên đối tượng mua bán là 1 tài sản đặc biệt đó là khoản nợ của bên nợ với bên bán nợ.

2.2 Nội dung hợp đồng

Các nội dung cơ bản của hợp đồng mua bán nợ được quy định tại Thông tư số 09/2015/TT-NHNN như thông tin của 2 bên ký hợp đồng, chi tiết khoản nợ mua, bán, giá bán, phương thức thanh toán, thời điểm chuyển giao, quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của các bên, giải quyết khi phát sinh tranh chấp, … ngoài các nội dung này khi kí kết hợp đồng mua bán nợ xấu các bên cũng cần lưu ý 1 số vấn đề như:

- Giá mua, bán nợ xấu:

- Giá mua bán nợ sẽ không phản ánh số tiền thật của khoản nợ đó mà chỉ phản ánh giá trị của khoản nợ đó đối với bên mua, bên bán nợ cũng như khả năng thanh toán khoản nợ và thực tế thị trường đánh giá.

- Giá mua, bán nợ sẽ do các bên thỏa thuận, hoặc sẽ được định giá theo nguyên tắc sau khi tiến hành đấu giá khoản nợ: 

- Giá mua, bán nợ, giá khởi điểm được xác định trên cơ sở giá trị ghi sổ khoản nợ, khoản lãi mà bên nợ sẽ phải trả trong tương lai, phân loại nhóm nợ, khả năng thu hồi của khoản nợ và giá trị tài sản bảo đảm (nếu có).

- Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài có quyền thuê tổ chức có chức năng thẩm định giá thực hiện định giá mua, bán nợ đối với mua, bán nợ theo phương thức thỏa thuận, giá khởi điểm đối với mua, bán nợ theo phương thức bán đấu giá để Hội đồng mua, bán nợ quyết định

- Đối tượng của hợp đồng mua bán nợ xấu:

Đối tượng của hợp đồng mua bán nợ xấu là các khoản nợ xấu tuy nhiên với mỗi chủ thể sẽ lựa chọn các khoản nợ khác nhau là đối tượng để mua bán. AMC sẽ chủ yếu mua bán các khoản nợ phát sinh từ hoạt động tín dụng của chính ngân hàng mà nó trực thuộc, DATC sẽ hướng đến các khoản nợ xấu phát sinh trong hoạt động của NHTM Nhà nước, còn đối tượng của VAMC sẽ cần phải thỏa mãn những điều kiện theo luật định khi muốn ký kết hợp đồng mua bán nợ xấu: nằm trong phạm vi các khoản nợ xấu được mua; khoản nợ xấu có tài sản bảo đảm có hồ sơ giấy tờ hợp lệ; khách hàng vay còn tồn tại;..

Ngoài ra VAMC cũng được NHNN trao quyền quyết định đối tượng và các khoản nợ xấu cụ thể VAMC mua trong từng thời kì dựa trên cơ sở các điều kiện của khoản nợ xấu.

- Điều kiện mua nợ xấu theo giá thị trường của VAMC:

Theo Thông tư 19/2013/TT-NHNN quy định về việc mua, bán và xử lý nợ xấu của công ty quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam, VAMC mua các khoản nợ xấu theo giá thị trường khi khoản nợ đáp ứng được các yếu tố sau:

+ Đáp ứng các điều kiện đối với khoản nợ được VAMC mua bằng trái phiếu đặc biệt được quy định tại thông tư này.

+ Được Công ty Quản lý tài sản đánh giá có khả năng thu hồi đầy đủ số tiền mua nợ

+ Tài sản đảm bảo của khoản nợ có khả năng phát mại

+ Khách hàng vay có triển vọng phục hồi khả năng trả nợ hoặc có phương án trả nợ khả thi

Ngoài những vấn đề trên cần lưu ý khi ký hợp đồng mua bán nợ xấu hai bên cũng cần dự liệu tối đa những tình huống có thể xảy ra, quy định chi tiết, đầy đủ quyền và nghĩa vụ của các bên, cũng như các điều khoản khi xảy ra tranh chấp. Bên bán nợ cũng cần phải có trách nhiệm thông báo cho các bên liên quan biết tình trạng của khoản nợ sau khi kí hợp đồng bàn nợ dù rằng pháp luật hiện chưa có quy định cụ thể về thời hạn cụ thể để bên bán thực hiện nghĩa vụ này.

2.3 Phân loại hợp đồng mua bán nợ xấu

- Theo phương thức mua bán nợ, được phân loại thành:

  • Hợp đồng mua bán nợ thông qua phương thức đầu giá khoản nợ: các bên sẽ lập hai loại hợp đồng là hợp đồng tổ chức bán đấu giá tài sản và hợp đồng mua bán nợ giữa bên bán nợ và bên mua nợ thông qua đấu giá thành công tài sản. Gía mua trong hợp đồng mua bán nợ là giá cuối cùng sau phiên đấu giá
  • Hợp đồng mua bán nợ thông qua đàm phán trực tiếp hoặc môi giới

- Theo tài sản bảo đảm khoản nợ:

  • Hợp đồng mua bán nợ mà khoản nợ có tài sản bảo đảm: trong hợp đồng ngoài các nội dung cơ bản còn cần phải thỏa thuận về việc chuyển giao quyền đối với các bảo đảm nợ và phương hướng xử lý tài sản bảo đảm trong mua bán nợ
  • Hợp đồng mua bán nợ mà khoản nợ không có tài sản bảo đảm

- Theo thỏa thuận truy đòi:

  • Hợp đồng mua bán nợ có thể truy đòi: trong hợp đồng sẽ chỉ rõ bên mua nợ có quyền truy đồi một phần hay truy đồi toàn bộ khoản nợ, bổ sung thêm quyền cho bên mua nợ và tạo thêm nghĩa vụ trích lập quỹ dự phòng của bên bán nợ
  • Hợp đồng mua bán nợ không truy đòi: hợp đồng đối với các khoản nợ không lớn hoặc tài sản bảo đảm cho khoản nợ đáp ứng được nhu cầu của bên mua nên không quan tâm đến quyền truy đòi

-  Theo số lượng chủ thể mua nợ:

  • Hợp đồng mua bán nợ chỉ bán cho một bên mua nợ: bên bán là một TCTD và bên mua là một cá nhân hoặc một tổ chức duy nhất
  • Hợp đồng mua bán nợ mà khoản nợ được chia ra làm nhiều phần và bán cho nhiều bên mua nợ khác nhau: tồn tại ít nhất hai hợp đồng mua bán nợ và chủ yếu áp dụng cho các khoản nợ lớn

3.4 Hiệu lực của hợp đồng mua bán nợ xấu

Việc quy định hiệu lực của hợp đồng là điều khoản bắt buộc cần có trong hợp đồng, theo quy định của pháp luật thì hợp đồng mua bán nợ xấu có thể công chứng hoặc không công chứng tùy theo thỏa thuận của các bên trong hợp đồng. Trong trường hợp hợp đồng mua bán không cần phải công chứng thì hiệu lực của hợp đồng có thể phát sinh từ thời diểm các bên giao kết hợp đồng nếu không có thỏa thuận, hoặc sẽ là thời điểm do các bên thỏa thuận. Trường hợp các bên thỏa thuận hợp đồng cần công chứng chứng nhận thì thời điểm có hiệu lực của hợp đồng sẽ được xác định kể từ ngày công chứng viên ký và có đóng dấu của tổ chức hành nghề công chứng.

Đối với hợp đồng mua bán nợ xấu của NHTM bằng tài sản bảo đảm của VAMC thì hợp đồng mua bán nợ xấu sẽ có hiệu lực kể từ ngày phát hành/ ngày có hiệu lực của tài sản bảo đảm.

Luật Minh Khuê (Biên tập & sưu tầm)