1. Bẫy thanh khoản (liquidity trap) được hiểu là như thế nào? Ví dụ thực tiễn

Bẫy thanh khoản (liquidity trap) là tình huống trong đó lãi suất giảm xuống mức quá thấp, làm cho mọi người thích giữ tiền hoặc tài sản dễ thanh toán (tài sản không sinh lợi) hơn giữ trái phiếu hay các tài sản sinh lợi khác.

Bẫy thanh khoản (liquidity trap) sẽ xảy ra khi Ngân hàng Trung ương bơm tiền để kích thích nền kinh tế nhưng không thành công do cầu tiền trên thị trường gần như bằng không. Sự kiện này sẽ làm cho lãi suất danh nghĩa giảm xuống bằng không. Mọi người có xu hướng tích trữ tài sản như vàng hoặc tiền mặt thay vì đầu tư. Điều này sẽ dẫn đến tình trạng suy thoái kinh tế. 

Tại một mức lãi suất thấp nào đó, đường cầu về tiền trở nên co giãn vô hạn (gần như nằm ngang). Trong trường hợp như vậy, bất kỳ nỗ lực nào nhằm sử dụng chính sách tiền tệ mở rộng để cắt giảm lãi suất đều trở nên vô hiệu và chỉ dẫn tới hậu quả là mọi người nắm giữ tiền nhiều hơn. Vì lãi suất không giảm, nhu cầu đầu tư, sản lượng, việc làm không tăng, nên chính sách tiền tệ trong trường hợp này bị coi là bất lực hoặc không có hiệu quả.

Keynes lập luận rằng khi nền kinh tế suy thoái rơi vào bẫy thanh khoản, thì cách duy nhất để khuyến khích đầu tư là tăng chi tiêu chính phủ hoặc giảm thuế để tăng tổng cầu và cải thiện niềm tin của giới kinh doanh về triển vọng tốt đẹp của nền kinh tế trong tương lai, qua đó khuyến khích các công ty đầu tư nhiều hơn.

Ví dụ thực tế về bẫy thanh khoản

Một số học giả kinh tế mà đại diện là Paul Krugman cho rằng kinh tế Nhật Bản sở dĩ trải qua thập kỷ mất mát là vì mắc vào bẫy thanh khoản.

Để cứu nền kinh tế thoát khỏi tình trạng suy thoái do bong bóng bất động sản vỡ đầu thập niên 1990, Ngân hàng Nhật Bản đã nhiều lần hạ lãi suất và chần chừ nâng lãi suất, để rồi đi tới thực hiện chính sách vẫn được gọi là "chính sách lãi suất zero". Đầu tư tư nhân của Nhật Bản rơi vào tình trạng trì trệ suốt nhiều năm, và kinh tế Nhật Bản cũng trì trệ kéo dài cả thập kỷ.

Sau đó, nhờ xuất khẩu hồi phục, nhờ thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng về mặt lượng (tăng trực tiếp lượng tiền cơ sở), nhờ thực hiện chính sách tài chính (nhiều lần thực hiện các gói biện pháp tổng hợp để kích cầu), kinh tế Nhật Bản cuối cùng cũng cơ bản thoát khỏi suy thoái từ năm 2002.

 

2. Các dấu hiệu nhận biết bẫy thanh khoản (liquidity trap)

Bẫy thanh khoản sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế, ảnh hưởng trực tiếp đến thị trường chứng khoán. Các dấu hiệu nhận biết bẫy thanh khoản cụ thể bao gồm:

  • Lãi suất danh nghĩa tiến gần đến 0: Dấu hiệu lãi suất thấp tiền gần đến mức bằng 0 trong thời gian này. Mức lãi suất thấp sẽ ảnh hưởng đến tâm lý của nhiều người chuyển sang nắm giữ tiền mặt, tài sản không có giá trị sinh lời, thay vì đầu tư vào các kênh tài chính khác như chứng khoán. Lãi suất thấp có thể tác động đến hành vi của trái chủ, cùng với những lo ngại khác liên quan đến tình trạng tài chính hiện tại của quốc gia, dẫn đến việc bán trái phiếu theo cách có hại cho nền kinh tế. Ngoài lãi suất thấp, còn cần phải có sự thiếu hụt các trái chủ muốn tiếp tục nắm giữ trái phiếu và nguồn cung có hạn của các nhà đầu tư muốn mua chúng. Thay vào đó, các nhà đầu tư ưu tiên tiết kiệm tiền mặt so với mua trái phiếu.
  • Chính sách tiền tệ của ngân hàng Trung ương mất hiệu quả: Các đợt bơm tiền vào nền kinh tế với mục đích phục hồi nhưng không hiệu quả. Nền kinh tế có dấu hiệu suy thoái, người dân và doanh nghiệp không vay tiền phát triển sản xuất, kinh doanh. Đồng thời, các ngân hàng thương mại cũng thắt chặt cho vay để hạn chế nợ xấu.
  • Dấu hiệu giảm phát: Dấu hiệu người dân bắt đầu thận trọng hơn trong chi tiêu, dẫn đến lượng cầu trong nền kinh tế giảm xuống, từ đó gây nên hiện tượng giảm phát. 

 

3. Nguyên nhân và cách để thoát khỏi bẫy thanh khoản

Có khá nhiều nguyên nhân dẫn đến bẫy thanh khoán trên thị trường. Cụ thể, các nguyên nhân chính có thể kể đến như:

  • Doanh nghiệp và người dân kỳ vọng vào xu hướng giảm phát: mong muốn giả cả giảm đi trong tương lai, giá trị tiền tăng. Điều này càng khiến người dân có xu hướng nắm giữ tiền mặt nhiều hơn thay vì đầu tư.
  • Người dân tập trung tiết kiệm tiền nhiều hơn là đầu tư: Các chủ thể trong nền kinh tế sẽ tập trung tiết kiệm tiền nhiều hơn là đầu tư và chi tiêu do nền kinh tế đang suy thoái. Đồng thời, ngân hàng thương mại cũng khó khăn hơn trong việc cho vay, bởi lo ngại mất khả năng thanh toán, phá sản. Điều này dẫn đến nguồn tiền không được huy động và doanh nghiệp không có vốn đầu tư mở rộng sản xuất.
  • Ngân hàng gặp phải khủng hoảng tín dụng: Các ngân hàng thương mại gặp phải khủng hoảng tín dụng, dẫn đến thắt chặt các khoản vay. Lúc này, họ sẽ tập trung vào làm đẹp bảng cân đối tài chính, kế toán thay vì ra tăng các khoản nợ.
  • Kênh trái phiếu trở nên kém hấp dẫn: Giá trị của trái phiếu thấp hơn mặc dù gia tăng lãi suất vẫn không thu hút được nhà đầu tư. Do nhà đầu tư tin rằng thị trường đang suy thoái, không có khả năng phục hồi và đầu tư trái phiếu không hiệu quả.

Cách để thoát khỏi bẫy thanh khoản như sau:

Tình huống bẫy thanh khoản xảy ra sẽ ảnh hưởng và tác động xấu đến nền kinh tế. Đây là một tình trạng có quy mô lớn, cần có sự hỗ trợ và tác động của toàn bộ nền kinh tế để thoát khỏi bẫy thanh khoản. Dưới đây là một số cách để thoát khỏi bẫy thanh khoản cần được thực hiện:

Theo luận điểm của nhà kinh tế học Paul Krugman

Paul Krugman – nhà kinh tế học nổi tiếng cho rằng: “Tạo ra lạm phát kỳ vọng là cách để thoát khỏi bẫy thanh khoản”. Cụ thể các cách tạo ra lạm phát kỳ vọng có thể thực hiện như:

  • Phá giá đồng nội tệ.
  • Tăng thuế tiêu dùng.
  • Theo đuổi kỳ vọng lạm phát.
  • Thúc đẩy tăng trưởng cung tiền nhanh hơn.

Theo quan điểm của nhà kinh tế học Keynes

Keynes cho rằng: “Chính sách tài khóa mở rộng sẽ giúp nền kinh tế thoát khỏi bẫy thanh khoản”. Có thể hiểu, hiện tượng giảm phát xảy ra sẽ khiến lãi suất tiến gần bằng 0, từ đó gây sụt giảm tổng cầu và gây ra bẫy thanh khoản.

Chính sách tài khóa mở rộng kích thích tăng tổng cầu, từ đó bù đắp cho các khoản tiêu dùng tư nhân bị thiếu hụt. Các chính sách tài khoá mở rộng bao gồm:

  • Cắt giảm thuế.
  • Kích thích tiêu dùng tư nhân.
  • Tăng chi tiêu chính phủ.

Theo quan điểm của những nhà kinh tế học khác

Theo các nhà kinh tế học, việc nới lỏng chính sách tiền tệ sẽ giúp thoát khỏi bẫy thanh khoản. Các biện pháp nới lỏng cụ thể được áp dụng như:

  • Biện pháp nới lỏng định lượng (tiếng anh là Quantitative Easing – QE).
  • Tăng cường mua các loại trái phiếu chính phủ dài hạn hoặc trái phiếu tư nhân.

Các biện pháp này sẽ khơi dậy niềm tin của người dân vào kênh trái phiếu, đầu tư và tiêu dùng, từ đó kích thích chi tiêu và thoát khỏi bẫy thanh khoản.

Bẫy thanh khoản là một hiện tượng gây kiềm chế sự phát triển của nền kinh tế. Nguyên nhân của tình trạng này có thể do chính sách tài chính, tiền tệ, lãi suất của nhà nước không hiệu quả. Hiểu về bẫy thanh khoản là gì sẽ giúp nhà đầu tư nhận định được thị trường từ đó tránh được những rủi ro tài chính.

Quý bạn đọc có thể tham khảo bài viết liên quan sau: Đạo luật tái đầu tư cộng đồng (COMMUNITY REINVESTMENT ACT - CRA) là gì ?

Trên đây là tư vấn của luật Minh Khuê về vấn đề "Bẫy thanh khoản (liquidity trap) là gì ?" Mong rằng bài viết trên của chúng tôi sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích dành cho bạn. Bạn đọc nếu có bất kỳ thắc mắc nào vui lòng liên hệ tổng đài 1900.6162 của chúng tôi để được tư vấn trực tiếp, giải đáp thắc mắc một cách nhanh chóng và kịp thời. Quý khách hàng có yêu cầu báo giá dịch vụ tư vấn vui lòng gửi yêu cầu về địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn. Cảm ơn bạn đọc đã quan tâm theo dõi nội dung tư vấn của chúng tôi. Xin trân trọng cảm ơn quý khách.