1. Đạo luật tái đầu tư cộng đồng (CRA) được hiểu là như thế nào?
Đạo luật Tái đầu tư Cộng đồng (CRA), được ban hành vào năm 1977, yêu cầu Cục Dự trữ Liên bang và các cơ quan quản lý ngân hàng liên bang khác khuyến khích các tổ chức tài chính giúp đáp ứng nhu cầu tín dụng của các cộng đồng nơi họ kinh doanh, bao gồm cả những người có thu nhập thấp và trung bình (LMI) khu phố.
Đạo luật tái đầu tư cộng đồng (CRA) là Luật liên bang yêu cầu các ngân hàng đáp ứng các nhu cầu tín dụng của toàn thể cộng đồng nơi các ngân hàng đó nhận tiền gửi, bao gồm các khu dân cư có thu nhập trung bình và thấp. Các cơ quan giám sát tài chính được yêu cầu sử dụng hệ thống đánh giá mô tả bốn cấp trong việc đánh giá tuân thủ luật CRA, và cho công chúng kiểm tra các bản đánh giá của các nhân viên kiểm tra ngân hàng, và việc đánh giá CRA đối vơi người cho vay. Chỉ số xếp hạng tuân thủ CRA (xuất sắc, thỏa mãn, cần cải tiến, và không tuân thủ) có từ Công ty bảo hiểm tiền gửi liên bang và từ các cơ quan điều phối ngân hàng.
Cơ quan quản lý ngân hàng cho CRA:
Ba cơ quan ngân hàng liên bang, hoặc cơ quan quản lý, chịu trách nhiệm về CRA. Các ngân hàng có nghĩa vụ CRA được giám sát bởi một trong ba cơ quan quản lý này. Mỗi cơ quan quản lý có một trang web CRA chuyên dụng cung cấp thông tin về các ngân hàng mà họ giám sát và xếp hạng CRA cũng như Đánh giá Hiệu suất của các ngân hàng đó.
- Tổng công ty bảo hiểm tiền gửi liên bang (FDIC)
- Hội đồng Dự trữ Liên bang (FRB)
- Văn phòng kiểm soát tiền tệ (OCC)
Vai trò của Cục Dự trữ Liên Bang:
Cục Dự trữ Liên bang giám sát các ngân hàng thành viên của tiểu bang - hoặc, các ngân hàng do tiểu bang điều lệ đã đăng ký và được chấp nhận là một phần của Hệ thống Dự trữ Liên bang - để tuân thủ CRA.
Để thực hiện vai trò của mình, Cục Dự trữ Liên bang thực hiện:
- Kiểm tra các ngân hàng thành viên nhà nước để đánh giá và xếp hạng hiệu suất của họ theo CRA;
- Xem xét hiệu suất CRA của ngân hàng trong bối cảnh với các thông tin giám sát khác khi phân tích các đơn xin sáp nhập, mua lại và mở chi nhánh;
- Chia sẻ thông tin về các kỹ thuật phát triển cộng đồng với các chủ ngân hàng và công chúng;
2. Đạo luật phục hồi và tái đầu tư của Mỹ được hiểu là như thế nào?
Đạo luật Phục hồi và Tái đầu tư của Mỹ còn được gọi là gói kích thích năm 2009 hoặc kích thích của Obama, trong tiếng Anh là American Recovery And Reinvestment Act, viết tắt là ARRA.
Đạo luật này bao gồm một loạt các chi tiêu của chính phủ liên bang nhằm chống lại sự mất việc làm liên quan đến cuộc suy thoái năm 2008.
Đạo luật Phục hồi và Tái đầu tư của Mỹ (ARRA) kêu gọi một khoản chi tiêu liên bang khổng lồ được thiết kế để tạo ra việc làm mới và phục hồi công việc bị mất trong cuộc Đại suy thoái năm 2008. Chi tiêu này của chính phủ nhằm bù đắp cho sự chậm lại trong đầu tư tư nhân trong năm đó.
Các nhà lập pháp bắt đầu soạn thảo dự luật dẫn vài tháng trước lễ nhậm chức của Tổng thống Barrack Obama vào tháng 1 năm 2009. Tổng thống và trợ lí đã hợp tác với các thành viên của Quốc hội Mỹ thực hiện một quy trình sửa đổi hợp lí được Hạ viện cho phép thông qua vào ngày 28 tháng 1 năm 2009. Thượng viện Mỹ thông qua vào ngày 10 tháng 2.
Các cuộc hội nghị đàm phán diễn ra nhanh chóng sau đó, cuối cùng các nhà lãnh đạo Đảng Dân chủ đã đồng ý cắt giảm chi tiêu của dự luật để thu hút một lượng phiếu bầu của đảng Cộng hòa. Mức giá cuối cùng là 787 tỉ USD đại diện cho gói chi tiêu chống suy thoái kinh tế lớn nhất kể từ Thế chiến thứ II. Tổng thống Obama đã kí dự luật thành luật vào ngày 17 tháng 2 năm 2009.
Trong số các sáng kiến của ARRA:
Giảm thuế cho các hộ gia đình, bao gồm khấu trừ giảm tới 800 đô la mỗi gia đình và gia tăng 70 tỉ đô la nguồn thuế tối thiểu thay thế.
Hơn 80 tỉ đô la cho các dự án cơ sở hạ tầng.
Mở rộng chăm sóc sức khỏe, bao gồm 87 đô la viện trợ cho các tiểu bang để giúp trang trải thêm chi phí bảo hiểm sức khỏe Medicare có liên quan đến suy thoái kinh tế.
Hơn 100 tỉ đô la chi tiêu cho giáo dục, bao gồm hỗ trợ lương giáo viên và các chương trình Head Start.
3. Ý kiến về hiệu quả của Đạo luật phục hồi và tái đầu tư của Mỹ như thế nào?
Phản ứng với ARRA ban đầu là sự pha trộn giữa tích cực và tiêu cực. Những người ủng hộ cảm thấy rằng kích thích chi tiêu là không đủ để vực dậy nền kinh tế quốc gia ra khỏi suy thoái. Paul Krugman, trong tờ New York Times tháng 11 năm 2009, đã tuyên bố ARRA đạt được thành công sớm với thất bại duy nhất là nó không đi đủ xa trong việc phục hồi nền kinh tế Mỹ. Krugman lập luận rằng kích thích kinh tế đã giúp đảo ngược tình trạng thất nghiệp nhưng không đủ mạnh để thúc đẩy sự tăng trưởng hơn nữa của tổng sản phẩm quốc nội trong những năm tiếp theo.
Những người phản đối ARRA cảm thấy rằng sự chi tiêu khổng lồ của chính phủ sẽ luôn không hiệu quả và bị cản trở bởi những trở ngại như quan liêu. Trong một bài của tạp chí Forbes tháng 6 năm 2009, nhà kinh tế học Lee Ohmate đã lập luận rằng nền kinh tế Mỹ đã có những dấu hiệu phục hồi sớm mà không cần có sự kích thích nào. Ohmate khẳng định rằng các khuyến khích của chính phủ đối với chi tiêu và tuyển dụng tư nhân sẽ có tác dụng nhiều hơn làm ngập nền kinh tế với những đồng đô la chưa kiếm được.
Việc thiếu một kịch bản phản tác dụng dẫn đến việc đánh giá ARRA trở nên khó khăn hơn. Không thể nói chắc chắn nền kinh tế sẽ đi theo hướng nào nếu không có Đạo luật ARRA. Các điều kiện kinh tế chắc chắn đã được cải thiện kể từ cuộc suy thoái năm 2008, nhưng những lập luận hợp lí ủng hộ và chống lại vai trò của ARRA vẫn có thể được đưa ra để giải thích trong sự phục hồi đó.
Luật Doanh nghiệp (sửa đổi) còn sửa và bổ sung một số quy định để bảo vệ nhà đầu tư tốt hơn. Cụ thể, Luật quy định tỉ lệ sở hữu cổ phần của cổ đông phổ thông là 5%. Việc quy định cổ đông có tỷ lệ sở hữu cổ phần phổ thông thấp hơn được thực hiện các quyền tại quy định của Luật nhằm bảo vệ quyền của cổ đông thiểu số và nhóm cổ đông trong doanh nghiệp. Đây là nội dung quan trọng quy định về khung quản trị doanh nghiệp. Việc quy định này sẽ góp phần quan trọng trong thu hút các nguồn lực đầu tư vào doanh nghiệp.
Đặc biệt, Luật quy định đối tượng được mua và chuyển nhượng trái phiếu chỉ giới hạn cho nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp. Bởi thị trường trái phiếu doanh nghiệp thời gian vừa qua có sự phát triển nhanh và chuyển dịch dần kênh huy động vốn từ tín dụng ngân hàng sang phát hành trái phiếu doanh nghiệp, tuy nhiên còn tiềm ẩn nhiều rủi ro.
Để hạn chế rủi ro cho các nhà đầu tư mua trái phiếu và hạn chế doanh nghiệp lạm dụng phương thức này huy động vốn, pháp luật thường hạn chế đối tượng mua trái phiếu riêng lẻ là các nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp và giới hạn việc chuyển nhượng trái phiếu riêng lẻ giữa các nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp. Quy định hạn chế này không ảnh hưởng đến quyền của các nhà đầu tư khác không phải là nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp và lợi ích của doanh nghiệp vì doanh nghiệp hoàn toàn có thể phát hành trái phiếu ra công chúng để huy động vốn từ nhà đầu tư chứng khoán không chuyên nghiệp. Nhà đầu tư chứng khoán không chuyên nghiệp có thể ủy thác đầu tư trái phiếu riêng lẻ thông qua nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp.
Quý bạn đọc có thể tham khảo bài viết liên quan sau: Hạn ngạch xuất khẩu, hạn ngạch nhập khẩu là gì? Quy định mức hạn ngạch của EU đối với hàng nhập khẩu từ Việt Nam
Trên đây là tư vấn của luật Minh Khuê về vấn đề "Đạo luật tái đầu tư cộng đồng (COMMUNITY REINVESTMENT ACT - CRA) là gì ?" Mong rằng bài viết trên của chúng tôi sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích dành cho bạn. Bạn đọc nếu có bất kỳ thắc mắc nào vui lòng liên hệ tổng đài 1900.6162 của chúng tôi để được tư vấn trực tiếp, giải đáp thắc mắc một cách nhanh chóng và kịp thời. Quý khách hàng có yêu cầu báo giá dịch vụ tư vấn vui lòng gửi yêu cầu về địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn. Cảm ơn bạn đọc đã quan tâm theo dõi nội dung tư vấn của chúng tôi. Xin trân trọng cảm ơn quý khách.