1. Bị lừa khi nhờ chuyển tiền mua hộ nhà ở Việt Nam ?

Chào văn phòng luât sư, hiện tại tôi đang rất hoang mang và lo lắng mong luật sư giải đáp giúp tôi. Chuyện là có một người phụ nữ sống ở syria. Bà ta có kết bạn với tôi qua facebook, sau đó tôi và bà ấy có nói chuyện với nhau, sau đó bà ấy nhờ tôi mua giúp cho bà ấy một căn nhà ở việt nam bởi vì tình hình chiến tranh ở syria đang rất nguy hiểm và nếu muốn rời khỏi đó thì bà ấy phải có tài sản ở nước ngoài. Vì vậy mà bà ấy nhờ tôi mua giúp nhà, tôi đã gởi cho bà ấy số tài khoản và thông tin cá nhân của tôi, nhưng bà ây bảo chính phủ syria đã ngăn chặn tất cả việc chuyển tiền, vì vậy nên bà ấy đã không gởi tiền được, và bà ấy đã gởi số tiền một triệu bốn trăm ngàn đô la, trong một hộp sắt và gởi cho tôi thông qua chuyển phát nhanh. Sau đó thì tôi nhận được một cuộc gọi từ một người phụ nữ ở việt nam, cô ấy nói là có một hộp quà từ syria gởi về cho tôi và tôi phải đóng phí 15 triệu, sau khi đóng phí 15 triệu thì cô ấy gọi bảo tôi là hải quan phát hiện ra trong kiện hàng có chứa một khoảng tiền rất lớn và phải đóng tiền phạt là 85 triệu.
Tôi bảo cô ấy tôi không có tiền lớn như vậy , thì cô ấy nói là kiếm được bao nhiêu thì kiếm thiếu cô ấy sẽ kiếm giúp tôi. Sau đó tôi mượn bạn bè được 30 triệu và gởi cho cô ấy. Cô ấy bảo bây giờ hải quan họ phát hiện ra có một số tiền rất lớn và hỏi tôi là có giấy chứng nhận thanh toán thuốc rửa tiền từ người phụ nữ kia hay không.
Luật sư cho tôi hỏi là với tình trạng hiện giờ như vậy, nếu tôi không nộp thuế không đóng số tiền thuế 85 triệu, không nhận hàng nữa thì em có chịu trách nhiệm hình sự gì không ạ ? Có bị đi tù hay gì không ạ ?
Mong luật sư tư vấn giúp em cảm ơn nhiều ạ.
- Lê Thị Ánh Tuyết

Luật sư trả lời:

Hiện nay, hàng loạt đối tượng giả danh lừa đảo thông qua các tài khoản xã hội, thông thường sẽ là những lý do như:

Người nước ngoài bị bệnh sắp qua đời, nhờ nhận một số tiền gửi về đem đi làm từ thiện. Rồi, chuyển tiền về nhờ mua hộ ít đồ hoặc đầu tư vào gì đó. Cả trường hợp nêu ra hoàn cảnh khó khăn, chuyển tiền về nhờ làm hộ việc gì đó.

Như trường hợp của bạn, có khả năng bạn đang bị lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Chúng thực hiện hành vi lừa đảo bằng cách làm giả phiếu chuyển hàng. Hai ngày sau đó, chúng quay trở lại cuộc trò chuyện và hỏi bạn đã nhận được hàng chưa (hộp sắt đựng tiền chẳng hạn)? Nếu chưa, chúng sẽ điều phối một người Việt hỗ trợ điện thoại báo hàng đã về sân bay.

Một người phụ nữ Việt sẽ chịu trách nhiệm gọi điện thoại cho con mồi để thông báo hàng đang ở sân bay , vì vướng hải quan nên không lấy ra được, sau đó chúng sẽ yêu cầu bạn nộp phí.

Có rất nhiều thủ đoạn lừa lọc trên mạng xã hội, Một là chuyển tiền trực tiếp thông qua tiền hoặc quà tặng, sau đó người nhận sẽ chịu phí rất cao nhưng cuối cùng tay trắng vì chẳng có gì thật trên thực tế cả. Thứ hai, nếu bạn đưa số tài khoản cho người lạ, bạn sẽ bị "hack" tiền thông quan tài khoản ngân hàng. Chú ý nếu tài khoản cá nhân của bạn có thể sẽ bị xâm nhập và mất tiền oan.

Hiện nay, lừa đảo, chiếm đoạt tái sản rất nhiều, các bạn cần đủ tỉnh táo và tìm hiểu, phân tích vấn đề tránh bị vô tình vướng vào vấn đề pháp lý mà chính mình là nạn nhân.

Để bảo vệ quyền lợi của mình, bạn có thể đến trình báo với cơ quan có thẩm quyền giúp bạn tìm hiểu và tìm lại số tiền đã mất, có chứng cứ chứng minh như tin nhắn,ghi âm cuộc gọi hoặc đoạn chat để chứng minh rằng bạn bị lừa. Nhờ cơ quan có thẩm quyền giải quyết giúp bạn. Và yêu cầu có những hành động để ngăn chặn những phi vụ lừa đảo này.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp. Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Xử lý hành vi lừa dối trong góp vốn kinh doanh ? Mẫu đơn tố cáo tội lừa đảo

2. Bị lừa làm giả chữ ký có phải chịu trách nhiệm hình sự ?

Chào luật sư! Em có vấn đề muốn nhờ luật sư giúp em.Chuyện là em là một nhân viên kế toán công ty dịch vụ thành lập doanh nghiệp. Em làm việc ở đây được 3 năm em học hỏi kinh nghiệm rồi nghỉ ra ngoài tự đăng tin trên mạng để làm dịch vụ thành lập công ty và làm dịch vụ kế toán.
Tháng 10/2014 ông T1 liên hệ em để làm dịch vu mở công ty, em báo giá 2 triệu và yêu cầu ông cung cấp hồ sơ, nhưng ông bảo CMND ông đang bận công việc nên mượn CMND em đứng tên công ty,công ty trụ sở ở Đà Nẵng, rồi có giấy phép ông gửi CMND về sang tên qua, không làm gì ảnh hưởng đến em, em đồng ý. Có giấy phép ông gửi CMND tên T2 về em chuyển tên qua.khi làm thủ tục ông bảo em ký luôn chứ gửi vào mất công,thằng em ông đi nước ngoai rồi,Xong thủ tục em gửi giấy phép vào Sài Gòn.
Rồi ông thuê em làm báo cáo thuế tháng cho ông luôn,trong thời gian lam dịch vụ cho ông,em Đà Nẵng,ông ở Sài Gòn nên tới tháng ông bảo em xuống gặp bà Ph để lấy hóa đơn về báo cáo,với lấy lương, tháng 2,5tr, có khi bảo em đi ngân hàng rút tiền vê đưa cho bà Ph,đa số là bà Ph rút,khi nao bận nhờ em đi,ông T có bảo em ký luôn cho ông 2 cuốn séc, con lai bà pH với ông T tự ký Hợp đồng,hóa đơn....em làm tới tháng 7.2015, em nghỉ luôn. Tới nay công an Đà Nẵng gọi e để lấy lời khai,công ty đó là công ty ma,bảo em viết biên bản nhận tội làm giả chữ ký ông T2, giờ ông T2 kiện,ông không mở công ty gì cả. Em cũng trình bày với công an thế này, em đã cung cấp thông tin của ông T cho công an,nhưng e sợ ông chối tội,.Vậy em có bị ở tù không?
E phải tìm bằng chứng gì để buộc tội ông T1.
Cảm ơn luật sư!

>> Luật sư tư vấn luật hình sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Giả mạo chữ ký có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu có dấu hiệu tội phạm, điều đó phụ thuộc vào mục đích thực hiện hành vi phạm tội. Nếu hành vi giả mạo chữ ký nhằm lừa đảo chiếm đoạt tài sản thì người thực hiện hành vi phải chịu trách nhiệm về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy định tại điều 139 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009 :

"Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Nếu hành vi này được thực hiện bởi người có chức vụ, quyền hạn giả mạo chữ ký của người có chức vụ, quyền hạn khác nhằm mục đích vụ lợi thì người có hành vi giả mạo phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giả mạo trong công tác quy định tại điều 284 Bộ luật Hình sự:

"Điều 284. Tội giả mạo trong công tác

1. Người nào vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà lợi dụng chức vụ, quyền hạn thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm:

a) Sửa chữa, làm sai lệch nội dung giấy tờ, tài liệu;

b) Làm, cấp giấy tờ giả;

c) Giả mạo chữ ký của người có chức vụ, quyền hạn.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Có tổ chức;

b) Người phạm tội là người có trách nhiệm lập hoặc cấp các giấy tờ, tài liệu;

c) Phạm tội nhiều lần;

d) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.

4. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm.

5. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm, có thể bị phạt tiền từ ba triệu đồng đến ba mươi triệu đồng."

Trong trường hợp này, bạn của bạn giả mạo chữ ký không nhằm mục đích vụ lợi vì vậy bạn của bạn không bị truy cứu trách nhiệm hình sự Tuy nhiên, bạn phải chứng minh được việc bạn làm giả chữ ký thay ông T1 là do bạn không thề biết đó là của ông T2, do bạn bị ông T1 lừa gạt, gian dối. Để có thể chứng minh, bạn cần đưa ra tất cả các chứng cứ về giao dịch giữa bạn với ông T1 từ trước đến nay, đó là các hợp đồng giao dịch giữa 2 người hoặc các tin nhắn qua gmail, các đoạn hội thoại được ghi âm lại... để làm bằng chứng chứng minh.

Bạn cũng có thể khởi tố ông T1 để yêu cầu cơ quan công an tiến hành điều tra về hành vi lừa đảo của ông T1 đối với bạn.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Tư vấn về việc bị lừa chuyển tiền vào tài khoản ? Cách tố cáo lừa đảo

3. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản bi xử lý như thế nào ?

Thưa luật sư, xin hỏi về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản: một người được ký hợp đồng làm đại lý bảo hiểm với công ty có vôn 70% của nhà nước.
Trong thời gian hợp đồng với công ty, người này đã gian dối chiếm đoạt của khách hàng số tiên dưới 50 triệu đồng, như thế có bị coi là lợi dụng danh nghĩa của cơ quan tổ chức đề lừa đảo chiếm đoạt tài sản không,nghĩa là truy tố ở khoản 2 điều 139 ?
Xin hồi âm sớm cho tôi. Xin chân thành cảm ơn.
- Hoang A

Luật sư trả lời:

Thứ nhất: Căn cứ vào sự việc mà chị đã nêu Luật sư thấy rằng quyền, lợi ích của khách hàng nếu bị xâm phạm thì rõ ràng người khách hàng đó có quyền yêu cầu cơ quan chức năng vào cuộc để đòi lại số tiền đã mất. Nhưng để nói là người này có bị phạm tội lừa đảo hay không thì Luật sư chưa thể chắc chắn được. Vấn đề này cần có sự điều tra làm rõ. đồng thời phải có kết luận điều tra của cơ quan công an điều tra thì mới có thể kết luận là người này phạm tội gì được. Trong trường hợp này mình có thể yêu cầu cơ quan công an điều tra vào cuộc điều tra làm rõ và đòi lại quyền, lợi ích hợp pháp cho mình theo đúng quy định pháp luật.

Thứ hai: Nếu có đủ căn cứ người này vi phạm pháp luật về tội lừa đảo chiếm đoạt tài theo Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 thì rất có thể người này sẽ bị truy cứu trách nhiệm theo Luật hình sự như sau:

"Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ;tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

d) Tái phạm nguy hiểm;

đ) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

e) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

g Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b,c và d khoản 1 Điều này.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

b) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a,b,c và d khoản 1 Điều này;

c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

b) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a,b,c và d khoản 1 Điều nay;

c) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản."

Như vậy căn cứ vào mức tài sản mà người này đã chiếm đoạt thì có thể bị cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Từ nội dung tư vấn cũng như căn cứ pháp lý liên quan hy vọng chị đã rõ về vấn đề mà mình đang thắc mắc về quy định pháp luật.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi ngay tới số: 1900.6162 để được giải đáp. Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Bị lừa qua mạng có cách đòi được không ? Cách xư lý việc lừa tiền chạy việc

4. Tư vấn cách nhận biết hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản ?

Thưa luật sư, Tôi có đặt hàng qua mạng và chuyển cho chủ tài khoản tổng cộng 4triệu Việt Nam đồng, nhưng khi tôi chuyển tiền xong thì ảnh nói ảnh không có hàng chuyển cho tôi nên ảnh sẽ chuyển khoản lại cho tôi. Nhưng đến nay đã hơn 1 tuần rồi vẫn không thấy chuyển lại, gọi điện thoại thì không lin lạc được, khi thăm dò bạn bè của người này trên face thì thấy có dấu hiệu lừa đảo. Vậy bây giờ tôi phải làm thế nào ?
Kính mong luật sư giúp tôi ạ ! Tôi cám ơn !

>> Luật sư tư vấn luật hình sự gọi: 1900.6162

Trả lời:

Để kết luận người này có phải phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hay không cần xem xét đến yếu tố :

- Nếu người phạm tội lừa đảo nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản trước khi thực hiện hành vi lừa đảo. Tức là người này có thủ đoạn gian dối để khiến bạn tiến hành giao tài sản cho họ nhằm mục đích chiếm đoạt số tiền đó thì hành vi của họ có dấu hiệu của tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Điều 139 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009 quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau:

"Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.".

Trong trường hợp này của bạn:

+ Về hành vi: Có hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản. Ở đây người đó đã nói có hàng để cho bạn tin tức là dùng thủ đoạn gian dối là đưa ra thông tin giả (không đúng sự thật) nhưng làm cho bạn tin đó là thật và giao tài sản cho họ rồi chiếm đoạt số tiền 4 triệu đồng đó. Biểu hiện của việc chiếm đoạt đó là sau khi tiền được bạn chuyển khoản sang cho họ thì họ nói không có hàng và sẽ gửi lại tiền nhưng thực ra họ lại tắt máy, và bạn không thể liên lạc được.

+ Giá trị tài sản : trên 2 triệu đồng, cụ thể là 4 triệu.

+ Hành vi này đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của bạn, cụ thể là quyền sở hữu đối với số tiền 4 triệu đồng kia.

+ Lỗi của họ trong trường hợp này là lỗi cố ý.

Như vậy, trường hợp này người đó đã phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo điều 139 BLHS 1999 sửa đổi bổ sung 2009.

- Nếu sau khi bạn giao tiền rồi, họ vì khó khăn nào đó không giao được hàng sau đó mới nảy sinh ý định chiếm đoạt và thực hiện việc chiếm đoạt thì họ có thể bị xem xét có dấu hiệu của tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo điều 140 BLHS 1999 sửa đổi bổ sung 2009.

"Điều 140. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới bốn triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

c) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

d) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ trên năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

đ) Tái phạm nguy hiểm;

e) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm và bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản hoặc một trong hai hình phạt này.".

Nếu phát hiện người phạm tội có dấu hiệu của tội phạm thì bạn có thể làm đơn tố cáo đến cơ quan có thẩm quyền. Mẫu đơn tố cáo lừa đảo chiếm đoạt tài sản bạn có thể tham khảo: Mẫu đơn tố cáo hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Điều 101 Bộ luật tố tụng hình sự 2003 quy định như sau:

"Điều 101. Tố giác và tin báo về tội phạm

Công dân có thể tố giác tội phạm với Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hoặc với các cơ quan khác, tổ chức. Nếu tố giác bằng miệng thì cơ quan, tổ chức tiếp nhận phải lập biên bản và có chữ ký của người tố giác.

Cơ quan, tổ chức khi phát hiện hoặc nhận được tố giác của công dân phải báo tin ngay về tội phạm cho Cơ quan điều tra bằng văn bản.".

Dựa trên cơ sở đơn tố cáo của bạn, cơ quan điều tra sẽ tiến hành xác minh, làm rõ. Nếu nhận thấy đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm, cơ quan có thẩm quyền sẽ tiến hành khởi tố vụ án hình sự theo Điều 100 Bộ luật TTHS 2003, cụ thể :

"Điều 100. Căn cứ khởi tố vụ án hình sự

Chỉ được khởi tố vụ án hình sự khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm. Việc xác định dấu hiệu tội phạm dựa trên những cơ sở sau đây:

1. Tố giác của công dân;

2. Tin báo của cơ quan, tổ chức;

3. Tin báo trên các phương tiện thông tin đại chúng;

4. Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án, Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trực tiếp phát hiện dấu hiệu của tội phạm;

5. Người phạm tội tự thú.".

Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email hoặc qua Tổng đài tư vấn: 1900.6162. Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Có tội lừa dối tình cảm người khác không ? Khởi kiện hành vi lừa đảo qua mạng

5. Quy định của pháp luật về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản ?

Luật Minh Khuê giải đáp những thắc mắc về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định của luật hình sự:

Trả lời:

Điều 139 Bộ Luật Hình sự 1999 (Bộ luật Tố tụng Hình sự số 19/2003/QH11 của Quốc hội) quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản:

"Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Như vậy, người có hành vi dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 139 Bộ luật hình sự.

Về cấu thành tội phạm:

Theo đó: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản được hiểu là hành vi dùng thủ đoạn gian dối làm cho chủ sở hữu, người quản lý tài sản tin nhầm giao tài sản cho người phạm tội để chiếm đoạt tài sản đó.

Về mặt khách quan: phải có hành vi dùng thủ đoạn gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản. Dùng thủ đoạn gian dối là đưa ra thông tin giả (không đúng sự thật) nhưng làm cho người khác tin đó là thật và giao tài sản cho người phạm tội. Việc đưa ra thông tin giả có thể bằng nhiều hình thức khác như giả vờ vay, mượn, thuê để chiếm đoạt tài sản.

Về mặt chủ quan: lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý.

Khách thể: là quyền sở hữu tài sản của người khác.

Chủ thể: là bất cứ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự.

Trình tự thủ tục tiến hành được quy đinh trong Bộ luật tố tụng hình sự 2003 như sau:

Nếu bạn có đủ căn cứ về hành vi của người đó là lừa đảo thì bạn và những người có liên quan có thể đến cơ quan có thẩm quyền để tố giác tội phạm theo Điều 101 Bộ luật Tố tụng hình sự 2003 như sau:

"Điều 84. Tố giác và tin báo về tội phạm.

Công dân có thể tố giác tội phạm với cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án hoặc với các cơ quan khác của Nhà nước hoặc tổ chức xã hội. Nếu tố giác bằng miệng thì cơ quan tiếp nhận phải lập biên bản và có chữ ký của người tố giác.

Cơ quan hoặc tổ chức khi phát hiện hoặc nhận được tố giác của công dân phải báo tin ngay về tội phạm cho cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát bằng văn bản."

Bạn có thể tham khảo mẫu đơn tố giác tại đây.

"Điều 86. Nhiệm vụ giải quyết tố giác và tin báo về tội phạm.

Trong thời hạn không quá hai mươi ngày kể từ khi nhận được tố giác hoặc tin báo, cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, trong phạm vi trách nhiệm của mình phải kiểm tra, xác minh nguồn tin và quyết định việc khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự.

Trong trường hợp sự việc bị tố giác hoặc tin báo có nhiều tình tiết phức tạp hoặc phải kiểm tra, xác minh tại nhiều địa điểm thì thời hạn để giải quyết tố giác và tin báo có thể dài hơn, nhưng không quá hai tháng."

Sau khi tiếp nhận tin báo của, cơ quan điều tra sẽ tiến hành xác minh với sự việc của bạn. Nếu có dấu hiệu của tội phạm, cơ quan điều tra, Viện kiểm sát sẽ tiến hành khởi tố vụ án hình sự nhằm bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp cho bạn. Nếu sau khi điều tra xác minh thấy không có dấu hiệu phạm tội thì cơ quan điều tra, Việc kiểm sát ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự.

Chào Luật sư! Xin phép cho tôi hỏi với trường hợp lừa đảo nhiều người (3 người) nhưng giá trị tài sản mỗi bị hại chỉ dưới 1.500.000đ có cấu thành tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản không? Tôi xin chân thành cảm ơn!

Theo quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại Điều 139 Bộ luật hình sự thì tài sản chiếm đoạt từ 500 nghìn đồng đến dưới 200 triệu đồng là đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Trường hợp lừa đảo 3 người và giá trị tài sản của mội người bị hại dưới 1.500.000 đồng là đã cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 139 Bộ luật hình sự.

Tôi được công ty tuyển dụng bảo nộp phí làm hồ sơ nhân sự 250 nghìn đồng. Sau đó nhận tài liệu học để test kiểm tra với điều kiện không hoàn lại trong bất kỳ trường hợp nào. Với điều kiện công việc rất tốt 165 nghìn/2h làm việc, có thể tùy chọn ca trong ngày, ngày làm 2 ca, có thể tùy chọn địa điểm gần nơi mình ở. Tài liệu họ đưa ra có rất nhiều điểm bất hợp lý. Nhận thấy có dấu hiệu lừa đảo có tổ chức từ công ty trên tôi phải tiến hành tố giác tại cơ quan nào? Phòng tuyển dụng nhân sự đó trú tại Quận Thanh Xuân - Hà Nội. Hiện tại tôi đang thường trú tại Đống Đa - Hà Nội

Bạn có thể tố giác tội phạm tại cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án hoặc với các cơ quan khác của Nhà nước hoặc tổ chức xã hội. Tuy nhiên để thuận tiện cho việc điều tra thì bạn nên tố giác tại cơ quan Công an gần nhất hoặc cơ quan Công an nơi người đó cư trú.

Số là tôi có cho anh Song (cán bộ UBND) vay mượn số tiền 300 triệu, để gối đầu trả cho nông dân vay ngân hàng (theo lời anh ta nói), sau khoảng thời gian dài anh ta chỉ trả lãi nhỏ giọt và tìm cách lẩn trốn. Sau đó tôi được biết anh ta lấy số tiền ấy cho mục đích cá nhân và liên tục bán hết tài sản của mình trong hơn 2 năm nay. Tôi có gửi đơn xin giải quyết cho UBND nơi anh công tác, nhưng không làm được gì. Anh ấy còn nói nếu tôi thưa thì sẽ cho biết, cho tôi nghỉ việc (có tin nhắn đe dọa), anh ta bảo thưa cũng không làm được gì bởi anh ta có bằng cử nhân luật và quen với quan chức cấp trên. Giờ tôi không biết làm sao. Mong giúp đỡ. Nếu được xin thuê luật sư đại diện được không?

Hành vi của người này có thể cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 140 Bộ luật hình sự. Trường hợp này bạn nên làm đơn tố giác hành vi phạm tội của người này với cơ quan có thẩm quyền theo quy định tại Điều 84 Bộ luật tố tụng hình sự.

Điều 140 Bộ luật hình sự quy định về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản như sau:

"Điều 140. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ một triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới một triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

c) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

d) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ trên năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

đ) Tái phạm nguy hiểm;

e) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm và bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản hoặc một trong hai hình phạt này."

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Tư vấn Pháp luật Hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Cách giải quyết khi bị lừa tiền nhờ xin việc ? Tố cáo hành vi lừa tiền chạy việc ở đâu ?