1. Có thể hủy thẻ tín dụng FE-CREDIT hay không ?

Dạ chào các luật sư,em có một vấn đề mong các luật sư tư vấn giúp em ạ. Em ấy nhận được một cuộc điện thoại cửa tư vấn viên tự nhận là thuộc thế giới di động - nơi em từng mua 2 lần 2 điện thoại trả góp. Cô tư vấn này chúc mừng em đã nhận được thẻ ưu đãi của thế giới di động, là thẻ thành viên khi mua sắm sẽ được giảm giá nếu mua các sản phẩm dưới 10 triệu tại bất kỳ cửa hàng thế giới di động nào. Emđã hỏi là thẻ thành viên khi mua sắm được hưởng ưu đãi và không có tốn bất kỳ phí nào để làm thẻ vì đây là thẻ tặng cho thành viên mua sắm quen thuộc có lịch sử trả góp tốt. Vì vậy Em đã nhận lời làm thẻ thành viên đó và cung cấp toàn bộ thông tin cá nhân, bao gồm tên người thân.

Và được thông báo nhận thẻ ngay tại công ty em ấy đang làm việc. Ngày 18/7/2017, có nhân viên đến giao thẻ tại công ty và đưa giấy ký nhận (thật ra là hợp đồng), em đang trong thời gian làm việc và cũng không hiểu nhiều về các loại thẻ tín dụng, chỉ nghĩ là ký tên nhận thẻ giống như nhận hàng thôi, nên khi được kêu ký tên để nhận thẻ thì em đã ký. Sau đó người giao thẻ kêu em kích hoạt thẻ sử dụng đi, có 10 triệu trong thẻ cứ rút mà sử dụng mua sắm. Lúc này em mới ngạc nhiên và không hiểu sao thẻ thành viên có tiền. Vì vậy em đã đem thẻ vào công ty và hỏi thăm mọi người thì phát hiện là thẻ tín dụng fe credit plus thuộc ngân hàng thịnh vượng vp bank, mọi người xem hợp đồng của em có ký việc mua bảo hiểm luôn. Trong khi em không có nhu cầu và không muốn sử dụng nên không dám kích hoạt thẻ. Đồng thời, em đã điện thoại lại cô tư vấn đó - tên trinh nhưng không nghe máy em nữa, thậm chí tắt máy và giờ không liên lạc được. Em cũng điện thoại tổng đài 028 39 333 888 vào ngày 19/8/2017 để nói về trường hợpnày và muốn hủy thẻ, không sử dụng.

Tổng đài trả lời em không sử dụng thì không cần kích hoạt, đợi 3 năm hết hợp đồng sẽ tự hủy, còn nói em có bảo hiểm 1 năm nên không hủy được thẻ, hết 1 năm thì em hủy bảo hiểm vì nếu không hủy thì sẽ gia hạn bảo hiểm. Vì vậy em không hủy thẻ được và cũng không dám kích hoạt. Nhưng em và mọi người không hiểu thẻ có tính lãi suất hay bảo hiểm hay bất kỳ điều gì không vì chỉ được tổng đài trả lời không kích hoạt không mất tiền và đợi bảo hiểm 1 năm, đợi thẻ 3 năm tự hủy. Em đã đến ngân hàng thịnh vượng vp bank - bến lức, long an để trả thẻ thì nhân viên không nhận, yêu cầu em điện thoại tổng đài hủy thẻ, nếu tổng đài hủy thẻ thì ngân hàng mới nhận lại thẻ, nhưng điện thoại tổng đài lại thì vẫn không cho hủy thẻ và kêu đợi 3 năm.

Dạ mong các luật sư tư vấn giúp cho chúng em ạ, em thật sự không có nhu cầu làm thẻ fe credit và càng không được tư vấn rõ từ đầu vì tư vấn thẻ thành viên ưu đãi của thế giới di động, giờ em rất khó chịu và buồn về chuyện này. Mọi người trong công ty cũng không biết làm sao mới hủy thẻ và trả lại thẻ cho ngân hàng để không cần lo lắng trả nợ mà mình không có vay mượn, cũng như có bảo hiểm hợp đồng gì đó mà không biết. Những người tư vấn cho khách hàng vậy cũng sẽ ảnh hưởng đến hình ảnh của thế giới di động khi mượn danh lừa người tiêu dùng làm thẻ tín dụng fe credit, đặc biệt là nhữngngười công nhân như chúng em ạ.

Rất mong nhận được sự tư vấn của các luật sư và làm sao mới có thể hủy và trả lại thẻ tín dụng fe credit khi không có nhu cầu và chưa kích hoạt ?

Chúng em xin chân thành cảm ơn ạ. Mong hồi âm. Trân trọng cảm ơn!

Luật sư trả lời:

Căn cứ Điều 127 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định Giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép, cụ thể:

Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa, cưỡng ép thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu.

Lừa dối trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó.

Đe dọa, cưỡng ép trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc người thứ ba làm cho bên kia buộc phải thực hiện giao dịch dân sự nhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của người thân thích của mình.

Thứ nhất, Cô tư vấn viên tự nhận là nhân viên của thế giới di động đã đưa ra những thông tin sai sự thật, có tính chất lừa đảo lôi kéo khách hàng. Dẫn đến bạn hiều nhầm nên đồng ý ký nhận thẻ, mục đích của giao dịch dân sự không đạt được do yếu tố lừa dối. Do đó giao dịch dân sự mà bạn thực hiên sẽ vô hiệu.

Điều 131 BLDS năm 2015 quy định hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu, cụ thể:

1. Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập.

2. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.

Trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả.

3. Bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả lại hoa lợi, lợi tức đó.

4. Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường.

5. Việc giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu liên quan đến quyền nhân thân do Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định.

Bạn sẽ không phát sinh bất kỳ quyền và nghĩa vụ nào kể từ thời điểm giao dịch được xác lập.

Để xử lý được tình huống này, bạn cần lưu ý một số vấn đề như sau:

Thứ nhất, bạn cần liên hệ với fe credit plus thuộc ngân hàng thịnh vượng vp bank để xác minh thông tin của cá nhân đã cung cấp thông tin của bạn cho họ. Sau đó yêu cầu họ làm rõ về cách thức nhận thông tin đăng ký làm thẻ, quy trình thủ tục cấp thẻ.

Thứ hai, bạn yêu cầu fe credit plus thuộc ngân hàng thịnh vượng vp bank cung cấp cho bạn những thỏa thuận và điều khoản ràng buộc khi đăng ký làm thẻ tín dụng.

Thứ ba, sau khi làm rõ được vấn đề bạn có thể yêu cầu họ hủy thẻ với vì giao dịch dân sự được xác lập do lừa dối.

Bạn cũng có thể liên hệ với công an xã phường để nhận được sự trợ giúp để tìm ra manh mối cũng như những chứng cứ liên quan đến vụ việc.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi ngay tới số: 1900.6162 để được giải đáp. Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Xử lý hành vi lừa dối trong góp vốn kinh doanh ? Mẫu đơn tố cáo tội lừa đảo

2. Hành vi lừa đảo chiếm đoạt khoản tiền vay của ngân hàng ?

Thưa luật sư, Tôi có một tình huống rất mong luật sư tư vấn và giải đáp giùm: A và B góp vốn thành lập công ty TNHH Việt Mỹ, có trụ sở chính tại thành phố Hà Nội với vốn Điều lệ là 10tỷ đồng, Trong đó: A cam kết góp 7tỷ đồng chiếm 70% vốn điều lệ công ty, giữ chức vụ chủ tịch HĐTV công ty; B cam kết góp 3 tỷ đồng chiếm 30%vốn điều lệ công ty, giữ chức vụ Giám đốc cty kiêm người đại diện theo pháp luật.
Sau khi thanh lập Công ty Việt Mỹ có được UBND tp Hà Nội cho thuê 10 ha đất với thời gian 50%, trả tiền 1 lần nhằm mục đích xây dựng nhà máy sản xuất gạch không nung. Song song với việc thuê đất, Công ty Việt Mỹ đã làm thủ tục và ký kết hợp đồng mua dây chuyền sản xuất gạch không nung theo công nghệ của Công hòa Liên bang Đức với giá 12 tỷ đồng.
Nhằm thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh, Công ty Việt Mỹ đã dùng tài sản là 10ha đất thế chấp tại Ngân hàng Vietinbank – chi nhánh Hà Nội để vay với số tiền là 20tỷ đồng với thời hạn là 2 năm.

Dùng hợp đồng mua bán máy móc thiết bị để thế chấp tại ngân hàng Agribank – Chi nhánh Đống Đa để vay với số tiền là 10 tỷ đồng với thời hạn là 2 năm.

Do tình hình kinh tế khó khăn, do vậy việc đầu tư sản xuất gạch không nung của công ty Việt Mỹ không thể triển khai theo kế hoạch. Vì vậy, khi đến thời hạn thanh toán tiền cho Ngân hàng, công ty Việt Mỹ bị mất khả năng thanh toán. Ngân Hàng Vietinbank – chi nhánh Hà Nội đã tiến hành phát mại tài sản thế chấp là 10ha đất để thu hồi vốn. Tuy nhiên, việc phát mại tài sản chỉ thu về được giá trị là 10tỷ đồng. Bởi thế, Ngân hàng Vietinbank – chi nhánh Hà Nội đã gửi đơn tố cáo Công ty Việt Mỹ có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản và đề nghị cơ quan công an tiến hành điều tra khởi tố vụ án theo quy định.

Khi được biết ngân hàng Vietinbank – chi nhánh Hà Nội tố cáo công ty Việt Mỹ, ngân hàng Agribank đã cử cán bộ xuống làm việc với lãnh đạo công ty Việt Mỹ, được lãnh đạo công ty Việt Mỹ cho biết. Số máy móc thiết bị mua tại Đức được các bên vận chuyển bằng tàu biển, tuy nhiên con tàu này đang bị hải tặc chiếm giữ do vậy mà máy móc thiết bị Bên phí Đức chưa thể giao cho Việt Mỹ được.

Do nghi ngờ có sự gian dối nên lãnh đạo ngân hàng Agribank cũng đã gửi đơn tố cáo công ty Việt Mỹ lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Lo lắng bị truy tố trách nhiệm hình sự nên lãnh đạo công ty Việt Mỹ đã đến gặp Luật sư đề nghị được tư vấn pháp lý.

Nếu là Luật sư, trên cơ sở quy định của pháp luật anh chị tư vấn như thế nào cho A và B?

Người gửi: Hà Duyên

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

Thứ nhất: Công ty Việt Mỹ thế chấp 10ha đất tại ngân hàng Viettinbank là bất hợp pháp. Lý do:

Căn cứ theo quy định tại Điều 111 Luật đất đai 2003:

Quyền và nghĩa vụ của tổ chức kinh tế sử dụng đất thuê:

1. Tổ chức kinh tế được Nhà nước cho thuê đất có các quyền và nghĩa vụ sau đây:

a) Các quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 105 và Điều 107 của Luật này;

b) Thế chấp, bảo lãnh bằng tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất thuê tại các tổ chức tín dụng được phép hoạt động tại Việt Nam để vay vốn sản xuất, kinh doanh theo quy định của pháp luật;

Theo đó, tổ chức kinh tế sử dụng đất thuê chỉ được thế chấp đổi với “tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất” mà không được thế chấp bằng quyền sử dụng đất. Việc công ty TNHH Việt Mỹ đem 10ha đất thuê để thế chấp vay tiền tại Ngân hàng có thể khẳng định là trái với quy định của pháp luật. Do đó, hợp đồng thế chấp này vô hiệu theo quy định tại Điều 122 bộ luật dân sự 2005. Theo đó, hai bên có nghĩa vụ trao trả cho nhau những gì đã nhận.

Về đơn khởi kiện của phía Ngân hàng Viettinbank đối với công ty TNHH Việt Mỹ về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, chúng tôi có thể đưa ra cho bạn những dấu hiệu của tội này, và tội phạm chỉ cấu thành khi có đầy đủ các dấu hiệu sau:

+ Dấu hiệu pháp lý của tội này là hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác bằng thủ đoạn gian dối, có thể gồm hai hành vi khác nhau là hành vi lừa dối và hành vi chiếm đoạt, giữa hai hành vi này có quan hệ mật thiết với nhau, hành vi lừa dối là điều kiện còn hành vi chiếm đoạt là mục đích và kết quả của hành vi lừa dối.

+ Hành vi lừa dối là việc cố ý đưa ra thông tin không đúng sự thật nhằm để người khác tin đó là sự thật. Người phạm tội biết đó là giả nhưng vẫn đưa ra và mong muốn người khác tin đó là sự thật, hành vi lừa dối được thực hiện là nhằm mục đích chiếm đoạt, hành vi lừa dối mà nhằm mục đích khác thì không phải phạm vào tội này.

+ Tội phạm chỉ coi là hoàn thành khi hành vi chiếm đoạt đã xảy ra.

+ Lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý trực tiếp.

Từ những phân tích trên, có thể thấy lời cáo buộc của phía Ngân hàng Viettinbank đối với công ty TNHH Việt Mỹ là có căn cứ.

Thứ hai, việc công ty TNHH Việt Mỹ dùng hợp đồng mua bán máy móc thiết bị để thế chấp tại Ngân hàng Agribank là hợp pháp.

Có thể thấy hợp đồng mua bán máy móc thiết bị ở đây chính là tài sản hình thành trong tương lai. Vấn đề này được quy định cụ thể trong Bộ luật dân sự 2005 tại Điều 320 khoản 2:

“2. Vật dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự là vật hiện có hoặc được hình thành trong tương lai. Vật hình thành trong tương lai là động sản, bất động sản thuộc sở hữu của bảo bên đảm sau thời điểm nghĩa vụ được xác lập hoặc giao dịch bảo đảm được giao kết”;

Và khoản 1 Điều 342:

“1. Tài sản thế chấp cũng có thể là tài sản được hình thành trong tương lai.”

Do đó, phía Ngân hàng Agribank khởi kiện công ty TNHH Việt Mỹ về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản chỉ dựa vào sự “nghi ngờ” mà không có căn cứ là không thỏa đáng.

Như vậy, với cả hai đơn kiện công ty TNHH Việt Mỹ về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, nhận thấy: ở lời cáo buộc của phía Ngân hàng Viettinbank, công ty có thể bác bỏ cáo buộc, vì lỗi này cũng thuộc về phía Ngân hàng (trước khi cho vay, ngân hàng có trách nhiệm phải xác minh giá trị tài sản thế chấp thực tế); công ty và Ngân hàng có thể thương lượng với nhau và xử lý về hợp đồng vô hiệu theo quy định của luật dân sự. Còn đối với đơn kiện của ngân hàng Agribanhk, nhận thấy là không có căn cứ.

Trân trọng!

>> Xem thêm:  Tư vấn về việc bị lừa chuyển tiền vào tài khoản ? Cách tố cáo lừa đảo

3. Hình phạt về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản ?

Thưa luật sư, xin hỏi: Tôi với danh nghĩa là cá nhân đã cho người khác vay số tiền hơn 500 triệu đồng, nhưng 4 thang nay họ không chịu thanh toán cho tôi cả gốc và lãi. Vậy tôi có thể khởi kiện họ tội lừa đảo và chiếm đoạt tài sản đươc không? Và thủ tục thì cần phải có những giấy tờ gì?
Xin cảm ơn!

Trả lời:

- Theo quy định tại Điều 139 Bộ Luật Hình sự 1999 (Bộ luật Tố tụng Hình sự số 19/2003/QH11 của Quốc hội) về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau:

Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản:

"Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

Lừa đảo chiếm đoạt tài sản được hiểu là hành vi dùng thủ đoạn gian dối làm cho chủ sở hữu, người quản lý tài sản tin nhầm giao tài sản cho người phạm tội để chiếm đoạt tài sản đó.

Về khách quan, phải có hành vi dùng thủ đoạn gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản. Dùng thủ đoạn gian dối là đưa ra thông tin giả (không đúng sự thật) nhưng làm cho người khác tin đó là thật và giao tài sản cho người phạm tội. Việc đưa ra thông tin giả có thể bằng nhiều hình thức khác như giả vờ vay, mượn, thuê để chiếm đoạt tài sản.

Như vậy, hành vi người kia vay tiền bạn nhưng chưa thể trả được nợ không cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Vì ban đầu, bạn hoàn toàn tin tưởng, và hai bên thông qua hợp đồng vay tài sản để trao tiền cho nhau, mà không có dấu hiệu dùng thủ đoạn gian dối để bạn trao tiền cho họ.

- Về hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản:

Điều 140. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ một triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới một triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

c) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

d) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ trên năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

đ) Tái phạm nguy hiểm;

e) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm và bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản hoặc một trong hai hình phạt này."

Như vậy, Hành vi phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là hành vi vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó, hoặc sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

Vì vậy, chỉ có thể truy cứu trách nhiệm hình sự của người này về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản khi sau khi vay tiền của bạn, đến hạn trả nợ mà người này có hành vi bỏ trốn, dùng thủ đoạn gian dối để không phải trả nợ, hoặc sử dụng khoản tiền này vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến việc không có khả năng trả nợ. Còn nếu không thuộc vào những trường hợp này, thì để bảo vệ quyền lợi cho mình, bạn nên gửi đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân quận/huyện nơi người này cư trú để được Tòa án giải quyết theo hướng tranh chấp dân sự.

Thưa luật sư, xin hỏi: Tôi có bị một giáo viên ở Đại Học Huế nói là đưa 100 triệu có thể thay đổi điểm số con tôi sau khi thi THPT Quốc gia. Và tôi đã gửi tiền qua tài khoản của anh ấy. Nhưng giờ không thể liên lạc được nữa. Tôi còn giữ phiếu gửi tiền và nội dung tin nhắn của anh ấy. Tôi có thể kiện được không ?

>> Trước hết, cần phải xem xét người mà bạn đưa tiền có phải là người có chức vụ, quyền hạn hay không?, với vị trí, chức danh của người này thì người này có thực hiện được việc thay đổi điểm số cho con bạn hay không? Nếu như người này hoàn toàn không có khả năng này, tuy nhiên, đưa ra thông tin gian dối để bạn giao số tiền trên cho họ, thì hành vi này cấu thành tội lừa đào chiếm đoạt tài sản. Theo đó, bạn có thể làm đơn tố cáo người này về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Tuy nhiên, bạn cần lưu ý, nếu người này là người có chức vụ, quyền hạn và nhận số tiền này để thay đổi điểm số cho con bạn, thì hành vi giao tiền của bạn cấu thành tội đưa hối lộ, còn người kia bị truy cứu về hành vi nhận hối lộ theo quy định như sau:

"Điều 289. Tội đưa hối lộ

1. Người nào đưa hối lộ mà của hối lộ có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới mười triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc vi phạm nhiều lần, thì bị phạt tù từ một năm đến sáu năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ sáu năm đến mười ba năm:

a) Có tổ chức;

b) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

c) Dùng tài sản của Nhà nước để đưa hối lộ;

d) Phạm tội nhiều lần;

đ) Của hối lộ có giá trị từ mười triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng;

e ) Gây hậu quả nghiêm trọng khác.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười ba năm đến hai mươi năm:

a) Của hối lộ có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới ba trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng khác."

Thưa luật sư, xin hỏi: Năm 2014 vợ tôi có vay lãi bên ngoài của 1 người với số tiền 150.000.000 ( một trăm năm mươi triệu đồng ) và với tiền lãi là 5 ngìn /1 triệu /1 ngày vợ tôi cố gắng đóng lãi cho họ nhưng tới khi không còn khả năng đóng lãi nữa họ ép vợ tôi phải đi vay lãi chỗ khác để trả lãi cứ lãi đuổi lãi như vậy dẫn đến vợ tôi phải vào cả chơi hội ( bạn ) mua hết hội để trả lãi cho những người cho vay ( có những người còn dựa vào lúc vợ tôi lâm vào đường cùng ép vay 10 ngìn/ 1 triệu / 1 ngày ) . tháng 5 năm 2015 bố mẹ tôi và ông bà ngoại có vay ngân hàng để mở một cửa hàng vật liệu xây dựng với số tiền vay 5 trăm triệu. nhưng rồi dần dần những người cho vay lãi cũng lấy dần hết cửa hàng vật liệu của gia đình tôi, dẫn đến gia đình tôi lâm vào cảnh nợ nần, và tháng 3 năm 2016 khi sự việc vỡ lở thì tất cả những người cho vay lãi kiện vợ tôi nói vợ tôi lừa đảo chiếm đoạt tài sản . tổng đài cho tôi hỏi như vậy có ép vợ tôi vào tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản không ah, và gia đình tôi có nên làm đơn tố cáo họ không ? và nội dung như thế nào ah?

Đối với mức lãi suất 5.000 đồng/1 triệu/ngày tương đương mức lãi suất 15%/tháng. Theo đó, pháp luật Hình sự quy định đối với hành vi cho vay với mức lãi suất từ 11,25%/tháng, có tính chất chuyên bóc lột thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm cho vay lãi nặng.

Theo đó, bạn có quyền làm đơn tố cáo những người này về tội phạm cho vay lãi nặng tới cơ quan công an để được giải quyết. Sau đó, bạn sẽ được tính về áp dụng mức lãi suất mà pháp luật cho phép là 1,125%/tháng để tính toán nghĩa vụ trả nợ của bạn cho những người cho vay này. Còn về việc vay nặng lãi và không có khả năng trả nợ của vợ bạn thì không cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Thưa luật sư, xin hỏi: Mà em nghĩ là mình đã bị lừa đảo. Em ở vĩnh phúc có 1 người quen trong bình dương về chơi (họ hàng nhưng không gần lắm). Chị này trước là người có hoàn cảnh khó khăn nên vào nam lập nghiệp. Bảo là đang làm công nhân trong bình dương. Chị này nói là có cách kiếm tiền nhanh lắm mà chị không có vốn. Nên bảo gia đình em đưa vốn đê chị đầu tư cho rồi chị lấy phần trăm. Mặc dù còn nghi ngờ nhưng thấy chị ấy trước giờ là người thật thà và nên đã chuyển tiền cho chị ấy. Trong vòng mấy ngày tổng cộng hơn 1 tỉ đồng. Theo cách làm ăn mà chị ấy nói thì trong vòng 2 tuần đầu là có lãi sẽ gửi về cho gia đình em hơn 200 triệu nhưng chị ấy mới gửi 100 triệu số còn lại thì chị cứ lấy nhiều lí do để chối bỏ không gửi. Em tìm hiểu thì biết 1 người thân khác trong gia đình cũng từng bị chị này vay vốn theo cách tương tự và đến bây giờ vẫn chưa trả hết tiền. Em nghĩ khả năng mình bị lừa hoặc ít nhất là bị lợi dụng tiền nên trình bày nên đây nhờ luật sư tư vấn giúp. Em muốn hỏi em có thể kiện chị ta không và có thể lấy lại số tiền không ạ? Em xin nhờ luật sư tư vấn giúp em. Em xin chân thành cảm ơn.

Trong trường hợp này, nếu như ngày từ đầu, người này đã có ý định chiếm đoạt tài sản của gia đình bạn, mà không thông qua bất kỳ hình thức đầu tư hay kinh doanh nào như đã trao đổi với bạn, thì hành vi này cấu thành tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Còn nếu việc người này vay tiền của bạn, và do làm ăn thua lỗ dẫn đến việc không có khả năng trả nợ, và có hành vi bỏ trốn để không phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì bạn có quyền làm đơn tố cáo người này về hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

Như vậy, dù là với tội phạm nào, bạn có thể tố cáo trực tiếp, hoặc gửi đơn tố cáo đến cơ quan công an nơi xảy ra hành vi chiếm đoạt tài sản, để được xác minh, điều tra và làm rõ vụ việc.

Trân trọng ./.

>> Xem thêm:  Bị lừa qua mạng có cách đòi được không ? Cách xư lý việc lừa tiền chạy việc

4. Chiêu trò lừa đảo thông báo nhận quà trúng thưởng ?

Thưa luật sư, tôi đã chuyển khoản cho chủ tài khoản số: Tk:1903282078xxx teckcombank, số điện thoại 0898189xxxx; số tài khoản này lừa tôi là đã trúng 120 triệu tiền mặt và một xe sh 81triệu. Khi tôi nộp tiền làm thủ tục nhận thưởng xong thì nó khóa máy tôi gọi không được ?
Vậy tôi phải làm gì để lấy lại số tiền tôi đã mất và kẻ lừa đảo đó phải trả giá cho tội của mình. Đồng thời tôi muốn không ai bị lừa như tôi nữa ?
Cảm ơn và mong nhận được sự hướng dẫn!

Luật sư trả lời:

Theo thông tin bạn cung cấp thì bạn được một chủ tài khoản tên là hua van tonso tk: 1903282078xxx teckcombanksdt 0898189xxx số tài khoản đã gửi thông tin trúng 120 triệu tiền mặt và một xe sh 81 triệu và bạn đã nộp tiền làm thủ tục nhận thưởng xong thì chủ tài khoản đã khóa máy bạn không thể liên lạc được nữa. Trường hợp này có thể thấy người này đã có hành vi lừa đảo bạn, hành vi này được quy định tại Điều 174 của Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017:

Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

d) Tái phạm nguy hiểm;

đ) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

e) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

g) (được bãi bỏ)

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

b) (được bãi bỏ)

c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

b) (được bãi bỏ)

c) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Phân tích cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản:

- Chủ thể thực hiện tội phạm:

Theo quy định tại Điều 12 của Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 về tuổi chịu trách nhiệm hình sự thì đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, chủ thể của tội phạm không phải là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi. Tức là chỉ có người trên 16 tuổi mới phải chịu trách nhiệm hình sự về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo được Điều 174 quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017.

- Khách thể của tội phạm:

Khách thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản cũng tương tự như các tội có tính chất chiếm đoạt khác, nhưng tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản không xâm phạm đến quan hệ nhân thân mà chỉ xâm phạm đến quan hệ sở hữu được pháp luật Việt Nam bảo vệ.

- Mặt khách quan của tội phạm:

Lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi của một người bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác. Thủ đoạn gian dối được thể hiện bằng những hành vi cụ thể nhằm đánh lừa chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản. Thủ đoạn gian dối của người phạm tội bao giờ cũng phải có trước khi có việc giao tài sản giữa người bị hại với người phạm tội.

Hậu quả và mối quan hệ nhân quả: Hậu quả của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là thiệt hại về tài sản mà cụ thể là giá trị tài sản bị chiếm đoạt.

- Mặt chủ quan của tội phạm:

Người phạm tội cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Về mặt ý chí của người phạm tội lừa đảo bao giờ cũng nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản trước khi thực hiện hành vi lừa đảo, đây là điểm phân biệt cấu thành tội lạm dụng tín nhiếm chiếm đoạt tài sản quy định tại Điều 175 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017. Vì trong một số trường hợp phạm tội làm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thì bao giờ ý định chiếm đoạt tài sản cũng phát sinh sau khi nhận tài sản thông qua một hình thức giao dịch nhất định.

Vậy trong trường hợp này, nếu đủ các yếu tố nêu trên, chủ tài khoản nêu trên có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp. Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Có tội lừa dối tình cảm người khác không ? Khởi kiện hành vi lừa đảo qua mạng

5. Lừa tiền chạy thi công chức có phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản ?

Kính thưa luật sư ! Tôi có tham gia kì thi tuyển công chức của Tỉnh mình tổ chức, trước khi kì thi diễn ra có một người tên Tú nói muốn giúp tôi chạy điểm nếu có nhu cầu và tôi đã đồng ý. Sau đó, Tú đưa tôi đến gặp 1 người tên Nhật.
Lúc đầu Nhật nói chỉ cần đưa một tờ bảng điểm photo, sau đó nói giá là 100 triệu nhưng phải đưa trước 60 triệu khi nào có kết quả đưa nốt 40 triệu, tôi đã làm theo và đưa trước 60 triệu, sau khi cầm 60 triệu Nhật lại nói phải 130 triệu mới lo được và yêu cầu đưa đủ, tôi cũng đồng ý và làm theo. Nhưng lần sau tôi đã yêu cầu Nhật viết giấy biên nhận, nhưng Nhật nói chỉ viết giấy nhận vay tiền của Tú ( cả 2 lần tôi đưa tiền đều có Tú đi cùng ) tôi đã đồng ý nhưng có bản ghi âm ở lần giao tiền thứ 2 tức là đưa thêm 70 triệu, nhưng giấy biên nhận ghi 130 triệu. Tuy nhiên, trong quá trình chuẩn bị thi, từ khi nộp hồ sơ, ôn thi và thi, Nhật không giúp đỡ tôi bất kỳ điều gì, tôi tự học, tự làm bài và tôi tự chấm thấy điểm cũng tương đương kết quả chấm thi và kết quả tôi đã trúng tuyển. Khi tôi hỏi Nhật, Nhật nói đã giúp đỡ khi chấm điểm, nhưng trước khi có kết quả tôi thường hỏi thông tin điểm thi và kết quả Nhật đều không nhớ số báo danh của tôi và cũng không cung cấp được thông tin gì, đến ngày thông bao kết quả Nhật cũng chỉ biết trước tôi khoảng 1 tiếng, vì hội đồng tuyển sinh đưa kết quả lên mạng.
Tôi cũng có biết thông tin Tỉnh tôi chấm thi đợt này rất chặt vì đã thuê 2 trường đại học có tiếng để chấm thi và chấm lại nhiều lần. Vậy trường hợp này tôi có thể kiện Nhật và Tú tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản không ? Và chứng cứ tôi có ( 1 bản ghi âm và giấy biên nhận ghi tên Tú ) có đủ giá trị không ?.
Rất mong tư vấn của Quý Luật sư !
Người gửi : K.D

>> Luật sư tư vấn luật hình sự về xử lý hành vi lừa đảo, gọi 1900.6162

Trả lời :

Điều 139, Bộ luật hình sự 1999 ( sửa đổi bổ sung năm 2009 ) quy định về tội lừa đảo chiếm đảo tài sản như sau :

" Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm ”.

Dựa vào quy định tại điều 139, ta thấy :

Dấu hiệu pháp lí:

Về mặt khách quan : Hành vi phạm tội của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản gồm hai hành vi khác nhau. Đó là hành vi lừa dối và hành vi chiếm đoạt, giữa hai hành vi này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Hành vi lừa dối là điều kiện để hành vi chiếm đoạt có thể xảy ra, còn hành vi chiếm đoạt là mục đích và là kết quả của hành vi lừa dối. Hành vi lừa dối được hiểu là hành vi cố ý đưa ra thông tin không đúng sự thật nhằm để người khác tin đó là sự thật và giao tài sản cho người phạm tội .

Về mặt chủ quan: người phạm tội biết đó là thông tin giả nhưng mong muốn người khác tin đó là sự thật nhằm chiếm đoạt tài sản của họ.

Ngoài ra, cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản còn bao gồm dấu hiệu về giá trị của tài sản bị chiếm đoạt. Cụ thể, theo điều 139 thì tài sản chiếm đoạt phải có giá trị từ 2.000.000 đồng trở lên; Hoặc dưới hai triệu đồng nhưng phải thuộc một trong các trường hợp :

- Gây hậu quả nghiêm trọng;

- Đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt;

- Đã bị kết án về tội chiếm đoạt và chưa được xóa án tích.

Như vậy, nếu một người thực hiện hành vi thỏa mãn các dấu hiệu pháp lý của cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nêu trên thì có thể kết luận họ phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại điều 139, bộ luật hình sự 1999 ( sửa đổi bổ sung năm 2009 ).

Theo đó, với thông tin mà bạn đưa ra, các giấy tờ về việc giao nhận tiền giữa bạn và Nhật với tổng số tiền là 130 triệu thỏa mãn dấu hiệu về giá trị tài sản. Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng, nếu chỉ dựa vào việc Nhật không nhớ số báo danh của bạn hay việc bạn tự chấm thi và thấy sát với điểm của mình và hội đồng chấm thi là các trường đại học có tiếng mà cho rằng Nhật và Tú đã có hành vi gian dối là chưa có căn cứ. Do đó, vì thông tin bạn cung cấp chưa đầy đủ nên chưa có đủ căn cứ về dấu hiệu tội phạm để khẳng định Tú và Nhật có phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hay không.

Bạn có thể làm đơn khởi kiện Tú và Nhật ra tòa với hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Tú và Nhật có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại điểm c, điều 15, Nghị đinh 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình

" Điều 15. Vi phạm quy định về gây thiệt hại đến tài sản của người khác.

1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:...

c) Dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản của người khác; "

Trân trọng./.
Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Cách giải quyết khi bị lừa tiền nhờ xin việc ? Tố cáo hành vi lừa tiền chạy việc ở đâu ?