Bài viết của người sao chép thu hút được rất nhiều người xem, lượt bình luận và chia sẻ với các ngôn từ bình luận tiêu cực làm ảnh hưởng đến tinh thần cũng như cuộc sống của tôi. Người này dùng hình ảnh của tôi và vu khống cho tôi là lừa đảo vay tiền không trả cho họ. Tôi có thể tố cáo người đó về hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác khi mà tôi không hề có thông tin của người này  để cơ quan chức năng xử lý được không và thủ tục như thế nào?

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Dân sự của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Dân sự, gọi:  1900 6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Nội dung phân tích

1. Về quyền hình ảnh của cá nhân bạn

Theo quy định tại điều 32 của Bộ luật dân sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2015 quy định cụ thể như sau

1.1 Cá nhân có quyền đối với hình ảnh của mình.

Việc sử dụng hình ảnh của cá nhân phải được người đó đồng ý.

Việc sử dụng hình ảnh của người khác vì mục đích thương mại thì phải trả thù lao cho người có hình ảnh, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

1.2 Trường hợp không cần sự đồng ý 

 Việc sử dụng hình ảnh trong trường hợp sau đây không cần có sự đồng ý của người có hình ảnh hoặc người đại diện theo pháp luật của họ:

+ Hình ảnh được sử dụng vì lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng;

+ Hình ảnh được sử dụng từ các hoạt động công cộng, bao gồm hội nghị, hội thảo, hoạt động thi đấu thể thao, biểu diễn nghệ thuật và hoạt động công cộng khác mà không làm tổn hại đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của người có hình ảnh.

- Việc sử dụng hình ảnh mà vi phạm quy định tại Điều này thì người có hình ảnh có quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định buộc người vi phạm, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan phải thu hồi, tiêu hủy, chấm dứt việc sử dụng hình ảnh, bồi thường thiệt hại và áp dụng các biện pháp xử lý khác theo quy định của pháp luật.

Quyền đối với hình ảnh của bản thân mình là một quyền nhân thân của cá nhân. Theo đó, khi sử dụng hình ảnh của cá nhân phải có sự đồng ý của người đó. Việc sử dụng hình ảnh cá nhân được xác định là vì bất kỳ mục đích gì, chỉ trừ trường hợp ngoại lệ được pháp luật quy định cụ thể. Trên thực tế, thói quen xin phép cá nhân để sử dụng hình ảnh của họ thường không được coi trọng và thường được xác định là vi phạm quyền đối với hình ảnh của cá nhân là chỉ áp dụng đối với các hành vi sử dụng hình ảnh với mục đích xấu. Tuy nhiên, theo quy định của điều luật thì rõ ràng, quyền đối với hình ảnh của cá nhân luôn yêu cầu được sự đồng ý của cá nhân khi hình ảnh của họ được sử dụng bởi người khác.

Trong trường hợp hình ảnh được sử dụng vì mục đích thương mại như để quảng cáo sản phẩm, quảng cáo dịch vụ hoặc gắn hình ảnh với bất kỳ hành vi phát sinh lợi nhuận một cách hợp pháp nào khác thì người sử dụng hình ảnh phải trả thù lao cho người có hình ảnh. Nghĩa vụ này chỉ được loại trừ nếu giữa người có hình ảnh và người sử dụng hình ảnh có thỏa thuận về việc không phải trả thù lao. Đối với quy định này phải đảm bảo các yếu tố: mục đích thương mại của việc sử dụng hình ảnh phải không thuộc các trường hợp không hợp pháp, việc thỏa thuận không phải trả thù lao về việc sử dụng hình ảnh giữa các bên là hoàn toàn tự nguyện.

Ngoại lệ của việc sử dụng hình ảnh của cá nhân khác mà không cần sự đồng ý của người có hình ảnh hoặc người đại diện theo pháp luật của họ được xác định trong các trường hợp sau:

+ Vì lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích cộng đồng. Trường hợp này được hiểu là quyền dân sự của cá nhân phải ưu tiên cho lợi ích chung của cộng đồng. Do đó, việc sử dụng hình ảnh là không cần thiết phải có sự đồng ý của người có hình ảnh.

+ Được sử dụng từ các hoạt đọng cộng đồng, bao gồm: hội nghị, hộ thảo, hoạt động thi đấu thể thao, biểu diễn nghệ thuật và hoạt động cộng đồng khac mà không làm tổn hại đến danh dự, nhân phẩm uy tín của cá nhân có hình ảnh. Việc sử dụng hình ảnh trong các trường hợp này thường mang tính chất về thông tin đưa về các hoạt động cộng động nói chung.

2.  Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm uy tín

- Danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ.

- Cá nhân có quyền yêu cầu Tòa án bác bỏ thông tin làm ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của mình.

Việc bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín có thể được thực hiện sau khi cá nhân chết theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc con thành niên; trường hợp không có những người này thì theo yêu cầu của cha, mẹ của người đã chết, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác.

- Thông tin ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân được đăng tải trên phương tiện thông tin đại chúng nào thì phải được gỡ bỏ, cải chính bằng chính phương tiện thông tin đại chúng đó. Nếu thông tin này được cơ quan, tổ chức, cá nhân cất giữ thì phải được hủy bỏ.

- Trường hợp không xác định được người đã đưa tin ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của mình thì người bị đưa tin có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố thông tin đó là không đúng.

- Cá nhân bị thông tin làm ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín thì ngoài quyền yêu cầu bác bỏ thông tin đó còn có quyền yêu cầu người đưa ra thông tin xin lỗi, cải chính công khai và bồi thường thiệt hại.

Khi danh dự, nhân phẩm uy tín của cá nhân bị xâm phạm cá nhân có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết, thông qua việc bác bỏ các thông tin đã gây ảnh hưởng xấu đến các quyền nhân thân này của cá nhân. Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân không chỉ được ghi nhận khi cá nhân còn sống mà còn được pháp luật duy trì sự bảo hộ ngay cả khi cá nhân đã qua đời,  thông qua việc yêu cầu Tòa án giải quyết từ những người thân thích của cá nhân bao gồm: vợ, chồng hoặc con thành niên của người bị xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín. Cha , mẹ của cá nhân này khi cá nhân này không có vợ, chồng, con thành niên. Quy định này chỉ bị loại trừ nếu có các quy định khác của các văn bản khác.

3. Quy định về tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố

Theo thông tin mà bạn cung cấp thì bạn bị người khác  có hành vi sao chép và bịa đặt về hình ảnh, thông tin cá nhân và bài đăng trên Facebook, làm ảnh hưởng tiêu cực đến cuộc sống của bạn. Hành vi của người đó có dấu hiệu vi phạm pháp luật. Bạn có thể tố cáo hoặc tố giác hành vi của người này với các cơ quan có thẩm quyền để xử lý, giải quyết theo quy định pháp luật.

Theo Điều 144 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đã quy định như sau

Điều 144. Tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố

1. Tố giác về tội phạm là việc cá nhân phát hiện và tố cáo hành vi có dấu hiệu tội phạm với cơ quan có thẩm quyền.

2. Tin báo về tội phạm là thông tin về vụ việc có dấu hiệu tội phạm do cơ quan, tổ chức, cá nhân thông báo với cơ quan có thẩm quyền hoặc thông tin về tội phạm trên phương tiện thông tin đại chúng.

3. Kiến nghị khởi tố là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiến nghị bằng văn bản và gửi kèm theo chứng cứ, tài liệu liên quan cho Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có thẩm quyền xem xét, xử lý vụ việc có dấu hiệu tội phạm.

4. Tố giác, tin báo về tội phạm có thể bằng lời hoặc bằng văn bản.

5. Người nào cố ý tố giác, báo tin về tội phạm sai sự thật thì tuỳ tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của luật.

Các cơ quan, tổ chức có trách nhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố theo quy định tại khoản 2 Điều 145 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, bao gồm:

"a) Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố;

b) Cơ quan, tổ chức khác tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm."

4. Quy định pháp luật về tội vu khống

- Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:

+ Bịa đặt hoặc loan truyền những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác;

+ Bịa đặt người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền.

- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 03 năm:

+ Có tổ chức;

+ Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

+ Đối với 02 người trở lên;

+ Đối với ông, bà, cha, mẹ, người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh cho mình;

+ Đối với người đang thi hành công vụ;

+ Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;

+ Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%

+ Vu khống người khác phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

+ Vì động cơ đê hèn;

+ Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên

+Làm nạn nhân tự sát.

- Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Như vậy, bạn có thể tố giác hành vi của người này với Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc cơ quan, tổ chức khác để được xử lý.  Nếu trong trường hợp bạn không xác định được nơi cư trú của người này thì bạn có thể ra công an nơi bạn đang sinh sống để làm đơn tố cáo trước. Tùy vào mức độ nghiêm trọng của hành vi, B có thể bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị khởi tố về Tội vu khống theo Điều 156 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), nếu đủ các yếu tố cấu thành tội phạm này.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi.  Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900 6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Dân sự - Công ty luật Minh Khuê