1.Quy định về việc bảo đảm quyền giữ cầm

Việc bảo đảm quyền cầm giữ được quy định như sau:

Đối với trường hợp cơ quan có thẩm quyền, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật liên quan yêu cầu bên cầm giữ giao tài sản cầm giữ để giải quyết vụ việc theo quy định pháp luật thì việc giao tài sản cầm giữ trong trường hợp này không phải là căn cứ chấm dứt cầm giữ;

Đối với trường hợp chủ sở hữu tài sản hoặc người có quyền khác đưa tài sản đang bị cầm giữ vào giao dịch dân sự thì bên cầm giữ không có nghĩa vụ giao tài sản cho bên tham gia giao dịch dân sự đó, trừ những trường hợp sau :

Nghĩa vụ đối với bên cầm giữ đã được hoàn thành;

Nghĩa vụ đối với bên cầm giữ chưa được hoàn thành nhưng thuộc trường hợp cầm giữ tài sản chấm dứt quy định tại các khoản 1, 2 hoặc 5 Điều 350 về “Chấm dứt cầm giữ” của Bộ luật Dân sự.

Ví dụ, chủ sở hữu một chiếc ô tô đang được thế chấp mang đến gara sửa chữa, nếu tại thời điểm chủ sở hữu vi phạm nghĩa vụ thanh toán, thì chủ gara được quyền cầm giữ chiếc ô tô để bảo đảm nghĩa vụ thanh toán chi phí sửa chữa. Vì chiếc ô tô thế chấp không thuộc trường hợp bắt buộc phải đăng ký thế chấp theo quy định của pháp luật nên việc có hay không đăng ký thế chấp thì bên nhận thế chấp chỉ có quyền ưu tiên thanh toán so với các bên nhận bảo đảm khác, chứ không có quyền ưu tiên thanh toán so với bên cầm giữ tài sản. Vì bên cầm giữ luôn có quyền giữ tài sản cầm giữ để yêu cầu được thanh toán chứ không phụ thuộc vào việc được hay không được ưu tiên thanh toán so với các chủ nợ khác.

2. Quy định về việc thực hiện quyền cầm giữ

Việc thực hiện quyền cầm giữ được quy định như sau:

Đối với bên cầm giữ chỉ được cầm giữ tài sản hoặc phần tài sản liên quan trực tiếp đến phần nghĩa vụ bị vi phạm. Trường hợp đối tượng của phần nghĩa vụ bị vi phạm bao gồm nhiều tài sản thì bên cầm giữ có quyền lựa chọn tài sản để cầm giữ;

Nghĩa vụ vi phạm đối tượng là công việc để tạo ra sản phẩm thì bên cầm giữ chiếm giữ sản phẩm được tạo ra hoặc nguyên vật liệu để tạo ra sản phẩm. Trường hợp đối tượng của nghĩa vụ bị vi phạm là công việc không tạo ra sản phẩm thì bên cầm giữ chiếm giữ công cụ, phương tiện được bên có nghĩa vụ giao để thực hiện công việc;

Các tài sản cầm giữ phát sinh hoa lợi không phải là kết quả của việc khai thác tài sản cầm giữ thì bên cầm giữ phải giao lại hoa lợi này cho bên có nghĩa vụ. Trường hợp bên cầm giữ đang quản lý hoa lợi mà đối tượng của nghĩa vụ đã được giao cho bên có nghĩa vụ trước thời điểm người này vi phạm nghĩa vụ thì bên cầm giữ chiếm giữ hoa lợi cho đến khi nghĩa vụ đối với bên cầm giữ đã được hoàn thành.

3.Biện pháp cầm giữ tài sản chấm dứt trong các trường hợp nào ?

Biện pháp cầm giữ tài sản chấm dứt trong các trường hợp: bên cầm giữ không còn chiếm giữ tài sản trên thực tế; các bên thỏa thuận sử dụng biện pháp bảo đảm khác để thay thế cho cầm giữ; nghĩa vụ đã được thực hiện xong; tài sản cầm giữ không còn và theo thỏa thuận của các bên.

Cũng giống như đối với cầm cố tài sản, quan hệ cầm giữ dựa trên hành vi thực tế cầm giữ tài sản. Vì vậy nếu vì bất kỳ lý do nào đó mà bên cầm giữ không còn cầm giữ tài sản, thì lập tức chấm dứt quan hệ cầm giữ và bên cầm giữ mất quyền ưu tiên thanh toán.

Bên canh đó, Bộ luật Dân sự năm 2015 chỉ quy định cầm giữ đối với quan hệ hợp đồng song vụ, nên một người giữ gìn tài sản hay chăm sóc súc vật thất lạc của người khác không có quyền yêu cầu chủ sở hữu tài sản trả chi phí bằng biện pháp cầm giữ tài sản. Việc chỉ quy định áp dụng biện pháp cầm giữ tài sản đối với hợp đồng song vụ là quá chặt chẽ, không giải quyết được các yêu cầu tương tự rất chính đáng trên thực tế.

Do đó, đối vổi trường hợp không có hợp đồng song vụ, nếu bên có quyền yêu cầu thanh toán giữ tài sản của chủ sở hữu thì không thuộc trường hợp cầm giữ tài sản. Nếu xảy ra việc cầm giữ hay chiếm giữ thì sẽ thuộc vào trưồng hợp chiêm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật. Nếu trong trường hợp cố tình không trả lại tài sản đang chiếm giữ do bị giao nhầm hoặc do tìm được, bắt được có trị giá từ 10 triệu đồng trở lên hoặc di vật, cổ vật, sau khi chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc cơ quan có trách nhiệm yêu cầu được nhận lại tài sản đó thì còn có thể bị xử phạt về “tội chiếm giữ trái phép tài sản” với mức hình phạt tiền từ 10 - 50 triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 2 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 5 năm. Thậm chí đã có nhiều trường hợp đòi nợ bằng cách bắt nợ, chiếm giữ tài sản của người khác và đã bị xử tội cưỡng đoạt tài sản hoặc tội cướp tài sản.

Trong Bộ luật Hàng hải năm 2015 quy định quyền cầm giữ hàng hải là quyền của người có khiếu nại hàng hải để được ưu tiên trong việc đòi bồi thường đối với chủ tàu, người thuê tàu, người khai thác tàu. Các khiếu nại hàng hải làm phát sinh quyền cầm giữ hàng hải có thứ tự ưu tiên cao hơn các khiếu nại hàng hải được bảo đảm bằng thế chấp tàu biển và các giao dịch bảo đảm khác. Quyền cầm giữ hàng hải được thực hiện thông qua Tòa án có thẩm quyền bằng quyết định bắt giữ tàu biển. Quyền cầm giữ hàng hải đối với tàu biển để bảo đảm cho các khiếu nại hàng hải được thực hiện dù tàu biển đó đã được thế chấp hoặc chủ tàu đã thực hiện giao dịch bảo đảm khác. Các khiếu nại về hàng hải cũng được quy định thứ tự ưu tiên khác nhau. Thời hiệu quyền cầm giữ hàng hải là 01 năm kể từ thời điểm phát sinh quyền cầm giữ hàng hải.

4. Các quy định liên quan đến cầm cố tài sản 

Theo quy định tại Điều 309 Bộ luật Dân sự năm 2015, cầm cố tài sản phải thỏa mãn cả 02 điều kiện là: (i) Có hành vi “giao” tài sản và (ii) tài sản thuộc sở hữu của bên cầm cố, trong đó xét về bản chất, khái niệm “giao” tài sản phải được hiểu là “giao” thực tế, không thuần túy chỉ là “giao” các giấy tờ pháp lý chứng minh quyền sở hữu tài sản. 

Về hiệu lực của cầm cố tài sản, Điều 310 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định hiệu lực của cầm cố tài sản dưới 02 góc độ: (i) Hiệu lực của hợp đồng và (ii) Hiệu lực đối kháng với người thứ ba. Theo đó, hợp đồng có hiệu lực từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp có thỏa thuận hoặc luật có quy định khác. Như vậy, về nguyên tắc chỉ khi các bên có thỏa thuận hoặc luật có quy định khác thì mới làm thay đổi được thời điểm có hiệu lực của hợp đồng cầm cố đã được quy định trong Bộ luật Dân sự (thời điểm giao kết). Cũng tại Điều 310 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định thời điểm đối kháng với người thứ ba là thời điểm bên nhận cầm cố nắm giữ tài sản cầm cố. Tuy nhiên đối với trường hợp cầm cố bất động sản thì “việc cầm cố có hiệu lực đối kháng với người thứ kể từ thời điểm đăng ký”. Các tiếp cận như vậy là phù hợp với bản chất của bất động sản, mọi di biến động liên quan đến tình trạng pháp lý của bất động sản đều phải được đăng ký.

Về nghĩa vụ, quyền của bên cầm cố, bên nhận cầm cố

Về vấn đề này, Điều 311 Bộ luật Dân sự quy định bên cầm cố có nghĩa vụ: (i) Giao tài sản cầm cố cho bên nhận cầm cố theo đúng thỏa thuận; (ii) Báo cho bên nhận cầm cố về quyền của người thứ ba đối với tài sản cầm cố, nếu có; trường hợp không thông báo thì bên nhận cầm cố có quyền hủy hợp đồng cầm cố tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại hoặc duy trì hợp đồng và chấp nhận quyền của người thứ ba đối với tài sản cầm cố và (iii) Thanh toán cho bên nhận cầm cố chi phí hợp lý để bảo quản tài sản cầm cố, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Về quyền của bên cầm cố, Điều 312 quy định bên cầm cố có quyền: (i) Yêu cầu bên nhận cầm cố chấm dứt việc sử dụng tài sản cầm cố trong trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 314 của Bộ luật này nếu do sử dụng mà tài sản cầm cố có nguy cơ bị mất giá trị hoặc giảm sút giá trị; (ii) Yêu cầu bên nhận cầm cố trả lại tài sản cầm cố và giấy tờ liên quan, nếu có khi nghĩa vụ được bảo đảm bằng cầm cố chấm dứt; (iii) Yêu cầu bên nhận cầm cố bồi thường thiệt hại xảy ra đối với tài sản cầm cố và (iv) Được bán, thay thế, trao đổi, tặng cho tài sản cầm cố nếu được bên nhận cầm cố đồng ý hoặc theo quy định của luật.

Về nghĩa vụ của bên nhận cầm cố, Điều 313 quy định bên nhận cầm cố có nghĩa vụ: (i) Bảo quản, giữ gìn tài sản cầm cố; nếu làm mất, thất lạc hoặc hư hỏng tài sản cầm cố thì phải bồi thường thiệt hại cho bên cầm cố; (ii) Không được bán, trao đổi, tặng cho, sử dụng tài sản cầm cố để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ khác; (iii) Không được cho thuê, cho mượn, khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản cầm cố, trừ trường hợp có thỏa thuận khác và (iv) Trả lại tài sản cầm cố và giấy tờ liên quan, nếu có khi nghĩa vụ được bảo đảm bằng cầm cố chấm dứt hoặc được thay thế bằng biện pháp bảo đảm khác.

Về quyền của bên nhận cầm cố, Điều 314 quy định bên nhận cầm cố có quyền: (i) Yêu cầu người đang chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật tài sản cầm cố trả lại tài sản đó; (ii) Xử lý tài sản cầm cố theo phương thức đã thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật; (iii) Được cho thuê, cho mượn, khai thác công dụng tài sản cầm cố và hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản cầm cố, nếu có thỏa thuận và (iv) Được thanh toán chi phí hợp lý bảo quản tài sản cầm cố khi trả lại tài sản cho bên cầm cố.

Về chấm dứt cầm cố tài sản

Theo quy định tại Điều 315 thì cầm cố tài sản chấm dứt khi có một trong căn cứ sau đây: (i) Nghĩa vụ được bảo đảm bằng cầm cố chấm dứt; (ii) Việc cầm cố tài sản được hủy bỏ hoặc được thay thế bằng biện pháp bảo đảm khác; (iii) Tài sản cầm cố đã được xử lý và (iv) Theo thỏa thuận của các bên

Về nội dung, quy định nêu trên kế thừa quy định tại Điều 339 Bộ luật Dân sự cũ

5. Điểm mới trong các quy định liên quan đến cầm cố tài sản

Điểm mới của Bộ luật Dân sự năm 2015 so với Bộ luật Dân sự năm 2010 là đã phân tách thời điểm có hiệu lực của hợp đồng cầm cố với thời điểm phát sinh hiệu lực đối kháng. Ngoài ra, Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng đã hoàn thiện cơ chế (phương thức) làm phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba của biện pháp bảo đảm. Cụ thể là,  ngoài cách thức đăng ký, lần đầu tiên Bộ luật Dân sự quy định một trong các phương thức làm phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba của biện pháp cầm cố là “nắm giữ” tài sản cầm cố. Việc bổ sung nắm giữ là phương thức làm phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba của biện pháp cầm cố, độc lập và bình đẳng với phương thức đăng ký là phù hợp và thống nhất với nguyên tắc bảo vệ “tình trạng hòa bình” của việc chiếm hữu thực tế mà Bộ luật Dân sự năm 2015 hướng đến. Theo đó, về nguyên tắc, ai (chủ thể nào) đang nắm giữ trực tiếp (chiếm hữu thực tế) tài sản thì được suy đoán là chủ thể có quyền đối với tài sản được nắm giữ (khoản 1, khoản 2 Điều 184 Bộ luật Dân sự năm 2015). Quan điểm này trong  quan hệ bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thể hiện ở việc (tình trạng) nắm giữ tài sản bảo đảm cũng được xem là căn cứ xác định biện pháp bảo đảm đã phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba, bình đẳng với phương thức đăng ký và bên nhận bảo đảm đang nắm giữ tài sản bảo đảm hoàn toàn bình đẳng với bên nhận bảo đảm trong biện pháp bảo đảm được đăng ký trong việc hưởng quyền và thực hiện nghĩa vụ, đặc biệt là quyền thanh toán theo thứ tự xác lập hiệu lực đối kháng với người thứ ba trong trường hợp một tài sản được dùng để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ (Điều 308 Bộ luật Dân sự năm 2015).

Qua so sánh, đối chiếu cho thấy, các quy định nêu trên của Bộ luật Dân sự năm 2015 về cơ bản vẫn giữ nguyên như các quy định có liên quan trong Bộ luật Dân sự cũ. Bên cạnh đó, Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng bổ sung, hoàn thiện một số từ ngữ để phù hợp với tính chất của quan hệ được điều chỉnh, cũng như mở rộng phạm vi quyền của các bên trong quan hệ cầm cố. Ví dụ như: Điều 312 Bộ luật Dân sự năm 2015 đã thay từ “đình chỉ” thành từ “chấm dứt” việc sử dụng (khoản 1); bổ sung quyền được “trao đổi, tặng cho” tài sản của bên cầm cố (khoản 4 Điều 312); bổ sung quyền được “ cho thuê, cho mượn” của bên nhận cầm cố (khoản 3 Điều 314).