- A. KHÁI QUÁT VỀ BIỆN PHÁP CẦM GIỮ TÀI SẢN
- 1. Khái niệm
- 2. Đặc điểm của biện pháp cầm giữ tài sản
- 3. Phân biệt biện pháp cầm giữ và biện pháp cầm cố
- B. Bình luận và nêu kiến nghị hoàn thiện pháp luật về cầm giữ tài sản trong BLDS năm 2015
- 1. Về ưu điểm trong quy định của pháp luật về cầm giữ tài sản trong BLDS năm 2015
- 2. Về hạn chế trong quy định của pháp luật về cầm giữ tài sản trong BLDS năm 2015
- 2.1. Đối tượng của cầm giữ tài sản
- 2.2. Mục đích của cầm giữ tài sản
- 2.3. Thời điểm xác lập cầm giữ tài sản
- 2.4. Về phạm vi của cầm giữ tài sản
- 2.5. Thời hạn cầm giữ tài sản:
- 2.6. Về thứ tự ưu tiên thanh toán:
- C. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ CẦM GIỮ TÀI SẢN
A. KHÁI QUÁT VỀ BIỆN PHÁP CẦM GIỮ TÀI SẢN
1. Khái niệm
Theo Điều 346 BLDS 2015 đưa ra khái niệm cầm giữ tài sản như sau: " Cầm giữ tài sản là việc bên có quyền (sau đây gọi là bên cầm giữ) đang nắm giữ hợp pháp tài sản là đối tượng của hợp đồng song vụ được chiếm giữ tài sản trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ."
2. Đặc điểm của biện pháp cầm giữ tài sản
Thứ nhất, đây là biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự duy nhất trong số các biện pháp bảo đảm thực hiện hiện nghĩa vụ được áp dụng mà không dựa trên sự thoả thuận giữa các bên. Pháp luật là cơ sở trực tiếp phát sinh quyền được cầm giữ tài sản, nếu như trước đó các bên không có thoả thuận áp dụng biện pháp này. Chính bởi nguyên nhân này, do đó, cầm giữ tài sản mới được bổ sung với ý nghĩa là một biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự, chứ không phải quy định nằm trong phần thực hiện hợp đồng. Thứ hai, cầm giữ tài sản phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba kể từ thời điểm bên cầm giữ chiếm giữ tài sản. Đây là một điểm mới, không chỉ đối với biện pháp cầm giữ tài sản, mà đối với các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ nói chung. Thứ ba, cầm giữ tài sản phát sinh từ thời điểm đến hạn thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng song vụ mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ của mình.
3. Phân biệt biện pháp cầm giữ và biện pháp cầm cố
Hai biện pháp này có điểm giống nhau là bên có quyền nắm giữ tài sản của bên có nghĩa vụ, để bên có nghĩa vụ bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của mình. Tuy nhiên, cần phân biệt với cầm cố ở: Cầm cố tài sản được các bên thoả thuận là biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ ngay từ thời điểm xác lập nghĩa vụ, còn cầm giữ tài sản không pải do sự thoả thuận của các bên, mà phát sinh theo quy định của pháp luật. Vì vậy, các bên thực hiện cầm cố tài sản trước hoặc ngay khi nghĩa vụ được thực hiện, cho đến thời điểm bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì tài sản cầm cố sẽ được đưa ra xử lý để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ; còn cấm giữ tài sản chỉ bắt đầu khi bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ và nó kết thúc trong các trường hợp đã được đề cập tại nội dung Chấm dứt cầm giữ tài sản.
Về tài sản cầm cố, cầm giữ: đối với cầm cố tài sản, bên cầm cố giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình hoặc sử dụng tài sản hình thành trong tương lai để bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ; còn cầm giữ tài sản được thực hiện với tài sản là đối tượng của hợp đồng song vụ, và tài sản này đang được bên có quyền thực tế nắm giữ, vì vậy, biện pháp cầm giữ tài sản không thể áp dụng đối với tài sản được hình thành trong tương lai. Bên nhận cầm cố tài sản có quyền xử lý tài sản cầm cố theo phương thức thoả thuận, không được hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản cầm cố nếu không được bên cầm cố đồng ý; bên cầm giữ tài sản không có quyền xử lý tài sản cầm giữ, được thu hoa lợi, lợi tức từ tài sản cầm giữ và được dung số hoa lợi, lợi tức này bù trừ nghĩa vụ.
B. Bình luận và nêu kiến nghị hoàn thiện pháp luật về cầm giữ tài sản trong BLDS năm 2015
1. Về ưu điểm trong quy định của pháp luật về cầm giữ tài sản trong BLDS năm 2015
Bộ luật dân sự năm 2015 có nhiều nội dung đổi mới, trong đó có phần nội dung về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, đã tiệm cận tốt hơn với thông lệ quốc tế và cơ bản giải quyết được những vướng mắc, khó khăn trong thực tiễn ký kết và thực hiện hợp đồng bảo đảm. Bên cạnh đó, đã bổ sung hai biện pháp bảo đảm là bảo lưu quyền sở hữu và cầm giữ tài sản so với BLDS năm 2005. Có thể nói, hai biện pháp bảo đảm này lần đầu tiên được quy định một cách minh thị trong BLDS năm 2015.
Trong BLDS năm 2015, cầm giữ được ghi nhận là một trong những biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, theo đó, “cầm giữ tài sản là việc bên có quyền (sau đây là bên cầm giữ) đang nắm giữ hợp pháp tài sản là đối tượng của hợp đồng song vụ được chiếm giữ tài sản trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ”.
Vậy, việc bổ sung biện pháp cầm giữ tài sản nhằm tạo hành lang pháp lý cho các bên tham gia vào giao dịch dân sự có nhiều phương án để lựa chọn biện pháp bảo đảm. Sự đổi mới này cũng nhằm bảo đảm được tính linh hoạt cho quá trình ký kết, tham gia, thực hiện hợp đồng dân sự của các chủ thể, góp phần thúc đẩy sự phát triển chung của nền kinh tế đất nước. Có thể nói, những tiếp cận mới của BLDS năm 2015 về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ có sự ảnh hưởng và tác động mang tính chất chi phối đến cơ chế điều chỉnh pháp luật và nhận thức pháp luật trong lĩnh vực giao dịch bảo đảm và đăng ký biện pháp bảo đảm. Với số lượng 05 điều luật (từ Điều 346 đến Điều 350 BLDS), thì những quy định cơ bản này chưa thể điều chỉnh toàn diện những tranh chấp phát sinh từ việc cầm giữ trong hợp đồng song vụ, còn nhiều vấn đề liên quan đến cầm giữ tài sản cần phải được dự liệu để bổ sung. Các sự kiện liên quan đến cầm giữ tài sản trong hợp đồng song vụ và biện pháp này là một biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ nói chung, không quy định riêng cho quan hệ dân sự. Những vấn đề bổ sung có thể cần chú ý tới những quy định về đối tượng cầm giữ, thứ tự của quyền nắm giữ, hiệu lực của quyền nắm giữ thật cụ thể hơn nữa… Cho dù vậy, những quy định về cầm giữ tài sản trong BLDS năm 2015, là căn cứ để các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng trong việc giải quyết những tranh chấp phát sinh từ biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ - cầm giữ tài sản.
2. Về hạn chế trong quy định của pháp luật về cầm giữ tài sản trong BLDS năm 2015
Để tạo được thế chủ động cho người có quyền trong các quan hệ nghĩa vụ được hưởng quyền dân sự, pháp luật cho phép các bên có thể thoả thuận đặt ra các biện pháp bảo đảm việc giao kết hợp đồng; cũng như việc thực hiện nghĩa vụ hoặc biện pháp bảo đảm phát sinh do hệ quả của pháp luật. Cầm giữ tài sản là biện pháp duy nhất phát sinh do hệ quả của pháp luật mà không theo thoả thuận của các bên. Thông qua biện pháp này, bên có quyền có quyền từ chối trả lại tài sản cho đến khi bên có nghĩa vụ thực hiện đầy đủ nghĩa vụ. Đây tưởng chừng là biện pháp hiệu quả mà các bên có quyền sử dụng nhằm tạo sức ép cho bên có nghĩa vụ nhưng trong một số trường hợp, bên có quyền lại rơi vào tình thế “mua dây buộc mình”. Để khắc phục những bất cập hiện tại, BLDS năm 2015 cần có những sửa đổi nhằm hoàn thiện các quy định về các vấn đề sau:
2.1. Đối tượng của cầm giữ tài sản
Theo quy định tại Điều 346 BLDS năm 2015, đối tượng cầm giữ tài sản là tài sản. Tuy nhiên, đối tượng của cầm giữ tài sản trong Bộ luật hàng hải Việt Nam năm 2015 và Luật Thương mại năm 2005 có thể là đối tượng của hợp đồng song vụ hoặc là bất kỳ tài sản nào có thể cầm giữ. Theo Luật Thương mại năm 2005, trong trường hợp các bên có quyền thoả thuận khác thì đối tượng của cầm giữ là tài sản hoặc tài liệu mà bên được địa diện giao cho bên đại diện. Pháp luật hiện hành quy định cầm giữ chỉ áp dụng đối với tài sản. Nói cách khác, đối với những hợp đồng song vụ có đối tượng là công việc phải thực hiện mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì không đặt ra việc cầm giữ tài sản. Quy định này đã hạn chế phần nào quyền của bên bị vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng song vụ có đối tượng là công việc phải thực hiện nhưng đối tượng của nghĩa vụ là tài sản.
Theo khái niệm cầm giữ tài sản quy định tại Điều 346 BLDS hiện hành thì cầm giữ tài sản áp dụng với đối tượng là tài sản và tài sản này là đối tượng của hợp đồng song vụ (tài sản là đối tượng của hợp đồng song vụ). Quy định này gây ra một số khó khăn, gây nhầm lẫn khi áp dụng. Bởi đối tượng của hợp đồng như dịch vụ vận chuyển, gia công hay sửa chữa là công việc phải thực hiện chứ không phải là tài sản. Tài sản trong các hợp đồng này là đối tượng của nghĩa vụ. Do đó, BLDS cần sửa đổi quy định “Tài sản là đối tượng của hợp đồng song vụ” thành “tài sản là đối tượng của nghĩa vụ trong hợp đồng song vụ”. Bởi về mặt lý thuyết thì đối tượng của nghĩa vụ và đối tượng của hợp đồng là hai khái niệm độc lập. Hai khái niệm này có thể trùng nhau như trong hợp đồng thuê, cho mượn tài sản nhưng đối với các hợp đồng dịch vụ thì đối tượng của nghĩa vụ và đối tượng của hợp đồng là khác nhau.
2.2. Mục đích của cầm giữ tài sản
Thứ nhất: Bên có quyền tạo sức ép để bên có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ
Dù BLDS quy định, bên có quyền cầm giữ tài sản nhằm yêu cầu bên có nghĩa vụ phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ nhưng mục đích này không có tính khả thi khi Bộ luật dân sự không quy định khi nào bên vi phạm nghĩa vụ buộc phải thực hiện nghĩa vụ hay tài sản cầm giữ sẽ bị xử lý như thế nào. Đây thực sự là một hạn chế trong quy định về biện pháp cầm giữ. Như vậy, để cầm giữ tài sản được thực thi hiệu quả, BLDS cần phải đưa ra các cơ chế nhằm bắt buộc bên có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ.
Thứ hai: Bên cầm giữ được quyền khai thác tài sản cầm giữ để thu hoa lợi, lợi tức nếu được bên có nghĩa vụ đồng ý. Giá trị của việc khai thác tài sản cầm giữ được bù trừ vào giá trị của bên có nghĩa vụ. Khác với cách tiếp cận của BLDS Việt Nam hiện hành, BLDS Nhật bản quy định người cầm giữ có thể thu hoa lợi tự nhiên từ vật cầm giữ thay cho việc thực hiện nghĩa vụ; đối với hoa lợi pháp lý, ví dụ, cho thuê tài sản cầm giữ thì việc cho thuê phải được người mắc nợ đồng ý, việc thực hiện nghĩa vụ bằng hoa lợi được tiến hành theo thứ tự, trước hết trừ hao tiền lãi sau đó trừ vào nghĩa vụ chính. Nhật Bản phân chia hoa lợi thành hoa lợi tự nhiên và hoa lợi pháp lý. Phụ thuộc vào bản chất của từng loại hoa lợi mà pháp luật yêu cầu bên cầm giữ phải được sự đồng ý hoặc không cần được sự đồng ý của bên có nghĩa vụ để được khai thác hoa lợi. Giá trị từ việc khai thác hoa lợi cũng được dùng để bù trừ vào giá trị nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ. Cách tiếp cận trên của Nhật Bản đã tạo điều kiện thuận lợi cho bên cầm giữ trong việc bảo vệ quyền lợi của mình, hạn chế rủi ro khi bên có nghĩa vụ không cho phép họ khai thác tài sản để hưởng hoa lợi, lợi tức mà cũng không cam kết thời hạn thực hiện nghĩa vụ. BLDS Việt Nam năm 2015 cũng quy định bên cầm giữ được quyền khai thác tài sản cầm giữ để thu hoa lợi, lợi tức nếu được bên có nghĩa vụ đồng ý. Giá trị của việc khai thác tài sản cầm giữ được bù trừ vào giá trị nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ. Tuy nhiên, trên thực tế, không phải loại tài sản nào cũng phát sinh hoa lợi lợi tức trong thời gian cầm giữ hay không phải bên có nghĩa vụ nào cũng đồng ý để bên cầm giữ được khai thác tài sản cầm giữ. Hay nói cách khác, mục đích này không phải được thực hiện trong mọi trường hợp.
2.3. Thời điểm xác lập cầm giữ tài sản
Theo quy định tại Điều 347 BLDS năm 2015 thì căn cứ xác lập cầm giữ tài sản là bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ khi đến hạn đã thoả thuận. Pháp luật cho phép bên có quyền được cầm giữ tài sản của bên vi phạm nghĩa vụ mà không cần xem xét đến việc nghĩa vụ không được thực hiện hoặc thực hiện không đúng là do nguyên nhân chủ quan hay khách quan. Vấn đề đặt ra là nghĩa vụ đã thoả thuận không được thực hiện hoặc thực hiện không đúng là do sự kiện bất khả kháng hoặc do nguyên nhân khách quan khác thì sẽ xử lý như thế nào? Liệu rằng, việc bên có quyền áp dụng biện pháp này có phù hợp với thực tiễn và pháp luật?
Theo Khoản 2 Điều 351 BLDS năm 2015, trường hợp hai bên không có thoả thuận, khi bên vi phạm nghĩa vụ chứng minh được nghĩa vụ đã thoả thuận không được thực hiện hoặc thực hiện không đúng là do sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép thì không phải chịu trách nhiệm dân sự.
Như vậy, BLDS trao quyền cho bên có quyền quyền được cầm giữ tài sản của bên vi phạm nghĩa vụ trong mọi trường hợp mà không loại trừ yếu tố sự kiện bất khả kháng là không phù hợp. Do đó, cần có văn bản hướng dẫn quy định rõ nội dung của vấn đề này.
2.4. Về phạm vi của cầm giữ tài sản
Cầm giữ theo quy định của pháp luật hiện hành chỉ giới hạn trong phạm vi hợp đồng song vụ. Tuy nhiên, hiện nay, có rất nhiều trường hợp cầm giữ tài sản đối với “quan hệ song vụ” chứ không phải chỉ là “hợp đồng song vụ” nhưng chúng ta chưa có quy định nào điều chỉnh về vấn đề này.
Hay trong trường hợp gia cầm của một người bị thất lạc mà người khác bắt được thì khi nhận lại gia cầm, chủ sở hữu phải thanh toán tiền công nuôi giữ và chi phí khác cho người bắt được gia cầm. Vấn đề đặt ra là nếu người có gia cầm bị thất lạc không thực hiện nghĩa vụ thanh toán các khoản tiền trên thì bên bắt được có được quyền cầm giữ gia cầm hay không? Nếu đối chiếu theo Điều 346 BLDS năm 2015 thì không thể áp dụng được bởi giữa họ không tồn tại hợp đồng song vụ mà chỉ tồn tại quan hệ song vụ.
Đây là những trường hợp xảy ra rất nhiều trên thực tế mà nếu được áp dụng biện pháp cầm giữ tài sản thì quyền của bên bị vi phạm nghĩa vụ sẽ được bảo vệ hiệu quả hơn. Như vậy, BLDS cần có những văn bản hướng dẫn nhằm mở rộng phạm vi áp dụng cầm giữ tài sản cho quan hệ song vụ.
2.5. Thời hạn cầm giữ tài sản:
BLDS hiện hành không quy định cụ thể về thời hạn cầm giữ tài sản như hiện nay sẽ gây khó khăn cho các chủ thể khi áp dụng biện pháp này trên thực tế. Việc không đặt ra thời hạn cầm giữ sẽ gây khó khăn, bất lợi cho bên có quyền bởi không biết sẽ phải cầm giữ trong bao lâu thì bên vi phạm nghĩa vụ mới hoàn thành nghĩa vụ. Thời hạn cầm giữ có tầm quan trọng đặc biệt đối với trường hợp tài sản cầm giữ cần phải được bảo quản trong điều kiện đặc biệt (điều kiện về máy móc hỗ trợ, kho bãi…). Thông thường, chi phí bảo quản tài sản do bên cầm giữ thanh toán trước, sau đó yêu cầu bên có nghĩa vụ thanh toán lại cho mình. Việc không quy định thời hạn cầm giữ gây khó khăn cho bên cầm giữ khi bên có nghĩa vụ không tự giác thanh toán nghĩa vụ chính; mặt khác, bên có nghĩa vụ bị vi phạm lại phải gánh chịu chi phí bảo quản cho chính tài sản bảo đảm.
2.6. Về thứ tự ưu tiên thanh toán:
Quy định hiện hành về thứ tự ưu tiên thanh toán ảnh hưởng rất nhiều đối với bên cầm giữ. Trong quá trình nhận và xử lý tài sản bảo đảm, xuất hiện một số trường hợp tài sản bảo đảm bị người khác cầm giữ. Vấn đề bất lợi cho bên cầm giữ là giá trị của tài sản sau khi được xử lý chỉ đủ để thanh toán khoản nợ cho bên bảo đảm khác thì họ sẽ phải sử dụng biện pháp bảo đảm khác để yêu cầu bên có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ của mình. Do đó, phải đặt ra vấn đề thanh toán và ưu tiên thanh toán như thế nào cho người cầm giữ tài sản, đặc biệt là trong trường hợp, bên cầm giữ không được hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản mà còn phải gánh chịu một khoản chi phí để bảo quản, giữ gìn tài sản cầm giữ. Hiện nay, pháp luật cũng chưa có quy định cụ thể về thứ tự ưu tiên thanh toán trong trường hợp tài sản bị cầm giữ không thuộc sở hữu của bên vi phạm nghĩa vụ mà thuộc sở hữu của người thứ ba. Hoa lợi phát sinh từ tài sản cầm giữ sẽ trả lại cho chủ sở hữu hay sẽ dùng để bù trừ nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ trực tiếp? Để xác định cơ chế bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên cầm giữ cũng như của chủ thể khác trong trường hợp tài sản bị cầm giữ khôgn thuộc sở hữu của bên vi phạm, BLDS cần bổ sung các quy định về thứ tự ưu tiên thanh toán điều chỉnh mối quan hệ phổ biến này.
C. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ CẦM GIỮ TÀI SẢN
Quy định của pháp luật hiện hành đã hạn chế các quan hệ được áp dụng của biện pháp này. Do đó, để tạo điều kiện thuận lợi cho các bên tham gia giao dịch dân sự, cần ban hành văn bản hướng dẫn quy định về vấn đề đối tượng của cầm giữ không chỉ là tài sản – đối tượng trong hợp đồng song vụ mà cả những tài sản có thể cầm giữ được của bên bị vi phạm. Ngoài ra, để ngăn chặn rủi ro trong trường hợp nếu khách hàng và bên cầm giữ tài sản cấu kết với nhau để nâng khống chi phí sửa chữa tài sản thế chấp nhằm buộc ngân hàng phải bỏ ra số tiền nhiều hơn mới có thể nhận được tài sản bảo đảm để xử lý. Sắp tới, khi Chính phủ ban hành nghị định hướng dẫn nội dung về giao dịch bảo đảm của BLDS, cần phải có các quy định để phòng ngừa các rủi ro nêu trên. Thiết nghĩ, nghị định cần theo hướng xác định rõ những loại tài sản nào thì bên cầm giữ được quyền cầm giữ cũng như các nguyên tắc để xác định được sự hợp lý của chi phí (nghĩa vụ) mà chủ tài sản và bên cầm giữ thỏa thuận trong hợp đồng song vụ để ngăn ngừa khả năng cấu kết nâng khống nghĩa vụ thanh toán giữa bên bảo đảm và bên cầm giữ tài sản hòng trục lợi hoặc gây khó khăn cho ngân hàng trong việc nhận lại tài sản bảo đảm để xử lý thu hồi nợ.
BLDS Việt Nam năm 2015 quy định bên cầm giữ được quyền khai thác tài sản cầm giữ để thu hoa lợi, lợi tức nếu được bên có nghĩa vụ đồng ý. Tuy nhiên, trên thực tế, không phải loại tài sản nào cũng phát sinh hoa lợi lợi tức trong thời gian cầm giữ hay không phải bên có nghĩa vụ nào cũng đồng ý để bên cầm giữ được khai thác tài sản cầm giữ. Hay nói cách khác, mục đích này không phải được thực hiện trong mọi trường hợp. Như vậy, để cầm giữ tài sản được thực thi hiệu quả thì BLDS cần sửa đổi, bổ sung các quy định về cơ chế xử lý tài sản cầm giữ, thời hạn cầm giữ tài sản và để làm rõ mục đích áp dụng biện pháp này. BLDS trao quyền cho bên có quyền quyền được cầm giữ tài sản của bên vi phạm nghĩa vụ trong mọi trường hợp mà không loại trừ yếu tố sự kiện bất khả kháng là không phù hợp. Do đó, cần có văn bản hướng dẫn quy định rõ nội dung của vấn đề này, bổ sung quy định về thời hạn để biện pháp này được thực thi hiệu quả trên thực tế. Để thông qua cầm giữ tài sản, bên có quyền có thể chủ động tiến hành các hành vi của mình tác động trực tiếp đến tài sản của phía bên kia nhằm thoả mãn quyền lợi của mình, khi đến thời hạn mà bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đó.
BLDS năm 2015 cần bổ sung quy định về thời hạn cầm giữ nhằm nâng cao trách nhiệm của bên có nghĩa vụ đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên có quyền, góp phần khiến cho việc bảo đảm này được thực thi hiệu quả trên thực tế.
Cần quy định rõ căn cứ chấm dứt cầm giữ tài sản trong trường hợp có sự thỏa thuận giữa các bên. Trong thực tế, việc chấm dứt cầm giữ tài sản có thể được các chủ nợ khác và bên có quyền thỏa thuận. Đây là một tình huống thường gặp và thông thường, cách thức mà các bên áp dụng để giải quyết phụ thuộc vào mức độ chênh lệch giữa giá trị của tài sản cầm giữ so với giá trị của nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng song vụ: Một, nếu nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng song vụ có giá trị thấp hơn giá trị của tài sản bị cầm giữ, thông thường các chủ nợ khác sẽ cùng nhau thanh toán khoản nợ cho người cầm giữ tài sản để có thể kê biên tài sản và bán để thu hồi nợ. Hai, nếu giá trị của tài sản bị cầm giữ thấp hơn giá trị của nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng song vụ, thì hiệu quả của việc cầm giữ hạn chế hơn rất nhiều so với trường hợp nêu trên vì lúc này bên cầm giữ tài sản buộc phải tiếp tục giữ tài sản mà không được bán tài sản đó vì nếu bán tài sản thì bên cầm giữ tài sản sẽ có chung số phận như các chủ nợ không có bảo đảm khác. Trong trường hợp này, người cầm giữ tài sản có thể thỏa thuận với các chủ nợ khác để được trả một phần khoản nợ của mình trước khi trao tài sản cho các chủ nợ này.
BLDS cần bổ sung quy định để tạo điều kiện cho bên có quyền thực thi tốt nhất quyền năng của mình trên thực tế. Trong trường hợp bên vi phạm nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ của mình thì bên cầm giữ có quyền xử lý tài sản bảo đảm một cách nhanh nhất, ít tốn kém nhất nhưng vẫn bảo đảm khách quan, trung thực. Mặt khác, BLDS năm 2015 cần quy định phương thức xử lý tài sản cầm giữ để loại trừ việc bên cầm giữ sẽ tuỳ tiện trong việc xử lý tài sản.
Hiện nay, pháp luật cũng chưa có quy định cụ thể về thứ tự ưu tiên thanh toán trong trường hợp tài sản bị cầm giữ không thuộc sở hữu của bên vi phạm nghĩa vụ mà thuộc sở hữu của người thứ ba. Hoa lợi phát sinh từ tài sản cầm giữ sẽ trả lại cho chủ sở hữu hay sẽ dùng để bù trừ nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ trực tiếp? Do đó, để xác định cơ chế bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên cầm giữ cũng như của chủ thể khác trong trường hợp tài sản bị cầm giữ không thuộc sở hữu của bên vi phạm, BLDS cần bổ sung các quy định về thứ tự ưu tiên thanh toán điều chỉnh mối quan hệ phổ biến này. Việc giới hạn các căn cứ chấm dứt việc cầm giữ tài sản ở thỏa thuận giữa bên cầm giữ và bên có nghĩa vụ vô tình loại trừ sự thỏa thuận giữa bên cầm giữ tài sản và các bên có quyền yêu cầu khác, vốn rất phổ biến trong thực tế và là cơ chế hiệu quả để bảo vệ quyền lợi của bên cầm giữ tài sản. Nhà lập pháp cũng có thể nghiên cứu quy định thêm quyền cầm giữ phát sinh trên cơ sở thỏa thuận như cách tiếp cận của pháp luật Anh để đa dạng hóa cơ chế pháp lý này.