1.Điều kiện thu giữ tài sản đảm bảo 

Tổ chức tín dụng (TCTD), chi nhánh ngân hàng nước ngoài, VAMC được thu giữ tài sản bảo đảm khi có đầy đủ 05 điều kiện sau:

Thứ nhất, khi xảy ra một trong các trường hợp xử lý tài sản bảo đảm theo quy định tại Điều 299 Bộ luật dân sự, cụ thể: Đến hạn thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ; Bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm trước thời hạn do vi phạm nghĩa vụ theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật; và Trường hợp khác theo thỏa thuận hoặc luật có quy định.

Thứ hai, tại hợp đồng bảo đảm có thỏa thuận về việc bên bảo đảm đồng ý cho TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài có quyền thu giữ tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu khi xảy ra trường hợp xử lý tài sản bảo đảm nêu trên.

Thứ ba, giao dịch bảo đảm hoặc biện pháp bảo đảm đã được đăng ký theo đúng quy định của pháp luật (quyền của bên nhận bảo đảm đã phát sinh hiệu lực đối kháng với bên thứ 3).

Thứ tư, tài sản bảo đảm không phải là tài sản tranh chấp trong vụ án đã được thụ lý tại Tòa án có thẩm quyền (có thể chưa giải quyết hoặc đang được giải quyết); không đang bị Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; không đang bị kê biên hoặc áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án theo quy định của pháp luật.

Thứ năm, TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, VAMC đã hoàn thành nghĩa vụ công khai thông tin theo quy định tại Nghị quyết này.

2. Quy định chung về thu giữ tài sản đảm bảo 

Thu giữ tài sản bảo đảm là một trong những việc quan trọng trong quá trình xử lý tài sản bảo đảm. Muốn phát mại hay nhận gán nợ bằng tài sản thế chấp, nhất là bất động sản, thì bên nhận thế chấp phải nắm giữ được tài sản.

Hai Bộ luật Dân sự năm 1995 và năm 2005 cũng như Nghị định số 165/1999/NĐ-CP và Nghị định số 178/1999/NĐ-CP trước đây đều quy định theo hướng, bên giữ tài sản có nghĩa vụ giao tài sản cho bên nhận bảo đảm để xử lý,  nhưng không quy định về quyền thu giữ tài sản bảo đảm của bên nhận bảo đảm. Do không có công cụ pháp lý hữu hiệu để bảo vệ chủ nợ có bảo đảm trong trưồng hợp con nợ (hay còn gọi là khách nợ) không hợp tác trong việc xử lý nợ, xử lý tài sản bảo đảm, nên đã gây ra rất nhiều khó khăn, cản trỏ cho các chủ nợ nói chung, các tổ chức tín dụng nói riêng.

Nghị định số 163/2006/NĐ-CP đã từng quy định, bên giữ tài sản bảo đảm phải giao tài sản đó cho người xử lý tài sản theo thông báo của người này; nếu hết thời hạn ấn định trong thông báo mà bên giữ tài sản bảo đảm không giao tài sản thì người xử lý tài sản có quyền thu giữ tài sản bảo đảm để xử lý hoặc yêu cầu Toà án giải quyết. Theo đó, bên nhận bảo đảm có quyền bắt buộc, gây sức ép đối với bên đang giữ phải giao tài sản, đồng thời có quyền đề nghị UBND xã, phường, thị trấn và cơ quan Công an nơi tiến hành thu giữ tài sản bảo đảm hỗ trợ “để giữ gìn an ninh, trật tự, bảo đảm cho người xử lý tài sản thực hiện quyền thu giữ tài sản bảo đảm” trong việc thu giữ tài sản bảo đảm. 

Tuy nhiên, quy định quyền thu giữ tài sản thế chấp trong các nghị định và thông tư lại có phần nào mâu thuẫn với quyền sở hữu hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ cũng như quyền bất khả xâm phạm về chỗ ỏ của công dân chỉ có thể bị hạn chế bằng pháp luật.

Trên thực tế việc thu giữ tài sản gần như chỉ thực hiện được khi chủ sở hữu và người đang giữ tài sản tự nguyện bàn giao hoặc không phản đối việc thu giữ tài sản của bên nhận thế chấp. Còn trường hợp chủ sở hữu không tự nguyện hay không đồng ý thì về cơ bản, bên nhận thế chấp cũng không thực hiện được quyền thu giữ tài sản bảo đảm theo quy định của pháp luật.

Bộ luật Dân sự năm 2015 vẫn quy định bên nhận thế chấp có quyền “yêu cầu bên thế chấp hoặc người thứ ba giữ tài sản thế chấp giao tài sản đó cho mình để xử lý khi bên thế chấp không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ” và “người đang giữ tài sản bảo đảm có nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm cho bên nhận bảo đảm để xử lý” theo quy định. Nhưng nếu như “ngưòi đang giữ tài sản không giao tài sản thì bên nhận bảo đảm có quyền yêu cầu Toà án giải quyết, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác”. Tức là bên nhận bảo đảm không còn quyền thu giữ tài sản bảo đảm như quy định trước đây.

Trên thực tế từ trước đến nay tại Việt Nam, việc xử lý tài sản thế chấp đang thuộc quyền quản lý, sử dụng và định đoạt của chính bên thế chấp cũng đã vô cùng gian nan, khó khăn, thậm chí nhiều khi rơi vào bế tắc. Trường hợp tài sản thế chấp bị chuyển quyền sỗ hữu hoặc chuyển giao cho người khác (có thể thông qua giao dịch hợp pháp hoặc bất hợp pháp), thì việc xử lý còn gặp vướng mắc gấp bội. Do đó, nếu như chưa có quy định cho phép chủ nợ được “xiết nợ” tài sản thế chấp, thì cũng chưa thể cho phép chủ sở hữu được tự do chuyển quyền sở hữu tài sản thế chấp (đặc biệt là bất động sản) mà không cần có sự đồng ý của chủ nợ. Vì như vậy, pháp luật đã tạo cơ hội cho việc vi phạm, bội ước; bảo vệ hành vi gian lận, lừa đảo; đồng thời “trói chân, trói tay”, thậm chí chặn đứng khả năng xử lý tài sản thế chấp của chủ nợ và vô hiệu hoá quyền ưu tiên của chủ nợ có bảo đảm trên thực tế.

3. Công khai thông tin trước khi thu giữ tài sản bảo đảm

* Đối với tài sản bảo đảm là bất động sản:

- Thời điểm công khai: Chậm nhất là 15 ngày trước ngày tiến hành thu giữ.

- Nội dung thông tin được công khai: thời gian, địa điểm thu giữ tài sản bảo đảm, tài sản bảo đảm được thu giữ, lý do thu giữ.

- Hình thức công khai: phải thực hiện đầy đủ các hình thức sau:

+ Đăng tải thông tin trên trang thông tin điện tử của mình;

+ Gửi văn bản thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã và cơ quan Công an nơi có tài sản bảo đảm;

+ Niêm yết văn bản thông báo tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã nơi bên bảo đảm đăng ký địa chỉ theo hợp đồng bảo đảm và trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có tài sản bảo đảm;

+ Thông báo cho bên bảo đảm bằng văn bản theo đường bưu điện có bảo đảm đến địa chỉ của bên bảo đảm theo hợp đồng bảo đảm hoặc gửi trực tiếp cho bên bảo đảm.

* Đối với tài sản bảo đảm là động sản:

- Thời điểm công khai: Trước khi tiến hành thu giữ.

- Nội dung thông tin được công khai: về việc thực hiện quyền thu giữ tài sản bảo đảm, không bắt buộc phải xác định trước thời gian, địa điểm thu giữ.

- Hình thức công khai: phải thực hiện đầy đủ các hình thức sau:

+ Đăng tải thông tin trên trang thông tin điện tử của mình;

+ Thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi bên bảo đảm đăng ký địa chỉ theo hợp đồng bảo đảm;

+ Thông báo cho bên bảo đảm bằng văn bản theo đường bưu điện có bảo đảm đến địa chỉ của bên bảo đảm theo hợp đồng bảo đảm hoặc gửi trực tiếp cho bên bảo đảm.

Đối với tài sản bảo đảm là động sản, mặc dù Nghị quyết không quy định trách nhiệm thông báo cho cơ quan Công an trước khi thu giữ nhưng trong trường hợp cần thiết, TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, VAMC có thể đề nghị cơ quan Công an nơi tiến hành thu giữ tài sản bảo đảm thực hiện việc bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội trong quá trình thu giữ tài sản theo quy định tại khoản 5 Điều 7 của Nghị quyết.

4. Bên bảo đảm được nhân lại tài sản bảo đảm trong trường hợp sau đây

Hoàn thành nghĩa vụ quy định tại Điều 302 của Bộ luật Dân sự;

Tài sản bảo đảm đã được thay thế, được trao đổi bằng tài sản khác;

Nghĩa vụ được bảo đảm đã được thanh toán bằng phương thức bù trừ nghĩa vụ;

Trường hợp khác theo thỏa thuận hoặc do Bộ luật Dân sự, luật khác liên quan quy định tài sản bảo đảm không bị xử lý. Trường hợp mà pháp luật về đấu giá tài sản, pháp luật khác liên quan có quy định về nghĩa vụ phải thực hiện trước khi được nhận lại tài sản bảo đảm thì bên bảo đảm chỉ được nhận lại tài sản sau khi nghĩa vụ này được hoàn thành.

Pháp luật quy định về quyền, nghĩa vụ của bên nhận bảo đảm trong thời gian tài sản bảo đảm chưa bị xử lý như sau:

Thứ nhất, bên nhận bảo đảm có trách nhiệm bảo quản, giữ gìn tài sản bảo đảm trong trường hợp giữ tài sản bảo đảm để xử lý;

Thứ hai, trong thời gian chờ xử lý tài sản bảo đảm, bên nhận bảo đảm được khai thác, sử dụng tài sản bảo đảm hoặc cho phép bên bảo đảm hoặc ủy quyền cho người thứ ba khai thác, sử dụng tài sản bảo đảm theo đúng tính năng và công dụng của tài sản. Việc cho phép, ủy quyền hoặc xử lý hoa lợi, lợi tức phát sinh từ việc khai thác, sử dụng tài sản bảo đảm phải được lập thành văn bản;

Thứ ba, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ việc khai thác, sử dụng tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán nghĩa vụ được bảo đảm cho bên nhận bảo đảm sau khi trừ các chi phí cần thiết cho việc khai thác, sử dụng tài sản.

5. Về chủ thể thu giữ, gồm

 TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, VAMC;

- Công ty quản lý nợ và khai thác tài sản thuộc TCTD nhận bảo đảm khi được TCTD đó ủy quyền;

- TCTD bán nợ hoặc công ty quản lý nợ và khai thác tài sản thuộc TCTD bán nợ khi được VAMC đã mua nợ của TCTD đó ủy quyền.

Về nguyên tắc, TCTD phải trực tiếp thực hiện quyền thu giữ tài sản bảo đảm. TCTD chỉ được ủy quyền thực hiện việc thu giữ tài sản bảo đảm cho công ty quản lý nợ và khai thác tài sản thuộc TCTD đó; VAMC chỉ được ủy quyền thu giữ tài sản bảo đảm cho TCTD bán nợ, công ty quản lý nợ và khai thác tài sản thuộc TCTD bán nợ.

(MKLAW FIRM: Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ có giá trị tham khảo và có thể một số thông tin pháp lý đã hết hiệu lực tại thời điểm hiện tại vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)