Không phân biệt đối xử giữa các con được Pháp luật Việt Nam về lĩnh vực hôn nhân và gia đình ghi nhận là một trong các nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình.

1.Cơ sở pháp lý của nguyên tắc

Pháp luật Việt Nam về lĩnh vực hôn nhân và gia đình được quy định chi tiết, cụ thể trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Theo đó, nhà làm luật đưa ra năm nguyên tắc cơ bản ngay tại chương đầu tiên – Chương I: Những quy định chung. Xuất phát từ tinh thần được quy định trong Hiến pháp năm 2013:

Nhà nước và xã hội không thừa nhận việc phân biệt đối xử giữa các con.

Trong số các nguyên tắc, nhà làm luật đã không quên ghi nhận một vấn đề quan trọng trong việc xây dựng gia đình hạnh phúc, bền lâu, đó là “không phân biệt đối xử giữa các con” (Khoản 3, Điều 2 Luật HN và GĐ năm 2014).

2.Nội dung cơ bản của nguyên tắc

Không phân biệt đối xử được hiểu là đối xử một cách công bằng, bình đẳng và như nhau đối với các chủ thể khác nhau. Nguyên tắc không phân biệt đối xử giữa các con hay có thể gọi là nguyên tắc bình đẳng giữa các con, tức là, trong quá trình nuôi nấng, dạy dỗ, chăm sóc con cái, cha mẹ phải lựa chọn cách đối xử sao cho thật công bằng giữa các con của mình, với con nuôi cũng như con đẻ, con gái cũng như con trai, con riêng cũng như con chung, con ngoài dã thú cũng như con trong dã thú, con ra đời tự nhiên cũng như con ra đời nhờ kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, con chưa thành niên cũng như con đã thành niên hoặc con đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự,…Đồng thời, không được phân biệt đối xử giữa các con dù cha mẹ đã ly hôn và không trực tiếp nuôi dạy con.

3.Ý nghĩa của nguyên tắc

Không chỉ riêng lĩnh vực hôn nhân và gia đình, các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội cũng đòi hỏi sự công bằng, không phân biệt đối xử trong mọi mối quan hệ, chẳng hạn trong lĩnh vực lao động, ngoại giao, y tế, giáo dục,.v.v. Khi một người ý thức được việc mình đang bị phân biệt đối xử, người đó sẽ nảy sinh tâm lý phản kháng, đòi hỏi được đối xử bình đẳng, đồng thời có cảm giác ức chế và suy nghĩ tiêu cực về bản thân cũng như về phía người đã phân biệt đối xử với mình. Cùng rất nhiều hệ quả xấu khác về mặt tâm lý và hành vi sau này của người đó. Tương tự với việc cha mẹ phân biệt đối xử giữa các con trong gia đình. Đứa trẻ dù ở độ tuổi nào, có thể phải hứng chịu những tổn thương tâm lý nhất định, ảnh hưởng đến quá trình phát triển nhân cách của trẻ và lối sống sau này khi đã trưởng thành. Chính vì vậy, việc đặt ra nguyên tắc “không phân biệt đối xử giữa các con” có ý nghĩa quan trọng trong việc đảm bảo cho trẻ em lớn lên hoàn thiện và phát triển một cách toàn diện cả về trí tuệ lẫn nhân cách.

4. Biểu hiện của nguyên tắc Không phân biệt đối xử giữa các con qua chế định xác định cha, mẹ, con

Việc xác định cha, mẹ, con là một vấn đề phức tạp và nhạy cảm song lại rất cần thiết, việc xác định đó không chỉ có ý nghĩa đối với cá nhân từng chủ thể mà còn mang ý nghĩa pháp luật và xã hội sâu sắc. Theo từ điển Luật học, khái niệm xác định cha, mẹ được hiểu là: “Định rõ một người là cha hoặc một người là mẹ cho con trên cơ sở các quy định của pháp luật”, ngoài ra còn khái niệm xác định con cho cha, mẹ là: “Định rõ một người là con của cha hoặc của mẹ trên cơ sở quy định của pháp luật”. Như vậy, mối quan hệ giữa cha, mẹ và con là mối quan hệ hai chiều và không thể tách rời, xác định cha, mẹ cho con cũng chính là xác định con cho cha, mẹ.

Quyền làm cha, làm mẹ và quyền làm con là vô cùng thiêng liêng và quan trọng, vì vậy việc xác định cha, mẹ, con nhằm xác định thân phận của các chủ thể, góp phần ổn định các mối quan hệ trong gia đình nói riêng và các mối quan hệ ngoài xã hội nói chung. Việc xác định cha, mẹ, con sẽ đảm bảo cho trẻ em một mái ấm gia đình thực sự, được chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục một cách tốt nhất, được đảm bảo cả về mặt vật chất lẫn tinh thần giúp trẻ phát triển toàn diện cả về thể lực và trí lực.

Đồng thời, việc xác định cha, mẹ, con một cách chính xác cũng là cơ sở cho việc tuân thủ Hiến pháp “Nhà nước không thừa nhận sự phân biệt đối xử giữa các con” (Điều 64), góp phần xóa bỏ những tư tưởng lạc hậu, xóa bỏ sự kì thị, phân biệt đối với những trẻ em được sinh ra ngoài cuộc hôn nhân, đảm bảo cho mọi đứa trẻ sinh ra đều bình đẳng với nhau dù đứa trẻ đó ra đời từ cuộc hôn nhân hợp pháp hay không hợp pháp.

Theo đó, nguyên tắc “không phân biệt đối xử giữa các con” thông qua các chế định xác định cha, mẹ, con thể hiện ở những vấn đề sau:

a, Xác đinh cha, mẹ

Điều 88 Luật HN và GĐ năm 2014 quy định:

1. Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng.

Con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân.

Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là con chung của vợ chồng.

2.Trong trường hợp cha, mẹ không thừa nhận con thì phải có chứng cứ và phải được Tòa án xác định.

Điều luật trên có một số điểm đáng lưu ý, đó là những điểm tiến bộ quan trọng của pháp luật về lĩnh vực hôn nhân và gia đình Việt Nam so với pháp luật thời kỳ phong kiến, cụ thể:

Thứ nhất, để đảm bảo những đứa trẻ sinh ra sau thời kỳ hôn nhân được nhận cha, mẹ, nhà làm luật quy định một khoảng thời gian hợp lý là 300 ngày kể từ ngày chấm dứt hôn nhân, con được sinh ra trong khoảng thời gian ấy vẫn được xem là con chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Quy định này góp phần giảm thiểu tình trạng, người cha rũ bỏ trách nhiệm đối với con sinh ra sau thời kỳ hôn nhân.

Thứ hai, con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn, tức trước khi quan hệ hôn nhân được pháp luật công nhận mà được cha mẹ thừa nhận thì đứa trẻ vẫn được xác định là con chung của vợ chồng.

Sở dĩ, nhà làm luật quy định như trên nhằm tránh sự phân biệt đối xử giữa con sinh ra trước, trong và sau thời kỳ hôn nhân. Nhiều trường hợp, cha, mẹ vì một lý do nào đó, chẳng hạn: không muốn có con gái (tư tưởng trọng nam kinh nữ); sợ bị xã hội chê cười, dèm pha khi chưa có chồng đã có con; sợ bị ràng buộc quan hệ vợ chồng bởi sự tồn tại của đứa con chung,.v.v. nên nảy sinh ý định không muốn thừa nhận đứa con đó. Pháp luật bảo vệ những đứa trẻ trong các trường hợp này bằng cách quy định: cha, mẹ không thừa nhận con phải đưa ra chứng cứ xác thực chứng minh đứa trẻ sinh ra không phải con ruột của mình và phải được Tòa án có thẩm quyền công nhận.

Khi chứng minh, người chồng có quyền đưa ra bất kỳ chứng cứ nào chứng tỏ đứa trẻ đó không phải là con của mình (như trường hợp người chồng mắc bệnh vô sinh, bị bất lực hoàn toàn về sinh lý, không có khả năng có con; hoặc người chồng thực sự đi công tác xa vắng và không thể có quan hệ vợ chồng vào thời kỳ người vợ có khả năng thụ thai đứa con đó; hoặc có thể trưng cầu giám định về gen;…). Tuy nhiên, nếu người chồng chỉ vì nghi ngờ mà không chứng minh được thì Tòa án vẫn buộc họ phải nhận con do người vợ sinh ra là con chung của hai vợ chồng.

Trường hợp người mẹ không thừa nhận đứa trẻ là con mình thì cũng buộc phải cung cấp chứng cứ để chứng minh. Vì trên thực tế có nhiều trường hợp do vô ý hoặc cố ý dẫn đến việc nhiều đứa trẻ bị lẫn lộn hoặc bị đánh tráo…

b, Quyền nhận cha, mẹ

Để đảm bảo cho đứa trẻ được hưởng các quyền lợi chính đáng từ cha mẹ như quyền được chăm sóc, nuôi nấng, dạy dỗ, yêu thương, được hưởng các lợi ích vật chất như thừa kế tài sản sau khi cha mẹ qua đời, pháp luật quy định cho “con có quyền nhận cha, mẹ của mình, kể cả trong trường hợp cha, mẹ đã chết” (khoản 1 Điều 90 Luật HN và GĐ). Một thực tế xã hội khá phổ biến đã và đang tồn tại, đó là việc người chồng hoặc người vợ đang có quan hệ hôn nhân nhưng lại có quan hệ với người thứ ba dẫn đến sự ra đời của những đứa con ngoài giá thú. Vì nhiều lý do khác nhau mà từ chối vai trò và trách nhiệm của mình đối với đứa trẻ được sinh ra. Nguyên nhân xuất phát từ tâm lý lo sợ hạnh phúc gia đình tan vỡ, sợ tổn hại danh dự, người đời cười chê,…. Bên cạnh đó, một số lý do khác như: đứa trẻ sinh ra bị bắt cóc, bị đánh tráo, cha, mẹ mất tích,.v.v. cũng góp phần làm cho việc xác nhận cha, mẹ, con trở thành một vấn đề cần được giải quyết.

Trong trường hợp này, pháp luật đã thể hiện tính nhân đạo, bảo vệ quyền lợi chính đáng của những đứa trẻ đó thông qua quy định cho phép chúng có quyền nhận cha, mẹ của mình. Trên cơ sở đó, cha mẹ dù muốn hay không vẫn buộc phải thực hiện nghĩa vụ của mình đối với con ruột. Nguyên tắc không phân biệt đối xử giữa các con còn được thể hiện thông qua việc đứa con ngoài giá thú được phép nhận cha, mẹ ngay cả khi họ đã chết và được thừa hưởng phần tài sản thừa kế hợp pháp từ người đã chết (nếu có).

5. Biểu hiện của nguyên tắc Không phân biệt đối xử giữa các con qua chế định quyền, nghĩa vụ giữa cha, mẹ và con.

Khi xây dựng chế định quyền và nghĩa vụ của cha mẹ, nhà làm luật chỉ dựa vào sự tồn tại của quan hệ cha mẹ con, không phân biệt tính chất của quan hệ đó tùy theo tính chất của mối quan hệ giữa cha và mẹ, cũng như tính chất của mối quan hệ giữa cha mẹ và con. Bởi vậy, con sinh ra từ quan hệ hôn nhân hợp pháp, từ quan hệ hôn nhân trái pháp luật, từ quan hệ chung sống như vợ chồng, thậm chí, từ các mối quan hệ khác giữa cha và mẹ, con đẻ và con nuôi, con trai và con gái,…đều được đối xử ngang nhau.

a, Không phân biệt đối xử giữa các con theo tình trạng hôn nhân của cha mẹ

Ngay tại những Điều khoản đầu tiên của chương: Quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ và con, nhà làm luật đã quy định: “Con sinh ra không phụ thuộc vào tình trạng hôn nhân của cha mẹ đều có quyền và nghĩa vụ như nhau đối với cha mẹ của mình được quy định tại Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan” (khoản 2 Điều 68 Luật HN và GĐ). Quy định này nhằm bảo đảm cho tất cả đứa trẻ sinh ra được hưởng đầy đủ các quyền đồng thời được thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ với tư cách của người con đối với cha mẹ. Quyền và nghĩa vụ ấy là như nhau đối với mọi đứa con dù cha mẹ của chúng chưa tiến tới hôn nhân, đang trong thời kỳ hôn nhân hoặc đã ly hôn.

Sau khi ly hôn, cha mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con không sống chung (Điều 110 Luật HN và GĐ). Pháp luật quy định các con đều có quyền bình đẳng với nhau trong việc được cha mẹ cấp dưỡng. Do đó, con trai, con gái, con nuôi, con đẻ, con trong thời kỳ hôn nhân và con ngoài thời kì hôn nhân…được cha mẹ cấp dưỡng như nhau. Quy định này xuất phát từ nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình “Không phân biệt đối xử giữa các con”, thể hiện tính tiến bộ của chế độ hôn nhân và gia đình xã hội chủ nghĩa so với chế độ hôn nhân và gia đình phong kiến trước đây.

Tuy nhiên, về phương diện thực hiện quyền và nghĩa vụ của cha mẹ, việc không phân biệt đối xử hay bình đẳng giữa các con phải được hiểu theo nghĩa tương đối: con không sống chung với cha mẹ dưới một mái nhà không thể đặt dưới sự kiểm soát, giám sát của cha mẹ cũng như không thể thụ hưởng việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục của cha mẹ trong cùng những điều kiện như con sống chung với cha mẹ.

b, Không phân biệt đối xử giữa con trai và con gái

Khoản 4 Điều 69 Luật HN và GĐ 2014 quy định:

Không được phân biệt đối xử với con trên cơ sở giới hoặc theo tình trạng hôn nhân của cha mẹ.

Không phân biệt đối xử với con trên cơ sở giới chính là việc cha mẹ không phân biệt đối xử giữa con trai và con gái trong gia đình. Được hiểu là trong gia đình, giữa trẻ em trai và trẻ em gái bình đẳng trong việc được chăm sóc bảo vệ quyền được sống, bình đẳng về quyền được học tập, bình đẳng trong việc thực hiện các công việc trong gia đình, bình đẳng về quyền được nghỉ ngơi, được vui chơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí phù hợp với lứa tuổi… Cha mẹ không được dựa trên những tư tưởng và suy nghĩ cổ hũ, sai lầm về vấn đề giới tính mà có những xử sự thiếu công bằng, bên trọng, bên khinh hoặc không muốn dành tình yêu thương và sự chăm sóc cho con vì lý do con sinh ra không đúng với giới tính mà cha mẹ mong muốn hay vì bất kỳ lý do khác.

Ở Việt Nam cũng như nhiều nước trên thế giới, tư tưởng trọng nam khinh nữ đã nối tiếp qua nhiều thế kỉ, nó không chỉ làm mất cân bằng giới tính, mà còn làm rối loạn xã hội lẫn an ninh trật tự của đất nước. Ngày nay, vấn đề trọng nam kinh nữ đã không còn phổ biến và gây nhức nhối như trước, nhưng vẫn tồn tại trong suy nghĩ cũng như hành động của một bộ phận người Việt Nam. Đó là tư tưởng muốn sinh con trai để nối dõi tông đường, dành nhiều tình yêu thương và sự chăm sóc hơn cho con trai vì cho rằng con gái nuôi lớn rồi cũng đi lấy chồng. Cùng rất nhiều quan niệm cổ hủ khác về vấn đề nuôi con. Phân biệt đối xử về giới trong gia đình là vấn đề cần được giải quyết để từ đó đạt được mục tiêu bình đẳng giới một cách thực chất. Chính vì vậy, pháp luật về hôn nhân và gia đình ghi nhận nguyên tắc không phân biệt đối xử giữa các con trên cơ sở giới để định hướng cho cha mẹ đến cách nuôi dạy con cái tốt nhất, không để trẻ em gái hay trẻ em trai phải chịu thiệt thòi, bất công khi bị cha mẹ phân biệt đối xử.

b, Không phân biệt đối xử giữa con nuôi và con đẻ

Pháp luật bảo vệ và ghi nhận vấn đề này tại khoản 3 Điều 68 Luật HN và GĐ 2014:

Giữa con nuôi và cha nuôi, mẹ nuôi có các quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con được quy định tại Luật này, Luật nuôi con nuôi, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

Như vậy, nếu trong một gia đình có cả con nuôi và con đẻ thì con nuôi cũng được hưởng đầy đủ các quyền và nghĩa vụ như con đẻ. Đó là quyền “được cha mẹ thương yêu, tôn trọng, thực hiện các quyền, lợi ích hợp pháp về nhân thân và tài sản theo quy định của pháp luật; được học tập và giáo dục; được phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ và đạo đức”, “quyền tự do lựa chọn nghề nghiệp, nơi cư trú, học tập, nâng cao trình độ văn hóa, chuyên môn, nghiệp vụ; tham gia hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội…” của con đã thành niên. Và “được hưởng quyền về tài sản tương xứng với công sức đóng góp vào tài sản của gia đình.”

Song song với các quyền trên là những nghĩa vụ cơ bản mà con cái phải thực hiện như “yêu quý, kính trọng, biết ơn, hiếu thảo, phụng dưỡng cha mẹ, giữ gìn danh dự, truyền thống tốt đẹp của gia đình”. Con đã thành niên “có nghĩa vụ tham gia công việc gia đình, lao động, sản xuất, tạo thu nhập nhằm bảo đảm đời sống chung của gia đình; đóng góp thu nhập vào việc đáp ứng nhu cầu của gia đình phù hợp với khả năng của mình”.

c, Không phân biệt con riêng và con chung

Dù là con riêng của người chồng hay người vợ thì khi cùng chung sống dưới một mát nhà, cha dượng, mẹ kế và con riêng đều có các quyền và nghĩa vụ giống với quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con đẻ theo quy định tại Điều 69, 70, 71 và 72 của Luật này.

Quy định trên cho thấy sự quan tâm rất lớn của luật pháp Việt Nam đối với những đứa trẻ đã trải qua các cú sốc và tổn thương tâm lý nhất định sau khi cha, mẹ ruột của chúng ly hôn hoặc khi một trong hai người không may qua đời và người còn lại tái hôn. Việc cha hoặc mẹ thiết lập quan hệ hôn nhân với người mới sẽ dẫn tới những biến đổi tâm lý của những đứa trẻ này, có thể theo hướng tích cực hoặc tiêu cực. Chính vì vậy, vấn đề nuôi dạy con riêng của chồng, con riêng của vợ không phải là việc đơn giản. Cha dượng, mẹ kế cần phải đối xử bình đẳng, ngang nhau giữa con chung và con riêng của người còn lại, để tạo ra cho chúng môi trường phát triển tốt nhất. Tránh trường hợp làm tổn thương tâm lý trẻ khi dành quá nhiều tình yêu thương về một phía.

Trân trọng!