- a. Xác định cha mẹ trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo
- b. Quyền và nghũa vụ của bên mang thai hộ vì mục đích nhân đạo:
- c. Quyền và nghĩa vụ của bên nhờ mang thai hộ vì mục đích nhân đạo
- d. Giải quyết tranh chấp
- e. Xử lý hành vi vi phạm việc sinh con bằng kĩ thuật hộ trợ sinh sản mang thai hộ:
Về thủ thục đề nghị thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản mang thai hộ vì mục đích nhân đạo
Cặp vợ chồng gửi hồ sơ đề nghị thực hiện kỹ thuật mang thai hộ vì mục đích nhân đạo đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được phép thực hiện kỹ thuật này, hồ sơ gồm các tài liệu sau theo quy định tại Điều 14 Nghị định 10/2015/NĐ-CP quy định về sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo:
- Đơn đề nghị được thực hiện kỹ thuật mang thai hộ theo mẫu;
- Bản cam kết tự nguyện mang thai hộ vì mục đích nhận đạo theo mẫu;
- Bản cam đoan của người đồng ý mang thai hộ là chưa mang thai hộ lần nào;
- Bản xác nhận tình trạng chưa có con chung của vợ chồng do UBND cấp xã nơi thường trú của vợ chồng nhờ mang thai hộ xác nhận;
- Bản xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm đối với người mang thai hộ về khả năng mang thai, đáp ứng quy định đối với người nhận phôi theo quy định tại khoản 4 Điều 5 Nghị định này và đã từng sinh con;
- Bản xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm về việc người vợ có bệnh lý, nếu mang thai sẽ có nhiều nguy cơ ảnh hưởng đến sức khoẻ, tính mạng của người mẹ, thai nhi và người mẹ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản;
- Bản xác nhận của UBND cấp xã hoặc người mang thai hộ, người nhờ mang thai hộ tự mình chứng minh về mối quan hệ thân thích cùng hàng trên cơ sở các giấy tờ hộ tịch có liên quan và chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính xác thực của các giấy tờ này.
- Bản xác nhận của chồng người mang thai hộ (trường hợp người phụ nữ mang thai hộ có chồng) về việc đồng ý cho mang thai hộ;
- Bản xác nhận nội dung tư vấn về y tế của bác sỹ sản khoa;
- Bản xác nhận nội dung tư vấn về tâm lý của người có trình độ đại học chuyên khoa tâm lý trở lên;
- Bản xác nhận nội dung tư vấn về pháp luật của luật sư hoặc luật gia hoặc người trợ giúp pháp lý;
- Bản thỏa thuận về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo giữa vợ chồng nhờ mang thai hộ và bên mang thai hộ theo mẫu.
Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ theo quy định trên, cơ sở được cho phép thực hiện kỹ thuật mang thai hộ phải có kế hoạch điều trị để thực hiện kỹ thuật mang thai hộ. Trường hợp không thể thực hiện được kỹ thuật này thì phải trả lời bằng văn bản, đồng thời nêu rõ lý do
a. Xác định cha mẹ trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo
- Việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là một quan điểm mới hiện đại ngày nay. Đây là việc giúp những cặp vợ chồng không có khả năng sinh con vẫn được làm cha mẹ. Theo Điều 94. Xác định cha mẹ con trong trường hợp mang thai hộ
“con sinh ra trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là con chung của vợ chồng nhờ mang thai hộ kể từ thời điểm con được sinh ra”
- Như vậy, pháp luật cũng đã thừa nhận con sinh ra trong trường hợp mang thai hộ là con chung của vợ chồng nhờ mang thai hộ, không phải con của người mang thai hộ. Theo đó, vợ chồng người nhờ mang thai hộ là cha mẹ của con được sinh ra dù họ không trực tiếp sinh ra đứa trẻ; đồng thời, cũng có các quyền và nghĩa vụ của cha mẹ-con như trong gia đình bình thường.
b. Quyền và nghũa vụ của bên mang thai hộ vì mục đích nhân đạo:
quyền và nghĩa vụ của bên mang thai hộ vì mục đích nhân đạo được Luật hôn nhân và gia đình quy định chi tiết tại Điều 97. Cụ thể như sau:
1. Người mang thai hộ, chồng của người mang thai hộ có quyền, nghĩa vụ như cha mẹ trong việc chăm sóc sức khỏe sinh sản và chăm sóc, nuôi dưỡng con cho đến thời điểm giao đứa trẻ cho bên nhờ mang thai hộ; phải giao đứa trẻ cho bên nhờ mang thai hộ.
2. Người mang thai hộ phải tuân thủ quy định về thăm khám, các quy trình sàng lọc để phát hiện, điều trị các bất thường, dị tật của bào thai theo quy định của Bộ Y tế.
3. Người mang thai hộ được hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về lao động và bảo hiểm xã hội cho đến thời điểm giao đứa trẻ cho bên nhờ mang thai hộ. Trong trường hợp kể từ ngày sinh đến thời điểm giao đứa trẻ mà thời gian hưởng chế độ thai sản chưa đủ 60 ngày thì người mang thai hộ vẫn được hưởng chế độ thai sản cho đến khi đủ 60 ngày. Việc sinh con do mang thai hộ không tính vào số con theo chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình
4. Bên mang thai hộ có quyền yêu cầu bên nhờ mang thai hộ thực hiện việc hỗ trợ, chăm sóc sức khỏe sinh sản.
Trong trường hợp vì lý do tính mạng, sức khỏe của mình hoặc sự phát triển của thai nhi, người mang thai hộ có quyền quyết định về số lượng bào thai, việc tiếp tục hay không tiếp tục mang thai phù hợp với quy định của pháp luật về chăm sóc sức khỏe sinh sản và sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản.
5. Trong trường hợp bên nhờ mang thai hộ từ chối nhận con thì bên mang thai hộ có quyền yêu cầu Tòa án buộc bên nhờ mang thai hộ nhận con.
c. Quyền và nghĩa vụ của bên nhờ mang thai hộ vì mục đích nhân đạo
Theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình 2014 thì quyền và nghĩa vụ của bên nhờ mang thai hộ là:
- Bên nhờ mang thai hộ có nghĩa vụ chi trả các chi phí thực tế để bảo đảm việc chăm sóc sức khỏe sinh sản theo quy định của Bộ Y tế.
- Quyền, nghĩa vụ của bên nhờ mang thai hộ vì mục đích nhân đạo đối với con phát sinh kể từ thời điểm con được sinh ra. Người mẹ nhờ mang thai hộ được hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về lao động và bảo hiểm xã hội từ thời điểm nhận con cho đến khi con đủ 06 tháng tuổi.
-Bên nhờ mang thai hộ không được từ chối nhận con. Trong trường hợp bên nhờ mang thai hộ chậm nhận con hoặc vi phạm nghĩa vụ về nuôi dưỡng, chăm sóc con thì phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con theo quy định của Luật này và bị xử lý theo quy định của pháp luật có liên quan; nếu gây thiệt hại cho bên mang thai hộ thì phải bồi thường. Trong trường hợp bên nhờ mang thai hộ chết thì con được hưởng thừa kế theo quy định của pháp luật đối với di sản của bên nhờ mang thai hộ.
- Giữa con sinh ra từ việc mang thai hộ với các thành viên khác của gia đình bên nhờ mang thai hộ có các quyền, nghĩa vụ theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và luật khác có liên quan.
- Trong trường hợp bên mang thai hộ từ chối giao con thì bên nhờ mang thai hộ có quyền yêu cầu Tòa án buộc bên mang thai hộ giao con.
d. Giải quyết tranh chấp
Về giải quyết tranh chấp liên quan đến việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, mang thai hộ vì mục đích nhân đạo
Theo điều 99 luật HNGĐ 2015 quy định
- Tòa án là cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp về sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, mang thai hộ.
- Trong trường hợp chưa giao đứa trẻ mà cả hai vợ chồng bên nhờ mang thai hộ chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự thì bên mang thai hộ có quyền nhận nuôi đứa trẻ nếu bên mang thai hộ không nhận nuôi đứa trẻ thì việc giám hộ và cấp dưỡng đối với đứa trẻ được thực hiện theo quy định của Luật này và Bộ luật dân sự."
Theo khoản 1 trên thì Tòa án là cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp về sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, mang thai hộ. Ví dụ như khi bên mang thai hộ và bên nhờ mang thai hộ có tranh chấp về việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 97, 98 Luật hôn nhân và gia đình 2014, như bên nhờ mang thai hộ không thực hiện nghĩa vụ chi trả các chi phí thực tế để bảo đảm việc chăm sóc sức khỏe sinh sản, thì bên mang thai hộ có thể yêu cầu Tòa Án có thẩm quyền giải quyết, Tòa Án có thẩm quyền giải quyết ở đây sẽ là tòa án nhân dân cấp huyện hoặc tòa án nhân dân cấp tỉnh nếu có yếu tố nước ngoài theo quy định tại bộ luật tố tụng dân sự 2011.
Theo quy định tại Khoản 2 thì khi đứa trẻ được sinh ra và chưa được giao mà cả hai vợ chồng bên nhờ mang thai hộ chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự thì bên mang thai hộ có quyền nhận nuôi đứa trẻ. Trường hợp nếu bên mang thai hộ không nhận nuôi đứa trẻ thì việc giám hộ và cấp dưỡng đối với đứa trẻ được thực hiện theo quy định của Luật này và Bộ luật dân sự:
- Giám hộ theo quy định của bộ luật dân sự thì được quy định như sau:
"Điều 60. Điều kiện của cá nhân làm người giám hộ
Cá nhân có đủ các điều kiện sau đây có thể làm người giám hộ:
1. Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;
2. Có tư cách đạo đức tốt; không phải là người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc người bị kết án nhưng chưa được xoá án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản của người khác;
3. Có điều kiện cần thiết bảo đảm thực hiện việc giám hộ.
Điều 61. Người giám hộ đương nhiên của người chưa thành niên
Người giám hộ đương nhiên của người chưa thành niên mà không còn cả cha và mẹ, không xác định được cha, mẹ hoặc cả cha và mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, bị Toà án hạn chế quyền của cha, mẹ hoặc cha, mẹ không có điều kiện chăm sóc, giáo dục người chưa thành niên đó và nếu cha, mẹ có yêu cầu, được xác định như sau:
1. Trong trường hợp anh ruột, chị ruột không có thoả thuận khác thì anh cả hoặc chị cả là người giám hộ của em chưa thành niên; nếu anh cả hoặc chị cả không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì anh, chị tiếp theo là người giám hộ;
2. Trong trường hợp không có anh ruột, chị ruột hoặc anh ruột, chị ruột không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại là người giám hộ; nếu không có ai trong số những người thân thích này có đủ điều kiện làm người giám hộ thì bác, chú, cậu, cô, dì là người giám hộ."
Theo đó khi cả hai vợ chồng bên nhờ mang thai hộ chết và người mang thai hộ không nhận nuôi đứa trẻ thì bố mẹ của bên nhờ mang thai hộ sẽ là giám hộ đương nhiên của đứa trẻ, nếu không còn ông bà nội ngoại thì bác, chú, cậu, cô, dì là người giám hộ.
Trường hơp không có người giám hộ đương nhiên thì Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi cư trú của người được giám hộ có trách nhiệm cử người giám hộ hoặc đề nghị một tổ chức đảm nhận việc giám hộ
Điều 63. Cử người giám hộ
Trong trường hợp người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự không có người giám hộ đương nhiên theo quy định tại Điều 61 và Điều 62 của Bộ luật này thì Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi cư trú của người được giám hộ có trách nhiệm cử người giám hộ hoặc đề nghị một tổ chức đảm nhận việc giám hộ.
e. Xử lý hành vi vi phạm việc sinh con bằng kĩ thuật hộ trợ sinh sản mang thai hộ:
Điều 100 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định: “Các bên trong quan hệ sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, mang thai hộ vi phạm điều kiện, quyền, nghĩa vụ được quy định tại Luật này thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý theo trách nhiệm dân sự, hành chính, hình sự.”
- Hiện nay chưa có một văn bản nào hướng dẫn cụ thể điều 100 trong Luật Hôn nhân và gia đình. Mặc dù có dẫn chiếu tới việc vi phạm điều kiện về việc mang thai hộ sẽ bị xử lý trách nhiệm dân sự, hành chính, hình sự tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm. Tuy nhiên ở Bộ luật dân sự, Luật hành chính chưa có một quy định nào liên quan tới chế tài xử lý hành vi vi phạm về mang thai hộ. Ở Bộ luật hình sự 2015 duy nhất chỉ có một điều quy định về tội tổ chức mang thai hồ vì mục đích thương mại.
- Việc không có một quy định cụ thể nào về chế tài xử ký hành vi vi phạm về mang thai hộ, làm cho các cơ quan có thẩm quyền khó khăn trong việc áp dụng luật. Đây có lẽ là một bất cập lớn trong Luật Hôn nhân và gia đình cũng như trong Nghị định 10/2015 NĐ-CP quy định về sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo.