1. Phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ

Biện pháp phong tỏa tài khoản  là biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự được chấp hành viên áp dụng trong trường hợp người phải thi hành án phải thi hành nghĩa vụ trả tiền và họ có tiền gửi tại ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng khác. Việc áp dụng biện pháp này, nhằm cô lập tài khoản, đặt tài khoản của người phải thi hành án trong tình trạng bị phong tỏa, ngăn chặn việc sử dụng, tẩu tán tiền trong tài khoản. Biện pháp này cũng là cơ sở để áp dụng biện pháp cưỡng chế khấu trừ tiền trong tài khoản khi phải áp dụng biện pháp cưỡng chế.

Theo quy định tại Điều 67 Luật Thi hành án dân sự 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014), quy định về phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ thì:

  • Biện pháp phong tỏa tài khoản, tài sản nơi gửi giữ được áp dụng trong trường hợp người phải thi hành án có tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ.
  • Trong quyết định phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ, cần xác định rõ số tiền trong tài khoản và tài sản bị phong tỏa. Sau khi có quyết định, Chấp hành viên gửi cho cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lí cái tài khoản và tài sản của người phải thi hành án để họ chấp hành nghiêm theo quyết định đó.

Trong trường hợp khẩn cấp thì Chấp hành viên có thể lập biên bản phong tỏa yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lí tài khoản, tài sản của người phải thi hành án phong tỏa trước và bổ sung quyết định phong tỏa tài khoản, tài sản sau.

Thời hạn áp dụng biện pháp này là 10 ngày, kể từ ngày ra quyết định. Sau thời hạn này, Chấp hành viên phải đưa ra một trong hai quyết định: áp dụng biện pháp cưỡng chế, tiến hành cưỡng chế theo quy định hoặc ra quyết định chấm dứt việc phong tỏa tài khoản, tài sản.

 

2. Một số vướng mắc trong việc áp dụng biện pháp này

Các cơ quan, tổ chức quản lý tài khoản, tài sản của người thi hành án thiếu sự hợp tác, lo sợ mất uy tín, mất khách hàng, thậm chí còn tạo điều kiện cho khách hàng chuyển tiền ra khỏi tài khoản => gây khó khăn cho công tác phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ.

  • Cần có quy định cụ thể hơn nữa về trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức quản lý tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ.
  • Trong quá trình phong tỏa tài khoản, Chấp hành viên cũng gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình thu thập thông tin tài khoản. Thông tin về tài khoản của người phải thi hành án có rất nhiều nguốn nên rất khó thu thập hết. Trên thực tế, có rất nhiều trường hợp, do thu thập thiếu thông tin hoặc thông tin không chính xác, đầy đủ; Chấp hành viên ra quyết định phong tỏa không đúng đối tượng, gây ra thiệt hại lớn.
  • Cần nâng cao trình độ chuyên môn của Chấp hành viên, đặc biệt trong lĩnh vực thu thập thông tin nguồn tài khoản.
  • Trong trường hợp, tài sản bị yêu cầu phong tỏa là tài sản không thể phân chia được và tài sản này có giá trị lớn hơn nghĩa vụ tài sản mà người phải thi hành án phải thực hiện; mặc dù yêu cầu phong tỏa là có căn cứ, thậm chí có dấu hiệu tẩu tán tài sản nhưng cũng không thể áp dụng biện pháp phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ. Trên thực tế, có nhiều trường hợp người phải thi hành án chỉ có một tài sản mà tài sản đó lại không thể phân chia và có giá trị lớn hơn nghĩa vụ tài sản, thì người phải thi hành án thường tẩu tán tài sản, dẫn đến tình trạng không có tài sản để thi hành án.
  • Để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người được thi hành án, cần có quy định cụ thể về việc phong tỏa đối với tài sản có giá trị lớn hơn nghĩa vụ tài sản và không thể phân chia của người phải thi hành án.

 

3. Tạm giữ giấy tờ, tài sản của đương sự

Tạm giữ tài sản của đương sự là biện pháp bảo đảm thi hành án được tiến hành trên các động sản phải đăng kí quyền sở hữu, giấy tờ có giá hoặc bất động sản của người phải thi hành án; đặt những tài sản, những giấy tờ này trong tình trạng bị hạn chế quyền sử dụng, định đoạt nhằm ngăn chặn việc người thi hành án tẩu tán, hủy hoại tài sản để trốn tránh việc thi hành án.

Theo quy định tại Điều 68. Luật Thi hành án dân sự 2008 (sửa đối, bổ sung năm 2014), quy định về tạm giữ tài sản, giấy tờ của đương sự:

  • Người có quyền tạm giữ tài sản, giấy tờ liên quan đến việc thi hành án mà đương sự, tổ chức, cá nhân khác đang quản lí, sử dụng là: Chấp hành viên đang thực hiện nhiệm vụ thi hành án đó. Các cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan có trách nhiệm phối hợp, hỗ trợ, thực hiện yêu cầu của Chấp hành viên trong việc tạm giữ tài sản, giấy tờ.
  • Trong quyết định tạm giữ tài sản, giấy tờ cần xác định rõ loại tài sản và những loại giấy tờ bị tạm giữ. Sau khi ra quyết định, Chấp hành viên gửi quyết định đó cho đương sự hoặc tổ chức, cá nhân đang quản lí, sử dụng tài sản, giấy tờ đó để họ chấp hành theo quyết định đó.
  • Trong trường hợp khẩn cần tạm giữ ngay tài sản, giấy tờ Chấp hành viên có thể yêu cầu giao tài sản, giấy tờ và lập biên bản về việc tạm giữ và ra quyết định tạm giữ sau trong thời hạn 24h kể từ khi lập biên bản. Biên bản, quyết định tạm giữ tài sản, giấy tờ phải được gửi ngay cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp.
  • Khi tiến hành tạm giữ tài sản, giấy tờ phải lập biên bản có chữ kí của Chấp hành viên và người đang quản lý, sử dụng tài sản, giấy tờ; trường hợp người đang quản lý, sử dụng tài sản, giấy tờ không ký thì phải có chữ ký của người làm chứng. Biên bản tạm giữ tài sản, giấy tờ phải được giao cho  người quản lý, sử dụng tài sản, giấy tờ.
  • Chấp hành viên có quyền yêu cầu đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp các giấy tờ, tài liệu cần thiết để chứng minh quyền sở hữu, sử dụng; đồng thời gửi thông báo cho đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan về quyền khởi kiện của mình để yêu cầu xác định quyền sở hữu, sử dụng; đối với tài sản, giấy tờ tạm giữ.
  • Trong trường hợp cần thiết, chấp hành viên tiến hành xác minh, làm rõ hoặc có thể  yêu cầu Tòa án, cơ quan có thẩm quyền xác định người có quyền sở hữu, sử dụng đối với tài sản, giấy tờ tạm giữ.
  • Trong thời hạn 10 ngày làm việc, Chấp hành viên ra một trong hai quyết định:

+ Áp dụng biện pháp cưỡng chế nếu có căn cứ xác định tài sản, giấy tờ tạm giữ thuộc quyền sở hữu, sử dụng của người phải thi hành án

+ Ra quyết định trả lại tài sản, giấy tờ cho người sở hữu, sử dụng khi có căn cứ xác định tài sản, giấy tờ tạm giữ không thuộc quyền sở hữu, sử dụng của người phải thi hành án nhưng đã thực hiện xong nghĩa vụ của mình.

Biện pháp bảo đảm này gồm hai biện pháp là: tạm giữ tài sản và tạm giữ giấy tờ của đương sự. Tùy từng trường hợp  mà Chấp hành viên quyết định sẽ áp dụng một hay cả hai biện pháp bảo đảm

Theo quy định của pháp luật, người được thi hành án chỉ có quyền yêu cầu Chấp hành viên áp dụng biện pháp bảo đảm là tạm giữ tài sản, giấy tờ và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về yêu cầu tạm giữ tài sản của mình trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày tạm giữ

Các tài sản, giấy tờ tạm giữ là các tài sản, giấy tờ có liên quan đến việc thi hành án như: giấy đăng ký xe mô tô, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ...Trong trường hợp cần thiết, Chấp hành viên có thể yêu cầu lực lượng cảnh sát hoặc tổ chức cá nhân khác hỗ trợ việc tạm giữ  giấy tờ, tài sản của người phải thi hành án. Khi áp dụng biện pháp này, Chấp hành viên không phải xác minh tài sản, giấy tờ mà nghĩa vụ chứng minh thuộc về người phải thi hành án.

 

4. Một số vướng mắc trong việc áp dụng biện pháp này

  • Hiện nay, pháp luật quy định về việc đăng ký tài sản, công khai tài sản chưa được cụ thể nên chưa có cơ chế cung cấp thông tin công khai về đăng kí tài sản, thu thập của người phải thi hành án.
  • Cần có quy định cụ thể về việc đăng ký, công khai tài sản.
  • Không có quy định cụ thể về sự phối hợp giữa chấp hành viên với cơ quan Công an và các cơ quan khác có liên quan trong việc thực hiện biện pháp tạm giữ giấy tờ, tài sản. Nên trong thực tế, các cơ quan này đôi khi còn phối hợp hời hợt cho có, gây khó khăn cho chấp hành viên.
  • Cần có quy định cụ thể về sự phối hợp giữa Chấp hành viên với cơ quan công an và các cơ quan khác có liên quan trong việc thực hiện biện pháp tạm giữ giấy tờ, tài sản. Việc phối hợp giữa các cơ quan sẽ giúp Chấp hành viên giải quyết công việc nhanh chóng và chính xác hơn, tránh việc phong tỏa thiếu tài khoản.
  • Thời hạn thực hiện biện pháp này ngắn. Trên thực tế, song song với việc xác minh tài sản để áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án tạm giữ tài sản, giấy tờ của đương sự; thì chấp hành viên còn phối hợp với chính quyền địa phương, cơ quan hữu quan để vận động người phải thi hành án tự nguyện thi hành án. Nên việc quy định thời hạn 10 ngày áp dụng biện pháp bảo đảm này là quá ngắn, gây khó khăn cho chấp hành viên khi thi hành án.
  • Nên cân nhắc quy định kéo dài thêm thời hạn áp dụng biện pháp tạm giữ tài sản, giấy tờ của đương sự.

>> Tham khảo: Thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự

 

5. Tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản.

Tạm dừng việc đăng kí, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản là biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự được áp dụng với các động sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc bất động sản của người phải thi hành án nhằm ngăn chặn hoặc tạm dừng các hành vi của người phải thi hành án như: chuyển quyền sở hữu, sử dụng, tẩu tán, hủy hoại, thay đổi hiện trạng tài sản.

Theo quy định tại Điều 69. Luật Thi hành án dân sự 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014), quy định về việc tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản như sau:

  • Chấp hành viên ra quyết định: tạm dừng việc đăng kí; chuyển quyền sở hữu, sử dụng; thay đổi hiện trạng tài sản của người phải thi hành án và tài sản chung giữa người khác với người phải thi hành án. Chấp hành viên ra quyết định này trong trường hợp cần ngăn chặn hoặc phát hiện ra hành vi chuyển quyền sở hữu, sử dụng, tẩu tán, hủy hoại, thay đổi hiện trạng tài sản nhằm trốn tránh nghĩa vụ thi hành án của người phải thi hành án
  • Sau khi ra quyết định này, Chấp hành viên gửi ngay cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến tài sản này tạm ngưng việc đăng kí, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản có liên quan đến người phải thi hành án
  • Chấp hành viên yêu cầu đương sự, cơ quan, tổ chức cá nhân có liên quan cung cấp giấy tờ, tài liệu để chứng minh quyền sở hữu, quyền sử dụng của mình đối với tài sản đó. Đồng thời Chấp hành viên cũng gửi thông báo cho các đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan  biết  về quyền khởi kiện yêu cầu xác định quyền sở hữu, sử dụng với tài sản đó.

Trong trường hợp gặp khó khăn trong việc xác định quyền sở hữu, sử dụng tài sản để  thi hành án, giải quyết tranh chấp, Chấp hành viên có thể yêu cầu Tòa án, cơ quan có thẩm quyền xác định quyền sở hữu, sử dụng tài sản thi hành án đó; tiến hành yêu cầu hủy giấy tờ, giao dịch liên quan đến tài sản theo quy định của pháp luật

  • Trong thời hạn 10 ngày làm việc, Chấp hành viên ra quyết định:

+ Áp dụng biện pháp cưỡng chế theo quy định của Luật Thi hành án dân sự 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014), nếu có căn cứ xác định tài sản đó thuộc quyền sở hữu, sử dụng của người phải thi hành án

+ Hoặc, hủy bỏ quyết định về việc tạm dừng đăng kí, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng của tài sản, nếu có căn cứ xác định tài sản đó không phải của người phải thi hành án

Trong trường hợp, sau khi áp dụng biện pháp bảo đảm này mà hai bên đương sự thỏa thuận được với nhau về việc thi hành án thì đương sự phải thông báo ngay cho Chấp hành viên, khi chấp hành viên đồng ý, Chấp hành viên sẽ ra quyết định hủy áp dụng biện pháp này. Sau khi Chấp hành viên ra quyết định hủy bỏ biện pháp bảo đảm này thì người phải thi hành án lại có quyền chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản đó.

 

6. Một số vướng mắc trong việc áp dụng biện pháp này

  • Khi hai bên thỏa thuận được với nhau về việc thi hành án, có yêu cầu Chấp hành viên hủy áp dụng biện pháp bảo đảm này; nhưng sau đó người phải thi hành án lại chuyển quyền sở hữu, sử dụng, tẩu tán, hủy hoại, thay đổi hiện trạng của tài sản => tài sản thi hành án không còn => gây khó khăn cho Chấp hành viên
  • Không nên chấp nhận sự thỏa thuận của các đương sự sau khi đã áp dụng biện pháp bảo đảm này
  • Việc đăng kí các giao dịch, kê khai thu thập tài sản chưa thực hiện một cách nghiêm túc, triệt để nên việc quản lý, nắm bắt các thông tin về quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất và các tài sản, thu nhập khác của người phải thi hành án không thực hiện được, không có cơ sở dữ liệu cần thiết cho việc tra cứu, sử dụng khi áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự về tạm dừng việc đăng ký, chuyển dịch, thay đổi hiện trạng về tài sản.  => khó khăn cho việc thi hành án
  • Cần có hệ thống cơ sở về việc kê khai, đăng kí tài sản để sử dụng cho việc tra cứu, cung cấp thông tin về tài sản. Bên cạnh đó cũng cần có cơ chế bảo vệ bí mật tài sản cho người phải thi hành án.

Hỏi: Tại sao phải áp dụng biện pháp tạm giữ giấy tờ của đương sự?

Cần áp dụng biện pháp tạm giữ giấy tờ, tài sản của đương sự để tránh việc đương sự tẩu tán tài sản hoặc hủy hoại tài sản để không thi hành bản án.

Hỏi: Tại sao cần áp dụng biện pháp phong tỏa tài sản, tài khoản ở nơi gửi giữ?

Cần áp dụng biện pháp phong tỏa tài sản, tài khoản ở nơi gửi giữ là vì để tránh việc sử dụng hoặc tẩu tán tiền trong tài khoản.

Tham khảo thêm: Quy định về tài sản bảo đảm trong thi hành án dân sự