Khách hàng: Kính thưa Luật sư Minh Khuê, tôi muốn Luật sư giải thích rõ hơn cho tôi về cơ chế tư pháp; những vấn đề liên quan đến cơ chế tư pháp ở Việt Nam?

Cảm ơn!
Trả lời:

1. Mở đầu vấn đề

- Trên thế giới, ở các nước khác nhau thiết lập các cơ chế giải quyết khiếu nại hành chính khác nhau. Mặc dù là vậy, nhưng hầu hết các nước sử dụng hai cơ chế là: cơ chế hành chính (do các cơ quan hành chính nhà nưởc thực hiện bằng thủ tục hành chính) và cơ chê tư pháp (do cơ quan tư pháp - Toà án - thực hiện được thực hiện bằng thủ tục tố tụng).

Ngoài ra, một số nước còn giải quyết bằng cơ chế Tài phán hành chính (vấn đề này một sô' cơ quan của Việt Nam đã nghiên cứu nhiêu năm). Mỗi cơ chê đều có những đặc điểm riêng, có những ưu điểm nhưng cũng có những nhược điểm cần phải được nghiên cứu để hoàn thiện.

- Ở Việt Nam, cơ chế giải quyết khiếu nại hành chính ở Việt Nam được đặt nền móng ban đầu từ năm 1945 với việc ban hành Sắc lệnh 64 của Chính phủ về thành lập Ban Thanh tra chính phủ có thẩm quyền tiếp nhận và giải quyết các đơn thư khiếu nại của người dân.

Cho tới trước năm 1996, tức là trước khi thành lập Tòa hành chính thì cơ chế giải quyết khiếu nại ở Việt Nam là giải quyết bằng con đường hành chính. Các chủ thể có thẩm quyền trong giải quyết khiếu nại hành chính lúc này chỉ tập trung ở 2 chủ thể cơ bản nhất: thủ trưởng cơ quan hành chính; cơ quan thanh tra.

Năm 1996, với việc thành lập Tòa hành chính thì Việt Nam có thêm cơ chế thứ 2 để giải quyết các khiếu nại hành chính. Đó là cơ chế tư pháp. Như vậy, cơ chế giải quyết khiếu nại hành chính bao gồm cả cơ chế hành chính và cơ chế tư pháp.Vấn đề này có liên quan đến quan điểm cho rằng việc giải quyết bằng con đường Tòa hành chính là giải quyết khiếu kiện hành chính chứ không phải là giải quyết khiếu nại hành chính. Nhưng có lẽ, xét về bản chất thì giải quyết khiếu kiện cũng là giải quyết khiếu nại mà thôi.

Như vậy, ở Việt Nam, hiện đang tồn tại hai cơ chế giải quyết khiếu nại hành chính - cơ chế hành chính và cơ chế tư pháp. Hành lang pháp lý đế hai cơ chế này được vận hành là Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998 (sửa đổi, bổ sung năm 2004, 2005), các đạo luật chuyên ngành, Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính năm 1996 (sửa đổi, bổ sung năm 1998, 2006) và các văn bản hướng dẫn thi hành.

Việc giải quyết các vụ án hành chính theo cơ chế tố tụng được thực hiện dựa trên nhũng nguyên tắc của hoạt động tố tụng hành chính của cơ quan tư pháp, độc lập, chỉ tuân theo pháp luật. Khi xét xử các vụ án hành chính Tòa án chỉ căn cứ vào pháp luật và đánh giá tính hợp pháp của quyết định hành chính hay hành vi hành chính bị kiện, trên cơ sở đó ra các bản án, quyết định.

Chức năng xét xử hành chính được quy định trong chức năng của hệ thống Toà án nhân dân. Hệ thống toà án có chức năng xét xử các vụ án hành chính bao gồm: Toà hành chính Toà án nhân dân tối cao; Toà hành chính Toà án nhân dân cấp tỉnh; Toà án nhân dân cấp huyện có thẩm phán chuyên trách xét xử hành chính.

2. Lịch sử hình thành cơ chế giải quyết khiếu nại hành chính bằng thủ tục tư pháp ở Việt Nam

ta có thể nhận thấy, về cơ chế giải quyết khiếu nại hành chính bằng thủ tục tư pháp ở Việt Nam được hình thành khá muộn.

- Vào năm 1993, Thanh tra Nhà nước được Thủ tướng giao chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp, Ban Tổ chức - cán bộ Chính phủ, Toà án nhân dân Tối cao nghiên cứu soạn thảo Dự án Luật Tổ chức Toà án hành chính. Ngày 21/5/1996, uỷ ban Thường vụ Quốc hội thông qua Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính (sau đó được sửa đổi, bổ sung 2 lần vào ngày 25/12/1998 và ngày 5/4/2006).

- Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính là văn bản pháp lý quan trọng đánh dấu sự ra đời của cơ chế giải quyết khiếu nại hành chính bằng thủ tục tư pháp ỗ Việt Nam.

Trong quá trình phát triển của cơ chế giải quyết này, có hai thời điểm quan trọng liên quan đến hai lần sửa đổi đã nêu trên, đặc biệt là liên quan đến thẩm quyền, trình tự, thủ tục giải quyết. Điều 11 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính năm 1996 quy định Toà hành chính có thẩm quyền giải quyết 7 loại việc; Điều 11 Pháp lệnh năm 1998 ra tách thành 9 nhóm việc;

- Đến năm 2006, thẩm quyền của Toà án đã được bổ sung rất nhiều nhóm việc với 22 loại vụ việc. Qua nghiên cứu quá trình phát triển của cơ chế giải quyết các vụ án hành chính bằng thủ tục tố tụng có thể thấy rằng, thẩm quyền giải quyết của Toà án hành chính ngày càng được mở rộng.

3. Thẩm quyền giải quyết khiếu nại hành chính của Toà án

Hiện nay, thẩm quyền giải quyết khiếu nại hành chính của Toà án gồm có 22 loại việc, cụ thể như sau:

- Khiếu kiện quyết định xử phạt vi phạm hành chính;

- Khiếu kiện quyết định áp dụng các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm việc xử lý vi phạm hành chính;

- Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính trong việc áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính;

- Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính trong việc áp dụng hoặc thi hành biện pháp xử lý hành chính bằng một trong các hình thức giáo dục tại xã, phường, thị trấn; đưa vào trường giáo dưỡng; đưa vào cơ sở giáo dục; đưa vào cơ sở chữa bệnh; quản chế hành chính;

- Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vĩ hành chính đôì với việc từ chối công chứng, chứng thực;

- Khiếu kiện về danh sách cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội, danh sách cử tri bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân;

- Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính trong việc áp dụng biện pháp buộc tháo dỡ nhà ở, công trình, vật kiến trúc kiên cố khác;

- Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính trong việc trưng dụng, trưng mua, tịch thu tài sản;

- Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính trong việc cấp, thu hồi giấy phép về xây dựng cơ bản, sản xuất, kinh doanh; giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và chứng chỉ hành nghề hoặc khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính khác liên quan đến hoạt động kinh doanh, tài chính của thương nhân;

- Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính liên quan đến thương mại hàng hoá quốc tế hoặc trong nước;

- Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính liên quan đến chuyển giao tài chính trong nước và quốc tế, dịch vụ và cung ứng dịch vụ;

- Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính trong việc áp dụng thuế, thu thuế, truy thu thuế;

- Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính trong việc áp dụng phí, thu phí, lệ phí; thu tiền sử dụng đất;

- Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính trong quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ;

- Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính trong quản lý nhà nưốc về đầu tư;

- Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hải quan, công chức hải quan;

- Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính về quản lý hộ tịch;

- Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính vê' quản lý đất đai trong trường hợp giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, trưng dụng đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất; bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng, tái định cư; cấp hoặc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; gia hạn thời hạn sử dụng đất;

- Khiếu kiện quyết định giải quyết khiếu nại vê' quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh;

- Khiếu kiện quyết định của Chủ tịch uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương giải quyết khiếu nại đối với quyết định của Ban chủ nhiệm, Hội đồng khen thưởng, kỷ luật của Đoàn luật sư;

- Khiếu kiện quyết định kỷ luật buộc thôi việc cán bộ, công chức giữ chức vụ từ Vụ trưởng và tương đương trở xuống;

- Các khiếu kiện khác theo quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tê mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

4. Những điểm lưu ý của cơ chế tư pháp trong giải quyết các khiếu nại hành chính ở Việt Nam

Về cơ chế tư pháp trong giải quyết các khiếu nại hành chính ở Việt Nam có một số điểm đáng chú ý, cụ thể như sau:

- Thứ nhất, Toà án là cơ quan cơ quan xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, căn cứ để Toà án đưa ra phán quyết là các quy định của pháp luật. Quá trình xét xử vụ án hành chính của Toà án không phụ thuộc vào các cơ quan hành chính. Ngoài ra, giải quyết khiếu nại hành chính tại Toà án được thực hiện bằng Hội đồng xét xử tập trung, tiến hành theo trình tự, thủ tục tư pháp, xét xử công khai. Đây là đặc điểm quan trọng bảo đảm việc giải quyết khiêu nại hành chính bằng cơ chế tố tụng có tính khách quan, vượt trội hơn hẳn so với cơ chê hành chính.

- Thứ hai, Bên cạnh ưu điểm trên, giải quyết khiêu nại hành chính bằng cơ chế tố tụng có hạn chế là các chủ thể chi sử dụng và coi như biện pháp cuôì cùng khi mà không thể tiếp tục bằng cơ chế hành chính. Điều này xuất phát từ tập quán và văn hoá ứng xử với tâm lý e ngại khi khởi kiện một vụ án cũng như mong muốn "vốt vát" từ giải quyết bằng cơ chế hành chính.

- Thứ ba, nhiều vụ, việc khiếu nại hành chính bị hạn chế khi khởi kiện ra toà. Việc quy định chưa đầy đủ các loại khiếu nại hành chính có thể giải quyết bằng cơ chế tố tụng gây khó khăn trong một số trường hợp công dân muôn lựa chọn việc giải quyết khiếu nại bằng thủ tục tư pháp.

- Thứ tư, việc giải quyết khiếu nại hành chính tại toà án được thực hiện theo trình tự, thủ tục chặt chẽ, mất nhiều thời gian giải quyết, kéo dài. Mặt khác, các bên đương sự phải tự chứng minh, người khởi kiện phải nộp án phí....nên công dân, tổ chức, doanh nghiệp sợ bị phiền hà.

- Thứ năm, việc thực hiện các bản án, quyết định của toà án đôì với các vụ kiện hành chính phải được "chuyển hoá" qua cơ quan hành chính. Trong trường hợp cơ quan hành chính không nghiêm túc thực hiện thì biện pháp cưỡng chế sẽ gặp khó khăn.

- Thứ sáu, đội ngũ thẩm phán hiện còn thiếu, chưa kể một số thẩm phán còn hạn chế về kiến thức quản lý nhà nưốc nên khi thụ lý và giải quyết vụ kiện hành chính tại Toà án.

5. Mối quan hệ giữa cơ chế hành chính và cơ chế tư pháp

Với hai cơ chế giải quyết khiếu nại hành chính là cơ chế hành chính và cơ chế tư pháp – hai cơ chế đây có quan hệ chặt chẽ với nhau.

Theo quy định pháp luật hiện hành, việc giải quyết khiếu nại hành chính bằng cơ chế tư pháp phải được thực hiện qua "ít nhất một bước trung chuyển" tại cơ quan hành chính. Toà án chỉ thụ lý giải quyết vụ án trong phạm vi các loại việc đã nêu và đã được giải quyết (ít nhất là lần đầu) tại cơ quan hành chính.

Trên đây là nội dung Luật Minh Khuê sưu tầm và biên soạn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Luật Minh Khuê (Sưu tầm và Biên soạn).